MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU..................................................................................................4
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC
PHẨM...............................................................................................................7
1.1 Thực phẩm và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm..................................7
1.1.1 Thực phẩm.........................................................................................7
1.1.2 Vệ sinh an toàn thực phẩm................................................................8
1.1.3 Tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm....................9
1.2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm.........11
1.2.1 Khái niệm........................................................................................11
1.2.2 Các dấu hiệu của vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an
toàn thực phẩm.................................................................................................12
1.2.3 Các dạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực
phẩm.................................................................................................................13
1.2.4 Cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh
an toàn thực phẩm............................................................................................14
1.2.5 Phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm trong lĩnh vực vệ sinh
an toàn thực phẩm............................................................................................20
1.3 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực
phẩm................................................................................................................21
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm.......................................................................21
1.3.1.1 Khái niệm.............................................................................21
1.3.1.2 Đặc điểm...............................................................................23
1.3.1.3 Ý nghĩa của hoạt động xử phạt.............................................24
2
..................................................................................................................62
2.3.6 Đầu tư các nguồn lực cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm........................................................63
KẾT LUẬN.....................................................................................................65
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay bên cạnh những
mặt tích cực ta còn phải đối diện với vô vàn thách thức. Các cơ quan chức
năng nước ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc quản lý nguồn thực
phẩm trong nước, thế nhưng hiện nay với sự mở cửa phát triển kinh tế một
cách nhanh chóng và mạnh mẽ, tràn ngập các nguồn thực phẩm từ bên ngoài
thâm nhập vào gây ra không ít những hệ lụy về vấn đề vệ sinh an toàn thực
phẩm, vấn đề trên làm cho công tác kiểm soát tình hình này càng trở nên khó
khăn hơn. Trong khi đó, thực phẩm và sử dụng thực phẩm là nhu cầu thiết
yếu của mọi người, mọi nhà, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời đại. Vệ sinh an toàn
thực phẩm là yếu tố cần thiết để bảo vệ sức khỏe người dân, vì thực phẩm có
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của mỗi người, tác động đến
sự phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội, ảnh hưởng đến
tuổi thọ, đến chất lượng cuộc sống và về lâu dài còn ảnh hưởng đến sự phát
triển nòi giống, dân tộc. Chính vì thế quản lý tình hình vệ sinh an toàn thực
phẩm là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nước.
Xử lý kiên quyết và triệt để những hành vi vi phạm trong lĩnh vực vệ
sinh an toàn thực phẩm bằng các biện pháp hành chính là vấn đề đặt ra hiện
nay. Đây là biện pháp hiệu quả nhằm kiểm soát và quản lý được tình hình vệ
sinh an toàn thực phẩm của đất nước. Tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng
4
sinh an toàn thực phẩm như: nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ
tục xử phạt. Từ đó phân tích thực tiễn, nêu ra những hạn chế, bất cập và đề
xuất hoàn thiện. Thực tiễn nghiên cứu của đề tài được giới hạn cụ thể là xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm gần đây. Từ thực trạng tại Thành
phố Hồ Chí Minh đưa ra những đề xuất hoàn thiện trên địa bàn này cũng như
có những đề xuất chung cho tình hình của cả nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đề tài, tác giả sử dụng phương pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó,
kết hợp với các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp,… để
hoàn thành đề tài.
5. Cơ cấu của đề tài
Đề tài gồm: Lời nói đầu, 02 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo.
Chương 1
Cơ sở lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
vệ sinh an toàn thực phẩm
Chương 2
Thực trạng và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (từ thực tiễn Thành phố Hồ
Chí Minh)
5
Dưới góc độ pháp luật, “Thực phẩm được hiểu là sản phẩm mà con
người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản.
Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược
phẩm”3. Định nghĩa ngắn gọn nêu trên của luật An toàn thực phẩm năm 2010
giúp chúng ta hình dung về thực phẩm một cách khá rõ ràng và toàn diện.
