Rà soát, bổ sung quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20102020 - Pdf 39

Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

MỞ ĐẦU

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi Bắc Bộ nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội. Toàn
tỉnh bao gồm 9 đơn vị hành chính là: Huyện Phú Lương, Đại Từ, Định Hoá, Võ Nhai,
Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên, Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công.
Tổng dân số năm 2009 là: 1.127.430 người. Tổng diện tích tự nhiên 352.621,50
ha. Trong đó:
- Diện tích đất sản xuất Nông nghiệp là: 99.410,69 ha (chiếm 28,2% diện tích đất
tự nhiên).
+ Diện tích đất canh tác:

59.738,54 ha.

+ Diện tích đất trồng lúa:

43.191,43 ha.

- Đất Lâm nghiệp: 171.688,31 ha (chiếm 48,69% diện tích đất tự nhiên).
Tỉnh Thái Nguyên có nền nông nghiệp khá phát triển, ngoài trồng cây lúa nước ở
các huyện Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, ngoài ra còn trồng cây công nghiệp có giá trị
kinh tế cao như cây chè ở Đại Từ và Thành phố Thái Nguyên...
Ngoài nguồn thu về nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có nền công nghiệp
đang trên đà phát triển tập trung ở một số khu vực có điều kiện thuận lợi như Thành
phố Thái Nguyên, Thị xã Sông Công.
Tới nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng được khá nhiều các công
trình thuỷ lợi phục vụ cấp, thoát nước cho Nông nghiệp, Công nghiệp, Dân sinh và

Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

cũng như nhu cầu cấp nước sạch từ hệ thống thuỷ nông cho các khu dân cư ở nông
thôn đang ngày một đòi hỏi gay gắt hơn. Yêu cầu tiêu thoát nước thải cho các làng
nghề và khu dân cư vùng nông thôn để đảm bảo sản xuất và môi trường sống cho
người dân đang trở nên cấp bách.
Nhu cầu đảm bảo chất lượng nguồn nước là đảm bảo môi trường sống, bảo đảm
sự phát triển bền vững của đất nước, đòi hỏi bắt buộc phải nghiên cứu các giải pháp
mới bổ sung về quy hoạch hệ thống cấp nước.
Trước yêu cầu phục vụ công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn hệ thống Thuỷ
lợi Thái Nguyên đã bộc lộ những tồn tại và bất cập cụ thể như sau:
- Chỉ tiêu thiết kế trước đây thấp, nhất là hệ số tưới, tiêu nên không đáp ứng được
yêu cầu tưới, tiêu nước chủ động, khoa học, phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
- Phần lớn các công trình đầu mối và kênh mương bị xuống cấp nghiêm trọng,
đến lúc cần phải nâng cấp hoặc thay thế.
- Công trình tưới, tiêu chưa hoàn chỉnh đồng bộ từ đầu mối đến mặt ruộng, nhiều
công trình bị thay đổi nhiệm vụ do yêu cầu phát triển kinh tế.
- Hiện trạng công trình thuỷ lợi chiếm đất lớn, đặc biệt là hệ thống kênh đất, cần
có giải pháp kiên cố hóa để tiết kiệm đất.
+ Tiêu thoát nước: Khu vực Thành phố Thái Nguyên, vùng phía Nam huyện Phổ
Yên còn tồn tại úng ngập, cần phải được nghiên cứu.
+ Cấp nước sinh hoạt: Hiện tại công trình cấp nước sinh hoạt chủ yếu là khai
thác phân tán như: Giếng đào, bể nước mưa... Toàn tỉnh hiện có một số hệ thống cấp
nước tập trung chủ yếu cung cấp cho các khu vực thị trấn, dân cư tập trung, chất lượng
nước phần lớn chưa được kiểm soát.
+ Phòng chống lũ: Tình trạng úng ngập khu vực Thành phố Thái Nguyên, huyện
Đồng Hỷ vẫn thường xuyên xảy ra, tình trạng lũ quét ở các huyện miền núi luôn đe
dọa đến tính mạng của nhân dân.

- Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên đến
năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số: 58/2007/QĐ-TTg
ngày 08/06/2007.
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII nhiệm kỳ
2010 - 2015.
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ văn.
- Các tài liệu về hiện trạng dân sinh kinh tế xã hội.
- Tài liệu về thực trạng hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh.
- Các mục tiêu, định hướng quy hoạch phát triển KTXH, phát triển nông nghiệp, công
nghiệp, đô thị... của tỉnh.
- Quyết định số: 1049/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2010 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc phê duyệt đề cương, nhiệm vụ dự án: “Rà soát, bổ sung Quy hoạch
thủy lợi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 đến 2020”.
- Quyết định số: 1541/QĐ-UBND ngày 6 tháng 7 năm 2010 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc phê duyệt dự toán dự án: “Rà soát, bổ sung Quy hoạch thủy lợi tỉnh
Thái Nguyên giai đoạn 2010 đến 2020”.
- Quyết định số: 1996/QĐ-UBND ngày 27 tháng 8 năm 2010 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc phê duyệt kế hoạch đấu thấu, gói thầu dự án: “Rà soát, bổ sung Quy
hoạch thủy lợi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 đến 2020”.
- Căn cứ vào hợp đồng kinh tế số: 54/HĐTV ngày 20 tháng 9 năm 2010 giữa Chi
cục Thủy lợi và PCLB tỉnh Thái Nguyên và Viện Quy hoạch Thủy lợi - Tổng Cục Thủy
lợi về việc thực hiện dự án: “Rà soát, bổ sung Quy hoạch thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2010 đến 2020”.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-3-



Đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng chạy dọc từ phía Nam lên
phía Bắc qua tỉnh Thái Nguyên, cùng với các quốc lộ 37, 1B, 279 là cửa ngõ nối Thái
Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đồng thời còn là cửa ngõ phía
Bắc qua các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng thông sang biên giới Trung Quốc. Ngoài ra còn
có tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều là mối giao lưu quan trọng giữa vùng đồng
bằng với khu công nghiệp Sông Công, khu Gang Thép và Thành phố Thái Nguyên.
Cùng vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là nơi hội tụ nền văn hoá
của các dân tộc miền núi phía Bắc, là đầu mối các hoạt động văn hoá, giáo dục của cả
vùng núi phía Bắc rộng lớn. Với 5 trường đại học hiện nay Thái Nguyên còn là trung
tâm đào tạo khoa học và giáo dục cho các tỉnh miền núi phía Bắc.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-4-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH.
Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Thái Nguyên ít bị chia cắt hơn so với các
tỉnh miền núi khác trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ. Độ cao trung bình so với
mặt biển khoảng 200 ÷ 300m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Các
dãy núi cao gồm dãy núi Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo. Đỉnh cao nhất thuộc dãy
Tam Đảo có độ cao 1.592m. Địa hình được chia thành 3 vùng:
1. Vùng địa hình vùng núi: Bao gồm nhiều dãy núi cao ở phía Bắc chạy theo
hướng Bắc Nam và Tây Bắc - Đông Nam. Dãy Tam Đảo kéo dài theo hướng Tây Bắc

Công và Thành phố Thái Nguyên và một phần phía Nam huyện Đồng Hỷ, Phú Lương.
Độ cao trung bình từ 30 - 50m, độ dốc thường dưới 100.
Với đặc điểm địa hình, địa mạo như trên nên việc canh tác, giao thông đi lại có
những khó khăn, phức tạp. Song chính sự phức tạp đó lại tạo ra đa dạng, phong phú về
chủng loại đất và điều kiện khí hậu khác nhau, cho phép phát triển cây trồng, vật nuôi
đa dạng và phong phú.
VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-5-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

Do có sự khác biệt về cấu tạo địa chất, địa hình giữa các vùng trong tỉnh nên đã hình
thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau cũng như chế độ dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm
khác nhau trên phạm vi toàn tỉnh sẽ được đề cập chi tiết trong các phần sau.
1.3. TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI, THỔ NHƯỠNG.
1. Tiềm năng đất đai.
Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 352.621,50 ha. Cơ cấu đất đai gồm các
loại sau:
- Đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200 m, hình thành do sự
phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích. Đất núi thích hợp cho việc
phát triển lâm nghiệp như trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh doanh
nhưng cũng thích hợp để trồng cây ăn quả, một phần cây lương thực cho nhân dân
vùng cao.
- Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết

đất ở các chân sườn thoải hoặc khe dốc, nên thường có độ phì khác nhau và phân tán,

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-6-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

rất phân tán trên địa bàn các huyện. Đây là loại đất rất thích hợp với trồng ngô, đậu đỗ
và các cây công nghiệp ngắn ngày.
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Diện tích 4.380 ha, chiếm 1,24% diện tích
tự nhiên. Loại đất này phân bố phân tán ở hầu khắp các thung lũng trên địa bàn các
huyện trong tỉnh, hiện đã được sử dụng trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày khác.
- Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 6.289 ha, chiếm 1,7% diện tích tự nhiên.
Phân bố tập trung ở huyện Võ Nhai và Phú Lương. Nhìn chung đây là loại đất tốt
nhưng khô, kết cấu rời rạc, thành phần cơ giới thịt trung bình, mức độ bão hoà bazơ
khá, ít chua, trên loại đất này có khoảng 70% diện tích có độ dốc dưới 20 0 thích hợp
với sản xuất nông nghiệp và sản xuất theo phương thức nông lâm kết hợp.
- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét: Diện tích 136.880 ha, chiếm 38,65% diện
tích tự nhiên, đây là loại đất có diện tích lớn nhất, phân bố tập trung thành các vùng
lớn thuộc các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hoá. Đất có thành
phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, cấu trúc dạng cục, ngập nước lâu ngày sẽ
có quá trình glây hoá mạnh. Trên loại đất này có khoảng 48,5% diện tích có độ dốc từ
8 - 250 rất thích hợp với phát triển cây chè và cây ăn quả.
- Đất đỏ nâu trên đá macma bazơ trung tính: Diện tích 22.035 ha, chiếm


-7-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

- Hệ Tura không phân chia, thành tạo trầm tích của núi lửa màu đỏ phún xuất
axit và BaZơ, sa thạch, Alơrôlit.
- Hệ Triat không phân chia: Sa thạch, diệp thạch sét, sạn kết đá vôi, phún xuất
Bazơ và axit.
- Hệ Đề Vôn các bậc Eifêli, Givêti đá vôi, diệp thạch sét sa thạch.
- Hệ Ôcdovi alơrôlit và sa thạch, đôi khi dạng dải đá vôi.
Với các đặc điểm địa chất ở vùng miền núi thường rất thuận lợi cho việc xây
dựng công trình. Tuy nhiên ở một số khu vực đá vôi, cần có khảo sát khe nứt trước khi
xây dựng công trình.
1.5. TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN.
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai
sinh khoáng Thái Bình Dương. Qua các tài liệu đánh giá kết quả điều tra, tìm kiếm và
thăm dò của các đoàn địa chất đã phát hiện được nhiều mỏ và các điểm quặng trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên. Hiện có khoảng 34 loại hình khoáng sản phân bố tập trung vào
các vùng lớn như: Phúc Hà (Thành phố Thái Nguyên), Làng Cẩm (Đại Từ), Trại Cau
(Đồng Hỷ), Thần Sa (Võ Nhai)...
Khoáng sản Thái Nguyên có thể chia thành 4 nhóm:
1. Nhóm nguyên liệu than.
Bao gồm than mỡ, than đá được phân bố tập trung ở vùng Đại Từ, Phú Lương.
Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước sau
Quảng Ninh.


