Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
Sự cần thiết của dự án.............................................................................. 1
Phạm vi dự án .......................................................................................... 2
Mục tiêu dự án......................................................................................... 3
Các phương pháp thực hiện..................................................................... 3
Khái quát về các công trình chỉnh trị trong vùng dự án.......................... 5
CHƯƠNG 1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
Vị trí địa lý............................................................................................... 6
Địa hình ................................................................................................... 6
Thời tiết, khí hậu ..................................................................................... 7
Tình hình dân sinh kinh tế....................................................................... 7
CHƯƠNG 2.
2.1.
2.2.
2.3.
điều tiết hồ thủy điện Tuyên Quang ................................................................ 39
4.2. Dự án: Quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết cho các tuyến sông có đê
trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2009– Viện Quy hoạch thủy lợi ............. 40
4.3. Dự án: Lập quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết cho các tuyến sông có đê
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008 – 2015 – Viện KHTL Việt Nam 41
4.4. Dự án: Lập quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết cho các tuyến sông có đê
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2008 – 2015 – Viện KHTL Việt Nam ... 42
4.5. Các dự án khác ...................................................................................... 43
4.6. Đánh giá chung...................................................................................... 44
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
CHƯƠNG 5. HIỆN TRẠNG KẾT CẤU, MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH CÁC
CÔNG TRÌNH CHỈNH TRỊ TRÊN CÁC SÔNG VÙNG DỰ ÁN ............... 45
5.1.
5.2.
Hiện trạng và mức độ ổn định của các tuyến kè hiện có....................... 45
Những vị trí xung yếu............................................................................ 56
CHƯƠNG 6.
LẬP QUY HOẠCH CHỈNH TRỊ ........................................ 60
6.1. Phương hướng và quy chuẩn kỹ thuật lập qui hoạch chỉnh trị đoạn sông
nghiên cứu........................................................................................................ 60
6.2. Xác định lưu lượng tạo lòng của các đoạn sông: .................................. 61
6.3. Xác định kích thước hình dạng lòng sông ổn định................................ 63
6.4. Tuyến chỉnh trị ...................................................................................... 66
CHƯƠNG 9.
KIẾN NGHỊ
9.1.
9.2.
9.3.
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG .......................... 92
TÓM TẮT KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ CÁC KẾT LUẬN
............................................................................................... 105
Tóm tắt kết quả thực hiện.................................................................... 105
Kết luận................................................................................................ 108
Kiến nghị ............................................................................................. 109
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết của dự án
−
Hạ du đập Thủy điện Hòa Bình gồm bốn tỉnh Hòa Bình, Hà Nội, Phú
Thọ và Vĩnh Phúc là nơi khởi nguồn của đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi
tập trung dân cư đông đúc và lâu đời, là trung tâm văn hóa, chính trị của cả
nước và được bảo vệ trước thiên tai lũ lụt bởi hệ thống đê sông, hiện đã và
đang được đầu tư củng cố vững chắc.
−
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
−
Luật Đê điều ra đời, việc sử dụng bãi sông một cách hợp lý, hài hoà
giữa mục tiêu phòng chống lũ với mục tiêu phát triển là nhu cầu tất yếu. Thủ
tướng Chính phủ đã có Quyết định số 92/2007/QĐ-TTg ngày 21/9/2007 phê
duyệt quy hoạch Phòng chống lũ đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình làm
cơ sở cho các địa phương lập quy hoạch phòng chống lũ chi tiết, quy hoạch đê
điều từng tuyến sông và các quy hoạch khác có liên quan.
−
Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, Ngành và các địa phương
nghiên cứu đề xuất xử lý sạt lở, ổn định bờ hệ thống sông Hồng, sông Đà vùng
hạ lưu sau đập thủy điện Hòa Bình bảo đảm an toàn dân cư và các công trình cơ
sở hạ tầng (công văn số 4807/VPCP-NN ngày 28/8/2007 của Văn phòng Chính
phủ).
−
Sạt lở bờ sông và biến đổi lòng dẫn của các sông hạ du thủy điện
Hòa Bình ngày càng phức tạp, khó lường, ảnh hưởng ngày càng lớn đến an
toàn đê điều, an sinh kinh tế. Biện pháp giải quyết sạt lở hiện vẫn mang tính
thụ động, chắp vá. Để có một giải pháp tổng thể, hài hòa nhằm ổn định bờ và
lòng dẫn để đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, các khu dân cư hiện có trên bãi
sông và sử dụng hợp lý bãi sông, lòng sông cho mục tiêu phát triển, việc rà soát
để xây dựng quy hoạch phòng chống sạt lở vùng hạ du thủy điện Hòa Bình là
Phượng, thành phố Hà Nội (hết địa phận tỉnh Hà Tây cũ, tương ứng khoảng
Km47 đê hữu Hồng).