Theo đó, thực phẩm không chỉ ở dạng tươi sống mà còn ở dạng đã qua sơ chế,
chế biến, bảo quản. Với cách định nghĩa này, các cơ quan chức năng sẽ dễ
dàng hơn trong việc xác định trách nhiệm đối với các chủ thể có hành vi vi
phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm.
1.1.2 Vệ sinh an toàn thực phẩm
Hiện nay có 2 khái niệm đang được sử dụng rộng rãi: vệ sinh thực
phẩm (food hygiene) và an toàn thực phẩm (food safety).
- Vệ sinh thực phẩm:
Vệ sinh, tùy vào mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khác nhau mà “vệ sinh” được
định nghĩa theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, một cách chung nhất có
thể hiểu đơn giản “vệ sinh” là “làm sạch”.
Ví dụ: “vệ sinh nhà cửa” được hiểu là thực hiện một số biện pháp để
đạt được mục đích là làm sạch sẽ nhà cửa; “vệ sinh môi trường” là làm sạch
môi trường, làm cho môi trường không bị ô nhiễm, nhiễm bẩn,…
truy cập ngày 10 tháng 06
năm 2012
2
3
Khoản 20 điều 2 luật An toàn thực phẩm 2010
7
8
- Tầm quan trọng của VSATTP đối với sức khỏe, bệnh tật: Mọi người
trong chúng ta đều nhận thấy rằng ăn uống là một nhu cầu thiết yếu cho cuộc
sống, con người muốn sinh tồn và khỏe mạnh đều phải có một cơ chế ăn uống
hợp lý. Trước mắt, thực phẩm là một nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự
phát triển của cơ thể, bảo đảm sức khỏe cho con người, đảm bảo duy trì sự
sống của xã hội loài người. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hết sức thận trọng
bởi lẽ thực phẩm cũng đồng thời có thể là nguồn gây bệnh, nghiêm trọng hơn
nữa nó có thể tước đi mạng sống của chúng ta nếu nó không được đảm bảo vệ
sinh. Như vậy, nếu đã không đảm bảo được vệ sinh đến mức độ ảnh hưởng
đến sức khỏe, tính mạng con người thì giá trị dinh dưỡng từ thực phẩm này sẽ
trở về con số “0” và thậm chí quay ngược lại làm hại đến sức khỏe chúng ta.
Về lâu dài thực phẩm không những có tác động thường xuyên đến sức khỏe
mỗi con người mà còn ảnh hưởng đến nòi giống của dân tộc. Hiện nay, tình
hình thực phẩm không đảm bảo vệ sinh xuất hiện tràn lan làm cho người sử
dụng những loại thực phẩm này phải gánh chịu những hậu quả khó lường. Từ
những biểu hiện ngộ độc cấp tính với nhiều triệu chứng khác nhau tùy vào
mức độ không đảm bảo vệ sinh của thực phẩm. Nguy hiểm hơn nữa khi
chúng ta không phát hiện được và sử dụng nó lâu dài sẽ gây nên hiện tượng
tích lũy dần các chất độc hại ở một số cơ quan trong cơ thể, lúc này sức khỏe
con người sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng, những căn bệnh
khó chữa được phát hiện hoặc nguyên nhân này có thể gây ra các dị tật, dị
dạng cho thế hệ mai sau nếu không được khắc phục kịp thời. Mức độ ảnh
hưởng đến sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh.
