TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH SÁCH CÔNG
Đề tài:
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (từ 1986 đến nay)
Học viên :
Lớp
: Cao học XDĐ
Mở đầu
1) Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi quốc gia đa dân tộc bao giờ cũng coi trọng bảo vệ và thực hiện lợi
ích của các dân tộc thông qua Chính sách dân tộc. Chính sách dân tộc là toàn
bộ những chủ trương, biện pháp tác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống
các dân tộc nhằm đạt được những mục đích nhất định.
Trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản là Đảng duy
nhất cầm quyền, Đảng vừa có vai trò lãnh đạo Nhà nước, vừa có vai trò lãnh
đạo xã hội, những chủ trương, nghị quyết của Đảng được thể chế hoá thành
các Chính sách cụ thể của Nhà nước. Nếu như Chính sách công là những
chiến lược khai thác, phân phối, sử dụng các nguồn lực cho các mục tiêu
chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia thì Chính sách dân tộc là một bộ
phận của Chính sách công, mang tính đặc thù là toàn bộ những nỗ lực của
Nhà nước, thông qua những nguyên tắc, biện pháp ứng xử, những chủ trương,
chính sách của Nhà nước đối với sự phát triển của các dân tộc, phù hợp với
nhu cầu giải quyết các vấn đề dân tộc ở mỗi thời kỳ. Chính sách dân tộc là
những chính sách mang tính tổng hợp, gắn việc phát triển, khai thác tiềm
năng, thế mạnh truyền thống của các dân tộc và vùng đồng bào trong quan hệ
hữu cơ với phát triển, khai thác tiềm năng, thế mạnh truyền thống của các
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đưa những định hướng Chính sách dân
tộc trong thời kỳ phát triển mới.
Từ những vấn đề mang tính thực tiễn và cấp bách như trên, em chọn đề
tài Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá (từ 1986 đến nay) làm đề tài tiểu luận của
mình.
2) Tình hình nghiên cứu đề tài.
Từ khi ra đời cho đến nay, Vấn đề dân tộc và Chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta luôn thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều
người, nhiều ngành nhằm xây dựng và hoạch định Chính sách dân tộc đúng
đắn cho từng thời kỳ phát triển, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu sau:
Ban Tư Tưởng Văn hoá Trung ương: Vấn đề dân tộc và Chính ách dân
tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2002.
Viện Nghiên cứu Chính sách dân tộc và Miền núi: Vấn đề dân tộc và
định hướng xây dựng Chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
Tuy nghiên cứu về Chính sách dân tộc dưới nhiều góc độ khác nhau
3
nhưng các công trình của các tác giả chỉ nghiên cứu khái quát từng lĩnh vực
nhỏ trong hệ thống Chính sách dân tộc. Đặc biệt chưa có tác giả nào đi sâu
làm rõ việc hoạch định và thực hiện Chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới,
nhất là sau Đại hội đổi mới, từ 1986 đến nay. Với đề tài tiểu luận của mình,
em sẽ đi sâu giải quyết những vấn đề đó.
3) Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Mục đích của đề tài là nghiên cứu về Chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 1986 đến
nay, đề tài đi sâu nghiên cứu tìm hiểu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự
của Đảng và Nhà nước ta từ 1896 đến nay, quá trình thực hiện Chính sách dân
tộc và những thành tựu mà Chính sách mang lại trong đời sống thực tiễn của
đồng bào các dân tộc về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục v.v…Những đánh
giá và giải pháp xây dựng Chính sách dân tộc trong thời kỳ phát triển mới.
6) ý nghĩa của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
ta từ 1986 đến nay sẽ cho chúng ta có cái nhìn bao quát và toàn diện về Chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, thấy được sự phát triển trong việc
nhận thức và hoạch định Chính sách dân tộc trong thời kỳ phát triển mới.
Đồng thời, tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan đến Vấn đề dân tộc và Chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
5
NI DUNG
Chng 1:
C s lý lun v thc tin v Vn dõn tc v Chớnh sỏch
dõn tc ca ng v Nh nc ta
1.1. C s lý lun
1.1.1 Quan im ca Ch ngha Mỏc Lờnin v Vn dõn tc v
Chớnh sỏch dõn tc.