BÁO CÁO TỔNG HỢP

+ Titan: Đã phát hiện được 18 mỏ và điểm quặng, phân bố chủ yếu ở phía Bắc
huyện Đại Từ. Khoáng hoá Titan với thành phần chính của quặng là Limenhit có hàm
lượng 30 - 80%. Tổng trữ lượng Titan đã thăm dò đạt xấp xỉ 18 triệu tấn.
Ngoài ra còn phát hiện được nhiều mỏ và điểm quặng mangan - sắt có hàm lượng
Mn+Fe khoảng 40 - 60%, trữ lượng thăm dò khoảng 5 triệu tấn phân bố rải rác ở nhiều nơi.
- Kim loại màu:
+ Thiếc, Vonfram: Đây là các loại khoáng sản có tiềm năng ở Thái Nguyên.
Thiếc đã tìm thấy ở 3 mỏ thuộc khu vực Đại Từ, đó là các mỏ Phục Linh, mỏ Núi
Pháo, mỏ Đá Liền. Tổng trữ lượng SNO 2 của cả 3 mỏ chính này là 36.000 tấn. Ngoài
ra còn nhiều mỏ nhỏ và điểm quặng có quy mô nhỏ phân bố rải rác ở nhiều nơi. Riêng
mỏ Vonfram ở khu vực Đá Liền được đánh giá là mỏ có quy mô lớn với trữ lượng
khoảng 28.000 tấn.
+ Chì, kẽm: Vùng Lang Hít, Thần Sa, quy mô các điểm quặng nhỏ, phân bố
không tập trung.
+ Vàng: Khu vực Thần Sa tuy nhiên vàng ở đây chỉ là vàng sa khoáng, hàm
lượng thấp chỉ vài chục miligam/tấn.
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn tìm thấy nhiều nơi có đồng, niken, thuỷ ngân... Trữ
lượng các loại khoáng sản này không lớn.
3. Khoáng sản phi kim loại.
Có Pyrit, Barit, Phôtphorit, Graphit... trong đó đáng chú ý nhất là Photphorit với
2 mỏ nhỏ và một điểm quặng ở Núi Văn, Làng Mới, La Hiên. Tổng trữ lượng đạt
khoảng 60.000 tấn.
4. Khoáng sản vật liệu xây dựng.
Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đất sét, đá
vụn, cát sỏi... trong đó sét xi măng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn, nằm ở khu vực
Cúc Đường, Khe Mo. Sét ở đây có hàm lượng chất dao động như sau: SiO 2 từ 51,9 65,9%, Al2O3 khoảng 7 - 8%, Fe2O3 khoảng 7 - 8%.
Ngoài ra còn có sét làm gạch ngói, cát dùng cho việc sản xuất thông thường, cát

- Từ xã Văn Lăng (Huyện Đồng Hỷ) về Thác Huống, đoạn này nằm trọn vẹn trên
đất Thái Nguyên, thoạt đầu dòng sông đổi hướng từ Bắc Nam sang Tây Bắc - Đông
Nam chừng được 15 km tới chỗ nhập lưu của sông Nghinh Tường vào sông Cầu thì
dòng chính lại chảy theo hướng cũ Bắc - Nam cho tới tận Thái Nguyên. Đoạn này
sông chảy qua vùng địa hình thấp, độ dốc đáy sông khoảng 0,05°⁄00. Lòng sông về mùa
cạn rộng từ 80÷100 m, hệ số uốn khúc 1,90.
- Từ hạ lưu đập Thác Huống sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Độ
cao trung bình lưu vực từ 10÷25m, độ dốc đáy sông giảm còn 0,1°⁄00. Về mùa cạn lòng
sông rộng từ 70÷150 m. Sông Cầu chảy tới chỗ nhập lưu của sông Công và sau đó
chảy ra khỏi đất của Thái Nguyên. Chiều dài sông Cầu chảy trên đất Thái Nguyên là
110 km, diện tích lưu vực xấp xỉ 3.480 km 2 (không kể lưu vực sông Công) chiếm 1/2
diện tích lưu vực sông.
2.1.2. Các phụ lưu của sông Cầu trên địa phận tỉnh Thái Nguyên.
1. Sông Chợ Chu.
Bắt nguồn từ Khao Chang (105031’10”- 21052’30”) ở độ cao 400 m, diện tích lưu
vực 437 km2 (23,5 km2 là diện tích núi đá vôi), chiều dài sông 36,5 km, nhập lưu ở
phía bờ hữu sông Cầu tại Chợ Mới (Bắc Kạn). Hầu hết diện tích lưu vực sông nằm
trên đất của huyện Định Hoá. Độ cao bình quân lưu vực 206 m, độ dốc bình quân lưu
vực 24,6°⁄00, mật độ lưới sông 1,19 và hệ số uốn khúc 1,40. Lượng mưa bình quân trên
lưu vực 1.700 mm/năm.
2. Sông Nghinh Tường.
Bắt nguồn từ Gia Lạc ở độ cao 550 m. Diện tích lưu vực 465 km 2 (có 170 km2 là
núi đá vôi), chiều dài sông 46,0 km, nhập lưu phía bờ tả sông Cầu. Độ cao bình quân
lưu vực 290 m, lưu vực sông thuộc đất huyện Võ Nhai, độ dốc bình quân lưu vực
39,4°⁄00 . Mật độ lưới sông 1,05km/km2 và hệ số uốn khúc và 1,60. Lượng mưa bình
quân trên lưu vực tương đối lớn 1.800 mm/năm.
3. Sông Đu.
Bắt nguồn từ Lương Can ở độ cao 275 m. Diện tích lưu vực 361 km 2 (có 5,4 km2
là diện tích núi đá vôi), chiều dài sông 44,5 km, nhập lưu phía bờ hữu sông Cầu. Sông
Đu nằm trên đất huyện Phú Lương, độ cao bình quân lưu vực 129 m và ít dốc. Lượng

Bảng 2.1. ĐẶC TRƯNG HÌNH THÁI LƯU VỰC HỆ THỐNG SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THÁI NGUYÊN
Khoảng
Độ cao
cách từ
T
nguồn
Phụ lưu
cửa phụ
T
sông
lưu đến
(m)
cửa chính
Dòng chính sông Cầu tới Phả Lại
1175
Thứ tự phụ lưu từ thượng nguồn về:
1
S. Chợ Chu
P
190.5
400
2 Nghinh Tường
T
176.5
550
3
Dang Khe
P
160.5

75
10
Phụ lưu 20
T
109.0
75
11
Phụ lưu 21
P
90.5
25
12
Sông Công
P
79.5
275
Gia
nhập
phía
bờ

Chiều
dài
sông
(km)