- VSATTP tác động đến kinh tế xã hội: Từ những tác nhân ảnh hưởng
quan trọng đến sức khỏe, đời sống con người, VSATTP tác động lớn đến kinh
tế - xã hội của dân tộc. Nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương
thực thực phẩm là một sản phẩm mang tính chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế
phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
6
10
trong lĩnh vực VSATTP. Nhưng từ khái niệm vi phạm hành chính nói chung
và khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế nói riêng có thể nêu ra
một khái niệm về loại vi phạm hành chính này như sau: “Vi phạm hành chính
trong lĩnh vực VSATTP là những hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực VSATTP mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt hành chính”
1.2.2 Các dấu hiệu của vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an
toàn thực phẩm
Thứ nhất, có tính nguy hiểm cho xã hội: gây ra hoặc đe dọa gây ra
những thiệt hại về sức khỏe cho con người. Vi phạm hành chính trong lĩnh
vực VSATTP hiện ngày càng phổ biến, với nhiều mức độ hậu quả khác nhau,
gây nên tâm lý bất an cho người tiêu dùng, là một trong những nguyên nhân
đáng nói làm gia tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo trong nhân
dân, đẩy các bệnh viện tuyến trên vào tình trạng quá tải, đặt xã hội trước một
trạng thái mất an toàn... Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các vi
phạm hành chính trong lĩnh vực này thấp hơn tội phạm, chưa đến mức phải
truy cứu trách nhiệm hình sự, nghĩa là những thiệt hại mà chúng gây ra hoặc
đe dọa gây ra cho xã hội là chưa đáng kể.
Thứ hai, là những hành vi (bao gồm cả hành động và không hành
động) trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trên một lĩnh
vực liên quan mật thiết đến sức khỏe, tính mạng của con người – vệ sinh an
toàn thực phẩm - đồng thời còn trái với đạo đức xã hội, gây bất bình trong dư
luận.
12
gói, bảo quản có bề mặt tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm được làm bằng vật
liệu không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm;…
- Những vi phạm hành chính trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực
phẩm.
Ví dụ: Sản xuất, kinh doanh thực phẩm từ nguồn gốc động vật chưa
qua kiểm dịch động vật hoặc kiểm tra không đạt yêu cầu; Sản xuất, kinh
doanh thực phẩm có sử dụng các chất phụ gia thực phẩm, các vi chất dinh
dưỡng, các chất hỗ trợ chế biến không được phép sử dụng hoặc sử dụng
không đúng liều lượng, giới hạn quy định hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ;
…
- Những vi phạm hành chính trong quá trình vận chuyển thực phẩm.
Ví dụ: Sử dụng phương tiện bị ô nhiễm, phương tiện đã vận chuyển
chất độc hại để vận chuyển thực phẩm.
- Những vi phạm hành chính trong quá trình quảng cáo thực phẩm.
Ví dụ: Quảng cáo thực phẩm, phụ gia thực phẩm chưa công bố tiêu
chuẩn chất lượng VSATTP; thực phẩm, phụ gia kém chất lượng, không đảm
bảo vệ sinh an toàn hoặc quảng cáo khi chưa có phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng
ký quảng cáo của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc quảng cáo không đúng với
nội dung đã đăng ký hoặc không sửa đổi nội dung quảng cáo theo yêu cầu của
cơ quan y tế có thẩm quyền;…
- Những vi phạm hành chính trong quá trình tiêu thụ thực phẩm.