Trong tỡnh hỡnh th gii t do cnh tranh chuyn sang giai on ch
ngha quc, cc din th gii cú nhiu bin i sõu sc, cỏc nc ch ngha
quc tin hnh xõm lc cỏc nc thuc a. Lỳc ny vn dõn tc, gii
phúng dõn tc tr thnh vn núng bng. Chớnh trong lỳc ny nhng nghiờn
cu ca Lờnin v vn dõn tc ó c hon thin trờn c s ca ch ngha
Mỏc.
Ch ngha Mỏc ngghen ra i trc thi k ch ngha t bn c
đề dân tộc. Trong tác phẩm Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Lênin viết:
“Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, có hai xu hướng lịch sử
trong vấn đề dân tộc. Xu hướng thứ nhất là: Sự thức tỉnh của đời sống dân
tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi áp bức dân tộc,
việc thiết lập các quốc gia dân tộc. Xu hướng thứ hai là: Việc phát triển và
tăng cường đủ mọi thứ quan hệ giữa các dân tộc, việc xoá bỏ những hàng rào
ngăn cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư sản, của
đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học v.v… Cả hai xu
hướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản”
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, bắt đầu thời kỳ thứ hai của sự phát
triển các phong trào giải phóng, khuôn khổ của các nhà nước riêng lẻ đã trở
nên chật chội đối với chủ nghĩa tư bản. Khi trong thị trường dân tộc, quần
chúng lao động bị bần cùng hoá, không có khả năng tiêu thụ tất cả khối lượng
hàng hoá sản xuất ra, thì Anh, Pháp và một số nước tư bản khác đã đi xâm
chiếm các nước nhỏ yếu, thành lập các thuộc địa. Vấn đề dân tộc trở thành
vấn đề dân tộc thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc trở thành kẻ bóc lột các dân tộc
tàn bạo nhất. Cuộc đấu tranh của các dận tộc bị áp bức, hoà nhịp với cuộc đấu
tranh cách mạng của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc chống lại toàn bộ hệ
thống chủ nghĩa đế quốc, hình thành sự thống nhất quốc tế trong cuộc đấu
tranh chung để giải phóng khỏi ách áp bức giai cấp và áp bức dân tộc. Chính
trong những điều kiện như vậy, phát triển khẩu hiệu cách mạng của Các Mác
và Ăngghen. Lê nin đã nêu khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc
bị áp bức đoàn kết lại”.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Vấn đề
dân tộc và Chính sách dân tộc.
Với tư cách là hệ thống những luận điểm sâu sắc và toàn diện về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận động và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
7
nghĩa mà mục đích cuối cùng là thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.
Đường lối cách mạng thể hiện sự kết hợp chặt chẽ, độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội; kết hợp cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và đấu tranh
giải phóng dân tộc trong điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, đưa cách
mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến vào quỹ đạo của cách mạng vô
8
sản. Có như vậy mới thực hiện được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và giải phóng con người Việt Nam.
Để thực hiện được cuộc cách mạng như thế, Hồ Chí Minh chủ trương
giáo dục, đánh thức ý thức dân tộc, xoá bỏ hiềm khích, thành kiến giữa các
dân tộc do thực dân, phong kiến gieo rắc, thực hiện sự đoàn kết các dân tộc: “
Là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với
những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ.
Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ
vang và các dân tộc xoá bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng
nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”.
Thứ hai, Chính sách dân tộc phải hướng tới thực hiện sự bình đẳng,
giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về cương lĩnh dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng nước ta là một nước
thống nhất gồm nhiều dân tộc. Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực
hiện sự bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa
xã hội. Theo Người, làm cách mạng giành độc lập dân tộc mà độc lập rồi dân
cứ đói, rét, chỉ một số người được hưởng hạnh phúc, đồng bào các dân tộc
thiểu số ở vùng sâu, vùng xa vẫn nghèo khổ, bệnh tật, chưa xoá xong nạn mù
chữ thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì. Bởi vậy các dân tộc miền núi cũng như
đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, cùng tiến lên chủ
• Các quan điểm cơ bản
Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hoạch định Chính sách dân tộc đã
căn cứ trên một hệ thống các quan điểm tư tưởng cơ bản về Vấn đề dân tộc và
yêu cầu của Chính sách dân tộc với các nội dung sau đây:
Giải quyết Vấn đề dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh; thực hiện dân chủ tự do cho các dân tộc; phát huy truyền
thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Thực hiện Chính sách dân tộc là nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể,
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ sao cho phù hợp như:
nắm thực trạng tình hình dân tộc từng vùng, từng địa phương; nắm tâm tư
nguyện vọng của đồng bào các dân tộc; hiểu biết về phong tục tập quán, điều
kiện môi trường tự nhiên, xã hội của đồng bào các dân tộc sinh sống; đề xuất,
thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung Chính sách dân tộc; tổ chức bộ máy
làm cho công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương sao cho hiệu quả.