Diện tích LV
Tổng

288.5

bình
Phần
quân
đá
lưu vực
vôi
(m)
279
190
23.5
170
5.4
31.4
-

206
290
129
126
129
224

Độ dốc
Mật độ
bình
lưới
quân
sông
lưu vực
(km/km2)

1.24
1.18
1.43

2.1.3. Lưu vực sông Rong (thượng nguồn sông Trung).
Lưu vực sông Rong là thượng nguồn của sông Trung là phụ lưu của Thương, trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên bao gồm đất đai của các xã: Lâu Thượng, TT. Đình Cả, Phú
Thượng, Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long, Phương Giao của huyện Võ
Nhai. Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua khu vực xã Bình Long đổ sang
tỉnh Lạng Sơn, sông Rong trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có chiều dài L = 17 km, diện
tích lưu vực là: 281,2 km 2. Độ dốc bình quân lưu vực 34%, độ cao bình quân lưu vực
300 m.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-11-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

2.2. ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG, KHÍ HẬU.
2.2.1. Lưới trạm quan trắc khí tượng.
Trong tỉnh Thái Nguyên có 4 trạm đo khí tượng, tuy nhiên hiện nay chỉ còn 2
trạm đang hoạt động đó là trạm Thái Nguyên và Định Hóa với chuỗi số liệu đo đạc từ
1961 đến 2008, còn 2 trạm Võ Nhai và Đại Từ đã dừng đo từ 1981.
Bảng 2.2. LƯỚI TRẠM KHÍ TƯỢNG TỈNH THÁI NGUYÊN

105055’

21054’
21035’
21038’
21042’

Độ
cao
trạm
(m)
220
36
50
125

Các yếu tố quan trắc
Nhiệt
độ

Độ
ẩm

Bốc hơi
Piche

Gió

Nắng


2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Tên Tr m
n h Hóa
Thái Nguyên
Võ Nhai
i T
Ph Yên
Phú Bình
Ký Phú
i m Mc
Yên Lãng
Phú L n g
Minh Ti n
Thác B i

Li t tài li u
1959-2008
1956-2008
1961-2008

210 27’
210 28’
210 32’
210 50’
210 41’
210 44’
210 44’
210 34’

2.2.2. Lưới trạm quan trắc thuỷ văn.
Cũng như tài liệu về khí tượng và đo mưa, việc quan trắc mực nước và lưu lượng
trên sông được tiến hành đồng thời từ thời Pháp thuộc, ví dụ: Trạm Gia Bảy (Thái
Nguyên) được đọc mực nước từ 1907, hay trạm Đáp Cầu ở hạ lưu sông được thiết lập
từ 1902. Việc xây dựng đập Thác Huống đã được thực hiện từ 1929... Nhưng nhìn
chung hệ thống này cũng chỉ hoạt động có tính đồng bộ và đảm bảo chất lượng kể từ
1960 trở lại đây. Cụ thể tình hình các trạm thủy văn trên sông Cầu và trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên và vùng phụ cận.

Bảng 2.4. TRẠM QUAN TRẮC MỰC NƯỚC VÀ LƯU LƯỢNG TRÊN SÔNG Ở THÁI NGUYÊN
VÀ PHỤ CẬN
VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-12-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

T

1
2
3
4
5
6

Thác Riềng
Chợ Mới
Thác Bưởi
Thái Nguyên
Thác Huống
Chã

105053’
105046’
105048’
105040’
105042’
105054’

22005’
21052’
21042’
21035’
21034’
21032’

S.Cầu
S.Cầu

105055’
105033’
105044’
106003’

21039’
21040’
21043’
21032’
21042’

Đu
Cầu Mai
S.Công
S.Công
S.Trung

283
27.7
128
548
133

62-76
70-87
62-69
61-76
63-68

61-73


2.2.3. Các đặc trưng khí hậu.
Do những đặc điểm về địa lý, có 3 hệ thống gió mùa Châu Á thay phiên nhau liên
tục tác động mạnh mẽ vào lưu vực. Nước ta có trên 3.000 km bờ biển, đặc biệt là vịnh
Bắc Bộ khá sâu, có tác động như một hệ thống điều hoà nhiệt độ - độ ẩm, chi phối cả
khí hậu Bắc Bộ nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Những điều kiện tự nhiên
đó đã tạo nên một nền khí hậu nhiệt - ẩm cao của khí hậu nhiệt đới nói chung và một
chế độ phân hoá theo mùa mạnh mẽ của khí hậu gió mùa nước ta.
- Tính chất nhiệt - ẩm nội chí tuyến và cận chí tuyến:
+ Toàn bộ vùng nghiên cứu nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc. Đặc điểm có hai
lần mặt trời đi qua thiên đỉnh, có nguồn bức xạ nhiệt lớn. Khu vực chí tuyến còn là
nơi ngự trị của dải cao áp động lực tạo ra gió tín phong, là loại gió thường xuyên thổi
đều theo một hướng từ chí tuyến về xích đạo. Nhưng ở lưu vực sông Hồng - Thái
Bình thì điều kiện gió tín phong bị thay đổi do còn tồn tại hoạt động của gió mùa
Châu Á.
+ Chế độ gió tín phong tạo nên một mùa khô, gió mùa cực đới tạo nên một mùa
lạnh, nhưng nhìn chung đều ngắn hơn mùa nóng ẩm.
+ Tổng lượng bức xạ hàng năm trong lưu vực không chênh lệch nhau nhiều.
+ Hoàn lưu tiêu biểu bình thường và ổn định trong nội chí tuyến là Hoàn lưu tín
phong (cũng gọi là gió mậu dịch). Về mùa đông, gió tín phong thổi từ phía Nam của
các áp cao cận chí tuyến (do nhiệt độ thấp) theo hướng Đông Bắc về phía xích đạo.
Cũng xê dịch dải áp cao “theo mặt trời”, đới tín phong cũng có sự xê dịch theo mùa,
bản chất không đổi, hướng không thay đổi. Tạo nên một chế độ thời tiết rất ổn định,
chủ yếu là nóng và ẩm, nhưng nó không thể đem lại một sự phân hoá rõ rệt theo mùa
của khí hậu đơn điệu theo chế độ mặt trời nội chí tuyến.
- Hoàn lưu gió mùa:
Hoàn lưu tín phong kể trên bị thay thế bằng một dạng hoàn lưu gió mùa khác
hẳn về trung tâm động lực và cơ chế; hoàn lưu tín phong bị lấn át một cách rõ rệt chỉ
còn phát huy tác dụng ở từng lúc, từng nơi, hoặc tham gia vào hoàn lưu gió mùa
trong hoàn cảnh nào đó. Do đó đã xuất hiện một cơ chế hoàn lưu có tính chất địa