Ví dụ: Không thực hiện việc báo cáo khi có ngộ độc thực phẩm xảy ra
với cơ sở y tế hoặc Ủy ban nhân dân địa phương nơi gần nhất để có biện pháp
phòng ngừa và khắc phục hậu quả kịp thời; Không thực hiện đầy đủ các biện
13
chuyển, bảo quản có bề mặt tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm được làm bằng
vật liệu không bảo đảm VSATTP; Sản xuất, kinh doanh các loại nông sản có
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép; Sản xuất, sử
dụng nước đá dùng cho ăn, uống không bảo đảm tiêu chuẩn VSATTP theo
quy định của Bộ Y tế; Sản xuất, kinh doanh phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ
chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm có
nguy cơ cao, thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ, thực
phẩm có gen đã bị biến đổi nhưng chưa được cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền cho phép; Sản xuất, kinh doanh thực phẩm có sử dụng các chất
phụ gia thực phẩm, các vi chất dinh dưỡng, các chất hỗ trợ chế biến không
được phép sử dụng hoặc sử dụng không đúng liều lượng, giới hạn quy định
hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ; Sản xuất, kinh doanh thực phẩm quá hạn
sử dụng hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh…
+ Không hành động trái pháp luật: Không sử dụng dụng cụ riêng để
gắp, múc, chứa đựng các loại thực phẩm ăn ngay; Không thực hiện hoặc thực
hiện việc vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ, nơi bày bán thực phẩm không đúng
quy định của Bộ Y tế; Không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh rau an toàn theo quy
định đối với cơ sở kinh doanh rau an toàn; Không thực hiện chế độ giám sát
việc chấp hành các quy định về VSATTP đối với các bếp ăn tập thể được tổ
chức nấu tại cơ sở; Không thực hiện việc công bố tiêu chuẩn chất lượng
VSATTP đối với các thực phẩm phải công bố tiêu chuẩn chất lượng VSATTP
theo quy định của pháp luật; Không thực hiện việc báo cáo khi có ngộ độc
thực phẩm xảy ra với cơ sở y tế hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương nơi gần
nhất để có biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả kịp thời; Không thực
hiện đầy đủ các biện pháp đề phòng và xử trí kịp thời khi xảy ra ngộ độc thực
phẩm và các bệnh lây truyền qua thực phẩm..
15
16
vi phạm hành chính hiện hành và Điều 2 Nghị định 45/2005/ NĐ-CP ngày 06
tháng 04 năm 2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y
tế). Các nhóm này bao gồm:
- Cá nhân, tổ chức Việt Nam:
+ Cá nhân: Pháp luật hành chính trong lĩnh vực VSATTP không đánh
đồng năng lực chịu trách nhiệm của các cá nhân khác nhau khi cá nhân đó
thực hiện hành vi vi phạm. Tùy từng trường hợp mà cá nhân đó có thể bị xử
phạt hay không, mức xử phạt như thế nào… Tất cả phụ thuộc vào:
Một là, về độ tuổi: Độ tuổi của cá nhân vi vi phạm các quy định của
pháp luật hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm được chia thành các đối
tượng:
•
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Nhóm chủ thể này chỉ
được xem là chủ thể của vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực VSATTP khi hành vi vi phạm của nhóm chủ thể này
được thực hiện ở dạng hành vi “cố ý” và “chỉ bị phạt cảnh cáo”.
•
Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi
phạm hành chính do mình gây ra. Tuy nhiên, đối với nhóm này khi họ chưa
đến 18 tuổi thì “khi phạt tiền đối với họ thì mức tiền phạt không được quá
một phần hai mức phạt đối với người thành niên; trong trường hợp họ không
có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay”7.
Hai là, về năng lực hành vi hành chính: Năng lực hành vi hành chính
vậy pháp luật hành chính nước ta coi tổ chức cũng là chủ thể của vi phạm
hành chính. Điều này rất hợp lý trong thời điểm hiện nay. Bởi lẽ, các vụ vi
phạm lớn, gây ảnh hưởng đến diện rộng trong vấn đề VSATTP gây ra hầu
như là xuất phát từ sự vi phạm của các tổ chức.
PGS. TS. Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình luật hành chính Việt Nam – Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội-2008, Tr.271
8
9
Điểm a khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (Sửa đổi, bổ sung 2007, 2008)
18
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài: Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm
hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo
quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. Như
vậy nếu như cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh
vực VSATTP nếu không thuộc các trường hợp ngoại lệ, được miễn trừ thì
nhóm chủ thể này sẽ phải chịu trách nhiệm như công dân Việt Nam.
* Thứ tư là khách thể
Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được các
quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm xâm hại tới.
Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực VSATTP là trật tự quản lý
nhà nước trong lĩnh vực VSATTP, là sức khỏe và tính mạng của người tiêu
là thực phẩm không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn gây thiệt hại cho sức
khỏe của người tiêu dùng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”10
Thứ ba là, chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực VSATTP bao
gồm cả cá nhân và tổ chức, trong khi đó chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của Bộ luật hình sự
chỉ có thể là cá nhân.