Thực hiện Chính sách dân tộc là quán triệt và thực hiện chính sách phát
triển kinh tế, chính sách xã hội kết hợp với an ninh quốc phòng. Để thực hiện
Chính sách dân tộc theo nội dung trên cần quán triệt quan điểm, phương pháp
luận trong một quy trình: nắm thực trạng để thấy được nhu cầu, và từ đó rút ra
được bản chất, yêu cầu của vấn đề, để hoạch định nội dung Chính sách dân
tộc, đồng thời cũng thấy được tính phức tạp, lâu dài của Chính sách dân tộc.
Nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện Chính sách dân tộc ở Việt Nam là căn cứ
vào đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, văn hoá của các dân tộc và của từng
vùng đồng bào dân tộc sinh sống:
• Các nguyên tắc cơ bản
Trên cơ sở quán triệt cương lĩnh về dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin,
ngay sau khi ra đời Đảng ta đã xây dựng những nguyên tắc cơ bản cho vấn đề
dân tộc, đó là: Bình đẳng giữa các dân tộc, Đoàn kết giữa các dân tộc, Tương
trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Các nguyên tắc cơ bản là những cơ sở
vật lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo nên sức mạnh vật chất to lớn
đánh thắng các thế lực ngoại xâm hùng mạnh của thời đại và đang tiến hành
công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những thành công quan
trọng bước đầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đồng bào, chiến sỹ, cán bộ, đảng
viên phải nêu cao tinh thần đoàn kết mọi lúc, mọi nơi trong quá trình thực
hiện các nhiệm vụ chính trị: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công,
thành công, đại thành công”. Đoàn kết với vị trí, vai trò lịch sử và hiện tại của
nó là nguyên tắc quan trọng trong quá trình hoạch định và thực hiện chính
13
sách dân tộc. Có thể nói, điều đó cũng chính là yếu tố tạo nên tính đặc thù của
Chính sách dân tộc ở nước ta trong thời gian qua, hiện nay cũng như về sau.
Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc: Nguyên tắc này ra đời
trong điều kiện các thành phần tộc người ở nước ta vừa nhiều, vừa phát triển
không đồng đều trên nhiều bình diện, nới nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan khác nhau. Từ những lý do lịch sử, các thành phần tộc người ở
nước ta có những trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, cư trú sinh
sống có nơi thuận lợi, có nơi lại rất nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế
(trồng trọt, chăn nuôi…), phát triển hạ tầng. Mặt khác, do đặc điểm lịch sử
nên ở nước ta tiến trình dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Sự nghiệp đấu
tranh giành độc lập để xây dựng, phát triển đất nước không chỉ hao người tốn
của mà còn là nguyên nhân thường xuyên và quan trọng kéo chậm nhịp độ
phát triển của quốc gia và của các tộc người.
Các yếu tố trên tác động và chi phối sâu sắc đến chiến lược hoạch định
và thực hiện Chính sách dân tộc ở nước ta. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng
phát triển trong bối cảnh đó không chỉ là nguyên tắc mà còn là quy luật tất
yếu trong chính sách, chiến lược phát triển của dân tộc Việt Nam và của các
thành phần tộc người trong quốc gia. Chính sách dân tộc nếu không quán triệt
trung đề ra nhiều chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc
và miền núi. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới,
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá tập trung vào các lĩnh vực cơ bản
sau:
2.1.1. Chính sách dân tộc về phát triển kinh tế.
Chính sách dân tộc thể hiện các chủ trương chính sách của và Nhà nước
về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi
nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương và từng bước khắc phục
sự chênh lệch giữa các vùng, miền và góp phần vào sự phát triển chung của
đất nước. Các chính sách đó là: hỗ trợ và phát triển khoa học kỹ thuật, đổi
mới cơ cấu kinh tế định canh, định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao đất, giao
rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế
15
trang trại, kinh tế hợp tác xã dưới mọi hình thức và mức độ, gắn với quá trình
chuyển giao công nghệ tiên tiến, bồi dưỡng nghiệp vụ… nhằm thúc đẩy quá
trình chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi
với những kết quả và hạn chế Bộ chính trị đã ra Nghị quyết quan trọng số 22
– NQ/TW ngày 27/12/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển
kinh tế - xã hội miền núi. Đây là một Nghị quyết quan trọng chi phối cơ bản
chính sách, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tạo nên nét mới trong quốc
sách phát triển vùng miền núi, dân tộc thiểu số so với các chính sách trước đó.
Trên cơ sở đánh giá, phân tích tình hình kinh tế - xã hội, chính sách thời gian
trước năm 1989, đặc biệt là những tồn tại về tình hình kinh tế - xã hội miền
núi, Bộ chính trị đã chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu là về nhận thức chưa sâu
sắc vị trí, điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội; còn nhiều sai lầm trong công tác
xây dựng quan hệ sản xuất; phương thức đào tạo, sử dụng cán bộ tại chỗ, cán
ổn định, vững chắc, đó cũng là tiền đề để Đảng và Nhà nước ta thực hiện tốt
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời kỳ đổi mới
2.1.3. Chính sách dân tộc trên lĩnh vực giáo dục – đào tạo.
Đảng và Nhà nước tập trung chỉ đạo ưu tiên phát triển giáo dục - đào
tạo và coi trọng hoạt động công tác đào tạo cán bộ và đội ngũ cán bộ tri thức
người dân tộc thiểu số. Vấn đề và chính sách giáo dục đối với vùng dân tộc
thiểu số được tập trung vào thực hiện nhiệm vụ cơ bản nhằm nâng cao dân trí
thông qua hoạt động xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học cho thanh niên và
cán bộ cơ sở. Nhà nước tăng cường vốn đầu tư cho các trường học, xây dựng
các trường phổ thông dân tộc nội trú, có chế độ đãi ngộ đối với giáo viên và
học sinh miền núi nhằm thu hút con em đồng bào vùng dân tộc đi học. Thực
hiện chủ trương đó, Chính phủ đã ra Quyết định số 253 – CP ngày 7/7/1990
về bổ sung quỹ học bổng học sinh, sinh viên các trường sư phạm và học sinh,
sinh viên miền núi. Chỉ thị của Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng số 287 – CT
ngày 4/8/1992 về một số vấn đề cấp bách trong công tác giáo dục – đào tạo.
Quyết định số 19 – TTg ngày 19/1/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc
đầu tư cho hệ thống trường lớp đào tạo con em dân tộc trong quân đội. Ngoài
ra, hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng, trường dạy nghề ở khu vực miền
núi được Đảng và Nhà nước quan tâm và củng cố, hình thành bốn trung tâm
Đại học khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng Sông Cửu
Long. Chính sách cử tuyển trong giáo dục – đào tạo đã tạo điều kiện cho con
em vùng dân tộc khó khăn được tiếp tục đi học. Nhờ có chính sách này mà
nhiều dân tộc thiểu số đã xây dựng được đội ngũ tri thức có trình độ Đại học,
trên Đại học và trở thành đội ngũ cán bộ cốt cán của Đảng.
17
2.1.4 Chính sách dân tộc trên lĩnh vực y tế.
Các chính sách y tế trong giai đoạn mới được tập trung vào một số nội
động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục ). Các chính sách văn hoá thông tin trong
18
thời kỳ đổi mới đất nước, tập trung vào các vấn đề đầu tư kinh phí xây dựng
các trạm tiếp sóng Đài tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, thực
hiện chương trình phủ sóng vùng lõm, tăng cường các phương tiện thông tin
đại chúng; thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc, ưu
tiên kinh phí cho các hoạt động văn nghệ truyền thống, tăng cường sự giao
lưu văn hoá giữa các dân tộc trong nước và quốc tế.