đới lục địa cũng di chuyển từ Xibia dần về phía Đông, hành trình đến nước ta lúc dẫn
qua lục địa Trung Quốc, nên khô lạnh, sau qua biển có nóng và ẩm thành mưa phùn.
Về mùa hạ, gió tín phong và gió mùa mùa hạ về quy mô và cường độ phát triển mạnh
mẽ hơn nhiều so với những hệ thống gió mùa mùa đông, nhưng cũng diễn ra tình
trạng đối lập nhau, về bản chất vẫn là hai loại hệ thống khác nhau, trên khu vực tiếp
giáp với gió tín phong thành dải hội tụ nằm theo hướng kinh tuyến, khi trục đó còn
dao động trong phạm vi nước ta cũng luôn có tranh chấp ảnh hưởng của gió mùa
mùa hạ và tín phong.
Sự tiếp giáp với biển (khoảng 3.000 km) ở phía Đông nước ta, nên trừ không
khí cực đới đầu mùa và luồng không khí hướng Tây của gió mùa mùa hạ tới Bắc Bộ
theo lục địa, còn các luồng gió mùa đến nước ta đều phải trải qua đoạn đường dài
trên biển, nên độ ẩm của khối không khí đó đã tăng lên nhiều so với nơi xuất phát, nó
liên quan mật thiết với tính hải dương cao của những khối không khí gió mùa ấy và
hoạt động của các nhiễu động thời tiết.
+ Những nhiễu động thời tiết trong cơ chế gió mùa:
Bản thân nguồn hơi ẩm trong các khối không khí gió mùa rất phong phú đã đem
lại mưa, phải có nhiệt lực hay điều kiện địa hình, những cơ chế động lực phát huy
dòng thăng mạnh mẽ, làm tác nhân ngưng kết mới gây ra được. Những hệ quả quan
trọng trong cơ chế hoàn lưu là đã xuất hiện những nhiễu động tạo khả năng ngưng tụ
hơi ẩm trong các khối không khí tạo thành mưa gió mùa. Các nhiễu động đó là:
 Front cực đới.
 Hội tụ chí tuyến (Còn gọi là hội tụ nhiệt đới).
 Bão (hay xoáy thuận nhiệt đới).
 Nhiễu động địa phương khác.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-14-


độ vẫn đảm bảo thích hợp cho cây trồng. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối thường xảy ra vào
cuối tháng 12 đầu tháng 1. Tại một vài nơi thuộc vùng núi nhiệt độ tối thấp trong
những đợt rét mạnh có thể xuống dưới 0 0C. Ví dụ như ở Định Hoá -0,4 0C hay một vài
nơi khác. Trong điều kiện thời tiết như vậy có thể xuất hiện băng giá và sương muối
gây ảnh hưởng bất lợi cho gia súc và cây trồng. Tuy nhiên hiện tượng thời tiết này chỉ
xảy ra trên một phạm vi nhỏ hẹp.
Bảng 2.5. NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRUNG BÌNH THÁNG, TỐI CAO VÀ TỐI THẤP
TRONG THỜI KỲ QUAN TRẮC
Đơn vị: 0C
Trạm đo

Định Hóa
Thái
Nguyên

Yếu
tố
TTB

Tmax
Tmin
TTB

Tmax
Tmin

1

2


34,6
3,2
17,3
33,5
4,2

19,8
36,8
6,5
19,9
35,7
4,7

23,5
37,9
11,4
23,7
37,7
12,6

26,7
41,6
16,1
27
40,7
16,4

28
38,2
18,1

10,2

19,7
33,7
4
20,9
34
7,2

16,6
32,5
-0,4
17,2
30,6
3,2

22,7
41,6
-0,4
23,2
40,7
3

Hai tháng còn lại trong năm là tháng 4 và tháng 11 là hai tháng chuyển tiếp giữa
các mùa lạnh sang mùa nóng và ngược lại, nhiệt độ không khí tương đối ôn hoà. Tóm
lại yếu tố nhiệt độ trong toàn tỉnh về cơ bản là thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp,
chăn nuôi gia súc gia cầm và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12 Năm
Trạm
Định Hóa
TB
83
83
85
85
82
84
85
86
85
84
83
82
84
Min
19

34
27
35
41
41
24
26
21
15
15

3. Tổng lượng bốc hơi đo theo ống Piche.
Đại lượng bốc hơi đo theo ống Piche đặt tại các trạm khí tượng phản ánh khả
năng bốc hơi nước của không khí, nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: Nhiệt
độ, độ ẩm, số giờ nắng, tốc độ gió... ở tại trạm. Tuy nhiên trên một phạm vi địa lý hẹp,
tính đồng nhất của các yếu tố tương đối đồng đều vì vậy đại lượng bốc hơi ít biến đổi
trên toàn lưu vực. Song ở vùng núi cao độ ẩm lớn khả năng bốc hơi nhỏ hơn. Tại vùng
đồng bằng, trung du thoáng đạt nên bốc hơi có lớn hơn.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-16-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP


49
54
61
82
74
74
65
66
66
62
60
766
Thái Nguyên
74
63
64
68
98
92
92
80
88
94
89
83
986

4. Chế độ gió.
Thái Nguyên có cấu tạo địa hình phức tạp với các dãy núi có nhiều hướng khác
nhau. Trong năm có tới 5 khối không khí có nguồn gốc khác nhau luân phiên khống