Sự phân biệt nói trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng
hành vi vi phạm hành chính và tội phạm trong cùng một lĩnh vực, giúp các cơ
10
Khoản 1 điều 244 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 được sửa đổi bổ sung 2009
20
quan chức năng tránh được hai khuynh hướng: hình sự hóa vi phạm hành
chính và hành chính hóa các tội phạm hình sự.
1.3 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực
phẩm
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm
1.3.1.1 Khái niệm
Vi phạm hành chính là cơ sở thực tế của trách nhiệm hành chính. Nói
cách khác hệ quả tất yếu của việc thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các
biện pháp trách nhiệm hành chính phải gánh chịu. Xử phạt vi phạm hành
chính là việc truy cứu trách nhiệm hành chính đối với chủ thể vi phạm.
Trách nhiệm hành chính được hiểu là sự phản ứng tiêu cực của Nhà
nước đối với người thực hiện vi phạm hành chính, kết quả là chủ thể thực
hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về
vật chất và tinh thần so với tình trạng ban đầu của họ 11. Nói cách khác, bản
các chủ thể có thẩm quyền theo những trình tự và thủ tục luật định nhằm áp
dụng những hậu quả pháp lý bất lợi đối với các tổ chức, cá nhân cố ý hoặc vô
ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực VSATTP mà chưa
phải là tội phạm”.
1.3.1.2 Đặc điểm
Một là, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực VSATTP chỉ xảy ra
khi có hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực
VSATTP. Điều này được khẳng định tại Khoản 2 điều 3 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008): “Cá nhân, tổ
chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật quy
định” và đương nhiên các vi phạm này phải thỏa mãn các điều kiện như đã
phân tích ở trên. Điều này cho thấy nếu không có vi phạm hành chính trong
lĩnh vực VSATTP thì không đặt ra vấn đề xử phạt trong trường hợp này.
Cũng dễ hiểu, nó tương tự như cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm, của
trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ dân sự.
13
Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (sửa đổi, bổ sung 2007, 2008)
22
Hai là, việc xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng bởi các chủ thể
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói
chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực VSATTP nói riêng. Các
chủ thể có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực này bao gồm: Thanh tra chuyên
ngành, chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và các chủ thể khác theo quy định
của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ
được giao mà phát hiện các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
VSATTP (Theo quy định tại điều 45, 46, 47 Nghị định 45/2005/NĐ-CP
hành chính 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008). Cụ thể tại Khoản 1 Điều
3 Nghị định này quy định: “Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực y tế được áp dụng theo quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính”. Các nguyên tắc này được xem là tư tưởng chỉ đạo, làm
nền tảng cho việc truy cứu trách nhiệm hành chính một cách chính xác nhằm
đạt được mục đích đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính. Theo quy
định tại điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (Sửa đổi, bổ sung
2007, 2008) bao gồm các nguyên tắc như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện
kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được
tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành
chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”14
Nguyên tắc này được đặt ra trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực VSATTP nói riêng
nhằm đảm bảo đạt hiệu quả các hoạt động đấu tranh phòng chống vi phạm
hành chính. Nhất là trong lĩnh vực VSATTP – một lĩnh vực ảnh hưởng quan
14
Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (Sửa đổi, bổ sung 2007, 2008)
24
trọng đến sức khỏe, tính mạng con người khi xảy ra vi phạm. Điều này đòi
hỏi các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải thực hiện một cách nhanh
chóng, công minh, triệt để trong việc phát hiện và xử lý hành vi vi phạm. Bên
cạnh đó, để đảm bảo rằng hậu quả của việc vi phạm hành chính trong lĩnh
vực VSATTP phải được khắc phục một cách triệt để, tuân theo những quy
định của pháp luật trong lĩnh vực này nhằm không để bất kì một hậu quả đáng
tiếc nào xảy ra. Bên cạnh đó còn đảm bảo được trật tự quản lý hành chính,