2.2. Thực trạng thực hiện Chính sách dân tộc qua 20 năm đổi mới ở
nước ta
2.2.1 Quá trình thực hiện Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
Quá trình thực hiện nhất quán Chính sách dân tộc trong công cuộc đổi
mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã phát huy
được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần đưa nước ta
vượt qua những thử thách cam go và đạt được những thành tựu nổi bật. Trong
quá trình thực hiện Chính sách dân tộc, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ
trương, biện pháp, bước đi phù hợp đối với từng lĩnh vực cụ thể để thực hiện
tốt toàn diện Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Để triển khai cụ
thể các nội dung Nghị quyết 22 – NQ/TW ngày 27/12/1989 của Bộ Chính trị,
Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành quyết định số 72 – HĐBT ngày 13/3/1990
về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Thời
kỳ này, nhiều chính sách đã tập trung vào giải quyết các vấn đề xác định
quyền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của đồng bào các dân tộc
thông qua giao đất, giao rừng, khắc phục tranh chấp đất đai, định canh, định
cư, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Mặt khác, từng bước chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy trao đổi
hàng hoá giữa các vùng, điều chỉnh quan hệ sản xuất và cơ chế quản lý, phát
phối lưu thông, xây dựng kết cấu hạ tầng, ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ
thuật, xây dựng nông thôn mới. Giải quyết hợp tình hợp lý vấn đề đất đai, tạo
quỹ đất đai để khắc phục tình trạng đồng bào thiếu đất canh tác, phá thế độc
canh cây lúa. Ở nơi còn đất đai thì thực hiện chính sách khuyến khích để giãn
dân, xây dựng vùng kinh tế mới. Có chính sách đầu tư thích đáng cho thuỷ
lợi, giao thông, trước hết ở những vùng có nhiều khó khăn. Cần có chính sách
miễn hoặc giảm thuế, xoá nợ, ưu đãi về giá bán những mặt hàng thiết yếu
như dầu thắp sáng, vải mặc, thuốc chữa bệnh. Về văn hoá, xã hội: Đi đôi với
củng cố và phát triển các ngành học phổ thông, mẫu giáo, bổ túc văn hoá, cần
củng cố và phát triển các loại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường thanh
niên dân tộc ở các huyện, tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khơme, Chăm . Mở
trường tạo nguồn đào tạo cán bộ các dân tộc thiểu số, nghiên cứu cấp học
bổng cho những học sinh dân tộc thuộc diện chính sách và học giỏi ở tất cả
các cấp học, ngành học. Có kế hoạch xoá nạn mù chữ và mù chữ trở lại. Có
kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hoá dân tộc; xây dựng nhà
20
truyền thống và một số trung tâm văn hoá tiêu biểu của đồng bào dân tộc. Đẩy
mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh và xây dựng nếp sống mới, bài trừ mê
tín dị đoan và những phong tục tập quán lạc hậu. Về an ninh chính tr:. Thực
hiện tăng cường giáo dục, nâng cao giác ngộ chính trị cho cán bộ và đồng bào
dân tộc, quán triệt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước, chấp hành luật pháp của Nhà nước, tăng cường đoàn kết dân tộc, hăng
hái góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đi đôi
với việc phổ biến tình hình thời sự trong nước và thế giới, tuyên truyền quyền
lợi và nghĩa vụ công dân, cần tổ chức đấu tranh chống những âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề lịch sử, vấn đề dân tộc và tôn
giáo và những sai sót của cán bộ hòng xuyên tạc, gây chia rẽ, kích động hằn
định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng lòng hồ Sông Đà theo quyết định
số 747/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ tiến hành các hoạt động trồng
rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, chuyển dời dân, mua sắm lưới đánh
bắt cá, xây dựng trường học, trạm y tế, đường ô- tô liên thôn, xã, nước sinh
hoạt, điện lưới v.v… nhằm ổn định dân cư và phát triển kinh tế - xã hội vùng
chuyển dân.