9

10

11

12

Năm

0,9
17
1,3
14

1,1
22
1,4
17

1,0
20
1,4
26

1,2
32
1,5
25


0,8
20
1,3
24

0,9
20
1,3
16

0,9
32
1.3
32

5. Tổng số giờ nắng.
Với nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, lắm mưa nhiều nắng. Tuy vậy Thái Nguyên
lại là nơi ít nắng hơn so với một số nơi khác ở miền Bắc Việt Nam, nhất là vùng núi
như Định Hoá nơi có nhiều mây mù che phủ, tổng số giờ nắng hàng năm chỉ trên dưới
1.316 giờ. Vùng trung du và đồng bằng số giờ nắng có cao hơn 1.557 giờ. Dù sao thì
Thái Nguyên vẫn đạt bình quân từ 3,4 - 4,6 giờ nắng/ngày trong năm.
- Mùa lạnh: Do lượng mây nhiều và thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn hơn
mùa nóng nên số giờ nắng cũng ít hơn, trung bình mỗi tháng trong mùa này có khoảng
40 - 93 giờ nắng. Số giờ nắng ít nhất vào tháng 2, 3 ứng với thời kỳ có lượng mây và
số ngày nhiều mây nhiều nhất trong năm. Tháng ít nắng nhất là tháng 3 vẫn có từ 1 - 2
giờ nắng/ ngày.

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

6

7

8

9

10

11

12

Năm

50
64

41
44

40
45

76
80

135
167

bao trùm lên cả địa bàn Thành phố Thái Nguyên. Dãy Tam Đảo có độ cao trên 1500 m
án ngữ phía Tây của tỉnh như một bức bình phong đón gió Đông Nam từ biển thổi vào,
lượng mưa tại trạm Tam Đảo đo được gần 2.400 mm/năm. Do nh h n g c a tâm m a
Tam o nên vùng i T , Ký Phú có l n g m a 1.800 - 2.000mm.
Với đường đẳng trị lượng mưa 2.000 mm/năm trùm kín sang tận phía Đông
Thành phố. Phía Tây Bắc của tỉnh là thung lũng lưu vực sông Đu hình thành một tâm
mưa nhỏ dưới 1.600 mm/năm khép kín. Phía Nam tỉnh là hai huyện Phổ Yên và Phú
Bình có địa hình thấp thuộc đồng bằng trung du, lượng mưa năm cũng chỉ đạt trên
dưới 1.600 mm/năm. Nhìn chung lượng mưa hàng năm trên địa bàn của tỉnh biến động
không nhiều, năm mưa lớn nhất cũng chỉ gấp từ 2 đến 2,5 lần năm có lượng mưa nhỏ
nhất. Lấy trạm Thái Nguyên làm ví dụ: Theo thống kê (1960 - 2008) với 48 năm tài
liệu năm có lượng mưa lớn nhất 3.007 mm (1960), năm có lượng mưa nhỏ nhất 1.246
(năm 2002) thì tỷ số này là 2,41 lần và hệ số biến động Cv của lượng mưa năm nhìn
chung là nhỏ.
Bảng 2.10. KẾT QUẢ TÍNH TẦN SUẤT TỔNG LƯỢNG MƯA NĂM
Đơn vị::mm
TT
1
2
3
4
5
6

Tên trạm
Thái Nguyên
Võ Nhai
Đại Từ
Định Hóa
Phổ Yên


0.55
-0.53
0.42
0.14
0.68
0.12

XP%
50
2158
2057
2119
1853
1777
2336

75
1907
1711
1823
1644
1551
1947

85
1686
1322
1553
1441

tháng còn lại là tháng 4 và tháng 10 là thời kỳ chuyển mùa, lượng mưa các tháng này ở
mức trên dưới 100 mm/tháng.
Bảng 2.11. TỔNG LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH THÁNG, NĂM
Đơn vị:mm
Tháng
Trạm
Thái Nguyên
Võ Nhai
Đại Từ
Định Hóa
Phổ Yên
Phú Bình
Ký Phú
Điềm Mặc
Yên Lãng
Phú Lương
Thác Bưởi

1

2

3

4

5

6


25
22
28
37
33
20
31

61
56
60
55
49
48
49
72
46
36
41

111
113
111
101
94
90
105
113
130
86

309
285
399
374
271
286
384

336
290
338
305
272
255
364
400
316
278
356

235
193
233
168
197
166
235
190
254
177

21
16
22
21
12
10
17

1940
1636
1852
1650
1588
1463
1972
1937
1740
1427
1963

Mùa Mùa
mưa khô
(5-9) (10-4)
1520 419
1269 367
1388 464
1283 367
1215 374
1132 332
1523 450

tiết ở đây là nhiệt đới gió mùa, nhưng vai trò nổi trội là gió mùa sau đến vai trò bức
xạ nội chí tuyến đã tạo ra nhiều loại hình thời tiết có rất nhiều nét riêng biệt. Cùng
với các điều kiện bức xạ và địa hình đã tạo ra sự phân hoá khí hậu nhiều khi rất độc
đáo về sắc thái của từng loại hình thời tiết và nhịp điệu diễn biến của thời tiết theo
thời gian và không gian. Nói chung khí hậu của lưu vực là nhiệt đới gió mùa Châu Á,
có mùa đông lạnh ẩm; mùa hè nóng và mưa nhiều, có nhiều loại hình thời tiết diễn
biến phức tạp và nhanh chóng ngay trong cùng một mùa.
- Do chế độ gió mùa giữ vai trò nổi trội: Mùa hè trùng với thời kỳ hoạt động
của gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 9 và tín phong Nam bán cầu. Thời tiết
nóng ẩm, mưa nhiều, tháng 6 và tháng 10 là những tháng giao thời ngắn giữa hai
mùa, vào lúc gió mùa cực đới đã suy yếu và gió Tây Nam bắt đầu hoạt động (tháng
6) và tháng 10 gió Tây Nam rút khỏi hẳn phạm vi lưu vực, hệ thống phía Đông do
lưỡi áp cao Thái Bình Dương phát huy còn mạnh mẽ, nhiễu biến động thời tiết ít hơn
(như hội tụ và bão). Vì thế hai tháng chuyển tiếp mang nhiều tính chất mùa hè hơn
mùa đông, và là hai tháng của mùa mưa. Bức xạ mặt trời vẫn phát huy tích cực, nên
có sự khác biệt lớn trong sắc thái mùa và cấu trúc thời tiết mùa ở những nơi không
cách xa nhau, phát triển những ranh giới tự nhiên của khí hậu.
- Do những nguyên nhân về địa lý vì nhiều hệ thống gió mùa và địa hình, khiến
cho các loại hình thời tiết trong lưu vực rất đa dạng, khác nhau, thậm chí đối lập
nhau, có nhiều loại hình thời tiết địa phương.
- Những điều kiện động lực mạnh mẽ trong cơ chế gió mùa ở vùng nội chí
tuyến đã là nguyên nhân chủ yếu duy trì thế không ổn định thường xuyên trong
tương quan giữa các hệ thống. Khả năng tồn tại của một loại hình thời tiết không quá
3 ÷ 5 ngày, đặc biệt là 8 ÷ 10 ngày. Vì thế việc trung bình hoá những đặc trưng thời
tiết trong khoảng thời gian dài ít có ý nghĩa.
- Chế độ thời tiết mùa hè: Mùa hè bắt đầu với sự phát triển mạnh mẽ của gió
mùa nóng ẩm của áp thấp phía Tây và gió Tây khô nóng, trong thời kỳ tiến triển của
gió mùa mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6. Sau đó là thời kỳ thiết lập gió mùa hạ, là thời
kỳ cực thịnh của gió mùa Tây Nam, tín phong Nam bán cầu và xích đạo, lưỡi cao áp
Tây Thái Bình Dương chiếm ưu thế, với các nhiễu động thời tiết, hội tụ nhiệt đới,