Trên lĩnh vực giáo dục- đào tạo, công tác thực hiện chính sách ưu tiên
trong tuyển sinh, trợ cấp học bổng đối với học sinh người dân tộc thiểu số vào
học các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề được
Đảng và Chính phủ chú trọng. Với chính sách cử tuyển đã Nhà nước đã đào
tạo được hàng ngàn học sinh các dân tộc có trình độ đại học, bố trí công tác ở
nhiều cơ quan Trung ương và địa phương. Nhà nước có chính sách miễn học
phí, cho mượn sách giáo khoa, cấp không vở viết, giấy viết cho con em đồng
bào dân tộc thiểu số và con em đồng bào Kinh lên lập nghiệp tại miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới mà đời sống còn nhiều khó khăn cũng như
có chế độ phụ cấp cho giáo viên vùng dân tộc và miền núi. Tuy nhiên, quá
trình thực hiện chính sách giáo dục và tình hình giáo dục vùng dân tộc thiểu
số cũng còn những bất cập và hạn chế nhất định trong việc tạo nguồn đào tạo,
chất lượng giáo dục và chống mù chữ còn thấp, cơ sở vật chất và đoàn kết cho
giáo dục nhiều vùng còn khó khăn, chính sách cử tuyển và sử dụng cán bộ sau
đào tạo còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện và khắc phục trong thời gian tới.
Trên lĩnh vực y tế, Chính phủ thực hiện đầu tư vào các chương trình cụ
thể: Đối với Chương trình Dân số kế hoạch hoá gia đình nhà nước đã đầu tư
kinh phí cho xây dựng trạm y tế, bệnh viện, giáo dục truyền thông, từ năm
1992 đến năm 2000, vốn đầu tư cho chương trình này là 2.977 tỷ đồng, việc
giáo dục truyền thông về dân số kế hoạch hoá gia đình được tiến hành mạnh
22
phát triển mới trên nhiều lĩnh vực, nhưng xét về cơ bản vùng dân tộc nước ta
vẫn là khu vực chậm phát triển so với các vùng và khu vực khác trong cả
nước. có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó nguyên nhân cơ bản là trình độ
dân trí của đồng bào dân tộc còn thấp nên hạn chế trong việc nhận thức đường
23
lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Những hạn chế
về trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc biểu hiện: thứ nhất trình độ học
vấn thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ trong đồng bào các dân tộc chiếm tỷ lệ
khá lớn, con em người dân tộc được đi học lên cao là rất hạn chế, mặc dù Nhà
nước có chính sách cử tuyển đối với con em vùng đồng bào nhưng do trình độ
không đáp ứng được nên tỷ lệ người tốt nghiệp trình độ đại học, cao đẳng và
trên đại học là rất thấp; thứ hai, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp của đồng
bào dân tộc còn rất hạn chế, khả năng ứng dụng và vận dụng khoa học công
nghệ vào sản xuất thấp, cho nên không đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn vùng dân tộc; thứ ba, những hiểu biết về
chính trị, pháp luật của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa còn rất hạn chế, điều đó gây cản trở cho việc đấu tranh và tiến tới xoá
bỏ các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, tảo hôn, mê tín dị đoan, xử lý vi
phạm các quy định của pháp luật. Đây là những vấn đề nóng bỏng ở nhiều
tỉnh miền núi hiện nay.
• Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết các
dân tộc. Các dân tộc thiểu số Việt Nam chủ yếu cư trú ở địa bàn miền núi,
đây là nơi có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, môi
trường sinh thái. Song bên cạnh đó, khu vực miền núi là địa bàn phức tạp về
dân tộc và tôn giáo. Hơn nữa, đồng bào các dân tộc thiểu số lại hạn chế về
trình độ học vấn, trình độ nhận thức, sự hiểu biết mọi mặt đời sống xã hội,
nhất là về âm mưu “diễn biến hoà bình”.Có thể nói ở khu vực miền núi có đủ
cả 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, cư trú xen kẽ, trong đó các dân tộc thiểu
đề dân tộc, vấn đề đã gây những thiệt hại nhất định về tài sản của Nhà nước,
tính mạng của cán bộ, nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đến công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân các dân
tộc. Vì vậy đấu tranh chống âm mưu “diến biến hoà bình” bảo vệ vững chắc
an ninh trật tự vùng dân tộc, đặc biệt là vùng miền núi vừa là mục tiêu, vừa là
nhiệm vụ có tầm chiến lược.
25