÷ 85%. Mưa giông có thể xảy ra hầu như hàng ngày, vào bất kỳ lúc nào. Nhiều khi
mưa dầm kéo dài 5 ÷ 7 ngày. Mưa rào và giông rất phổ biến.
- Thời tiết bão: Khi trận bão còn cách xa lưu vực 500÷600 km đã thấy mây chuyển
biến, áp suất khí quyển giảm dần, gió bị nhiễu loạn, chuyển sang Bắc hoặc Tây Bắc
ngược hướng với gió thịnh hành Đông Nam hay Tây Nam trong mùa hạ, không khí nóng
ẩm từ rìa phía trước bão gây nặng nề oi bức. Khi bão đến, vùng tâm bão gió rất mạnh,
mưa lớn, nhiệt độ và khí áp giảm nhanh, gió xoay nhiều hướng kéo dài nhiều giờ. Khi bão
tan, mưa kéo dài đến 4÷5 ngày với tổng lượng mưa rất lớn, có khi bằng lượng mưa của cả
tháng trong mùa hạ. Ở những vùng xa tâm bão 300 ÷ 400 km có thời tiết bão rớt, gió vẫn
xoay chiều, trời đầy mây mưa to nhưng không liên tục như vùng trung tâm. Bão thường
đổ bộ vào lưu vực trong tháng 8, tháng 9 (chiếm 0,79 lần/năm), đổ bộ vào nước ta 1,42
lần/năm. Tháng 7 bão hay đổ bộ vào Trung Quốc, lưu vực bị rớt bão. Theo thống kê thấy
rằng bão đổ bộ vào Hồng Kông (Trung Quốc) đến Đồng Hới (Quảng Bình) đều có khả
năng gây mưa lớn ở đồng bằng Bắc Bộ.
Thời tiết mưa ngâu trong hội tụ nội chí tuyến: Dải hội tụ nhiệt đới giữa mùa hạ
đã vắt ngang qua lưu vực sông Hồng, gây ra thời tiết mưa không lớn lắm nhưng kéo
dài từng đợt. Do không khí nóng ẩm liên tục bốc lên cao, hình thành một vùng mây
dày đặc, chứa lượng nước lớn. Khi đi qua hay dừng lại ở đâu sẽ gây ra thời tiết ẩm ướt
và nhiệt độ hạ thấp. Trời u ám, nắng yếu, khi mưa tạnh, cũng có khi xảy ra mưa lớn tới
hàng trăm mm. Loại hình này thường có chu kỳ, một đợt vài ngày, cách nhau 5÷7
ngày có mưa rào và giông. Sự xê dịch của các dải hội tụ nhiệt đới kéo theo sự xâm
nhập của không khí gió mùa từ các vùng biển phía Nam làm rối loạn cơ chế gió mùa
mùa hạ, chế độ mưa, lượng mưa tăng. Những năm không có mưa ngâu là những năm
có lượng mưa bị giảm sút khá nhiều, khô hạn tăng lên. Như vậy loại hình thời tiết mưa
ngâu cũng tham gia đáng kể vào quá trình gây lũ ở lưu vực sông Cầu.
2.4. ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN DÒNG CHẢY.
1. Đặc điểm dòng chảy năm.
Dòng chảy trên các sông tỉnh Thái Nguyên được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ
và mùa kiệt. Mùa lũ thường bắt đầu từ tháng 6 nhưng kết thúc không đồng thời trên
các vùng khác nhau trong lưu vực, nơi sớm là tháng 9, nơi muộn là 10 như sông Đu và


3
14,
1
2,2
14,
4
2,4

4

5

6

7

23,6
3,7

45,2
7,2

85,3
13,5

22,6
3,7

43,6


46,3
7,3

27,3
4,3

15,7
2,5

52,6
100

127,5
21,0

63,1
10,4

39,2
6,5

24,5
4,0

18,0
3,0

50,5
100


2

1,61
2,2
0,1
3
1,4
3,0
8
1,7
0,89
2,6

1,50
2,1
0,1
3
1,4
3,1
5
1,7
0,85
2,5

3
1,4
7
2,0
0,12

11,76
16,0

16,68
22,7

12,27
16,7

6,38
8,7

0,27
3,0

0,82
8,9
14,7
5
8,1
2,45
7,1

1,06
11,6

1,72
18,7
25,77
14,1

6,6

17,59
9,6
3,18
9,2

11
4,0
7
5,5
0,3
7
4,0
8,6
3
4,7
2,05
6,0

12

Năm

2,11
2,9

6,12
100


CV
CS
50
75
Thác Bưởi
Sông Cầu
2220
52,6
0,27 -0,13
52,8
43,2
Giang Tiên Đu
283
5,95
0,24
0,74
5,70
4,90
Cầu Mai
Cầu Mai
27.7
0,8
0,42
0,05
0,76
0,55
Tân Cương Công
541
15,2
0,27

162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-22-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

có xê dịch chút ít, thường là từ tháng 6 đến tháng 10. Hàng năm mùa lũ có thể xuất
hiện sớm hoặc muộn đi 1 tháng nhưng với tỷ số không lớn. Mặc dù mùa lũ chỉ kéo dài
4 tháng trong năm nhưng chiếm tới 70÷ 75% tổng lượng lũ toàn năm.
* Nguyên nhân hình thành lũ:
Ở lưu vực sông Cầu, dòng chảy lũ trong sông do mưa gây nên. Tuỳ theo chế độ
mưa khác nhau mà tính chất lũ cũng khác nhau. Ở vùng này mùa mưa bắt đầu từ tháng
5, mùa lũ trên các sông suối bắt đầu từ tháng 6. Nếu xét chi tiết thì tuần bắt đầu có lũ
có thể là hạ tuần, trung tuần tháng 5 với tần số xuất hiện khoảng 35÷ 45%.
Tỷ lệ lượng dòng chảy mùa lũ chiếm từ 65,5 ÷ 78,8% (là đặc trưng chung của
các lưu vực nhỏ trong lưu vực sông Cầu. Lũ tập trung rất mạnh trong thời gian ngắn
do sự xuất hiện của các trận mưa liên tiếp làm cho lưu vực luôn thừa ẩm, hiệu quả của
mưa sinh dòng chảy cao và thời gian này thường có mưa lớn nên lũ tháng các tháng 7
và 8 thường lớn nhất năm.
Tuỳ theo điều kiện hình thái thời tiết gây ra mưa khác nhau mà số lần xuất hiện
lũ hàng năm có biến động đáng kể, ít nhất là một trận và nhiều nhất là 10 trận. Thời
gian duy trì trận lũ có khác nhau tuỳ thuộc vào diện tích lưu vực, vào hình thái thời tiết
gây lũ, thường kéo dài từ 7 ÷ 15 ngày.
Từ tháng 5 đến tháng 6 áp thấp nóng Ấn Miến di chuyển dần từ phía Tây sang
phía Đông và xâm nhập vào lưu vực sông Hồng gây nên những trận mưa giông có
cường độ lớn nhưng chỉ kéo dài vài ba ngày tạo ra những cơn lũ nhỏ lên xuống nhanh.

Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP

- Trong tất cả các loại tổ hợp hoạt động của các hình thế thời tiết gây mưa lớn
dẫn tới lũ lớn và đặc biệt lớn, cần đặc biệt chú ý tới tổ hợp hoạt động kế tiếp nhau của
bão, rãnh thấp nóng kết hợp với không khí lạnh hoặc cao áp Thái Bình Dương và dải
hội tụ nhiệt đới. Đại đa số các trận lũ lớn trên sông Cầu đều xảy ra khi có hoạt động
liên tiếp của loại tổ hợp hình thế thời tiết nêu trên.
- Hoạt động không đơn độc của một hình thế thời tiết gây mưa (trừ bão) không
có khả năng gây ra lũ lớn trên hệ thống sông, song vẫn có nhiều khả năng gây mưa lớn
ở từng địa phương dẫn đến hình thành lũ quét ở các lưu vực nhỏ miền núi.
* Sự gặp gỡ mưa nội đồng và lũ ngoài sông:
Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm, lũ lớn trên lưu vực sông Cầu có thể xảy
ra trong tất cả các tháng này, nhưng tần suất lớn nhất là vào tháng 7 và tháng 8. Đặc
trưng lũ của các sông này là lũ núi, tức có dạng lũ đỉnh nhọn, lũ lên nhanh, xuống
nhanh. Đoạn sông Cầu ở Thái Nguyên về Thác Huống do ảnh hưởng của đập làm mực
nước dâng cao. Các loại hình thời tiết gây mưa kéo dài từ 3-5 ngày và bao trùm trên
diện rộng, và chính nó cũng là nguyên nhân gây ra úng nội đồng, vì lúc này mực nước
ngoài sông cao nên nước trong đồng không thể tiêu tự chảy ra ngoài sông được. Từ
chuỗi số liệu mưa 40 năm tại Thái Nguyên, Bắc Kạn, Chợ Mới, và Thác Bưởi và chuỗi
số liệu mực nước 7 ngày max tại Thái Nguyên, thống kê thời gian xuất hiện mực nước
bình quân 7 ngày cao nhất trong các tháng 7, 8 và 9 hàng năm với các đợt mưa dài
ngày cùng thời đoạn, thấy tần suất mưa tại Thái Nguyên trùng với mực nước lớn trong
sông Cầu tại Thái Nguyên là:
- Tháng 7: 82%.
- Tháng 8: 82%.
- Tháng 9: 90%.
Tần suất mưa lớn gặp nhau ở cả 4 trạm mưa thượng nguồn lưu vực sông Cầu:
- Tháng 7: 70%.

H max Gia Bảy
H (cm)
P%
2796
5,5
2778
9
2694
22
2799
4,5
2663
30
2803
5

Hình dưới đây là tương quan giữa lượng mưa 7 ngày lớn nhất lưu vực sông Cầu
tính đến Thái Nguyên (với các trạm mưa đại diện là Định Hóa, Bắc Kạn, Chợ Mới,
Thác Bưởi, Thái Nguyên) và mực nước lớn nhất tại Gia Bảy. Từ hình vẽ có thể thấy
VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-24-


Rà soát, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi tỉnh Thái Nguyên
Giai đoạn 2010 đến 2020

BÁO CÁO TỔNG HỢP


1.000m3/s. Nguyên nhân có thể được giải thích như sau: Lũ lớn 1959 từ thượng nguồn
đổ về nên dòng nước có động năng rất lớn, gây ra tốc độ dòng chảy trong sông lớn.
Nên cùng mức nước xấp xỉ nhau mà lưu lượng đỉnh lũ tại Gia Bảy trong trận lũ tháng
8/1959 hơn đỉnh lũ tháng 7/2001 tới cả trên 1.000 m3/s.
VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI
162A -Trần Quang Khải - Hà Nội

-25-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status