Hình 1.1.
Phạm vi vùng dự án
1.3. Mục tiêu dự án
Nghiên cứu đề xuất giải pháp chỉnh trị sông nhằm phòng chống sạt lở bờ
sông đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, các khu dân cư hiện có trên bãi sông
và sử dụng hợp lý bãi sông.
1.4. Các phương pháp thực hiện
1.4.1. Phương pháp chỉnh lý, phân tích số liệu thực đo
Để phân tích, đánh giá hiện trạng, tìm ra quy luật thống kê, dự án chủ yếu
sử dụng phương pháp chỉnh lý phân tích số liệu thực đo. Số liệu thực đo được
3
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
thu thập có hệ thống đồng bộ đủ dài, cập nhật đến 2009, đưa về cùng hệ quy
chiếu.
- Từ số liệu thực đo H và Q trung bình ngày tại các trạm lập bảng quan hệ
Q trung bình tại các cấp mực nước H cách nhau 0,5m cho từng năm
- Từ số liệu trong bảng trên vẽ đường cong quan hệ Q~H cho từng năm;
- Tổng hợp các đường cong quan hệ Q~H từng năm vào trong cùng hệ tọa
độ .
- Lập bảng và vẽ đồ thị diễn biến ∆H ~ t cho từng cấp lưu lượng đặc trưng;
- Tiến hành phân tích nguyên nhân và hậu quả của sự biến đổi quan hệ
4
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
1.4.4. Phương pháp kế thừa (các kết quả nghiên cứu, giải pháp công nghệ,…)
Phạm vi nghiên cứu đã có một số các đề tài, dự án đã từng thực hiện, tuy
phạm vi các dự án nhỏ lẻ và chưa có hệ thống, nhưng những kết quả chính
của các dự án có thể kế thừa và phát triển.
1.5. Khái quát về các công trình chỉnh trị trong vùng dự án
Hạ du đập Thủy điện Hòa Bình gồm bốn tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú
Thọ và Hà Nội là nơi khởi nguồn của đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi tập
trung dân cư đông đúc và lâu đời, là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước.
Sau khi thủy điện Hòa Bình đi vào hoạt động, việc phòng lũ vùng hạ du
ngày càng được chú trọng. Một trong các biện pháp cho hiệu quả cao là xây
dựng và kiên cố lại các tuyến đê sông, đê bối. Do ảnh hưởng của thủy điện
Hòa Bình nên điều kiện thủy văn trên các sông Đà, sông Thao, sông Lô và
sông Hồng ở hạ du bị ảnh hưởng lớn, gây ra nhiều hiện tượng xói lở bờ sông
nghiêm trọng.
Bên cạnh đó vẫn còn không ít các công trình trên sông do đã được xây
dựng từ lâu nên chất lượng và khả năng làm việc cũng bị giảm đi đáng kể.
Vì vậy việc điều tra, đánh giá hiện trạng chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa
Bình là một việc làm cấp thiết để từ đó xây dựng được chương trình cải tạo,
nâng cấp các công trình chỉnh trị sông để đảm bảo các tuyến đê hoạt động an
toàn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020.
5
xuống Nam và từ Tây sang Đông.
6
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
Địa hình Vĩnh Phúc kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, là phương
chung của địa hình ở miền Bắc và Đông Bắc Bắc bộ Việt Nam. Phía Bắc của
tỉnh có dãy núi Tam Đảo với đỉnh Đạo Trù cao 1.592m, phía Tây Nam được
bao bọc bởi 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Lô, tạo nên dạng địa hình
thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam và chia ra 3 vùng có địa hình đặc
trưng: đồng bằng, gò đồi, núi thấp và trung bình.
1.3. Thời tiết, khí hậu
Nếu coi thời gian mùa nhiều mưa bao gồm những tháng có lượng mưa lớn
hơn lượng mưa bình quân tháng trong năm và đạt trên 50% tổng số năm quan
trắc thì mùa nhiều mưa ở lưu vực sông vùng nghiên cứu là từ tháng V đến
tháng X, mùa ít mưa từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
Thành phần lượng mưa trong mùa nhiều mưa chiếm 83-85% lượng mưa cả
năm, thành phần lượng mưa trong mùa ít mưa chỉ chiếm 20-25% lượng mưa
cả năm. Tuy nhiên thời kỳ mưa lớn nhất vùng nghiên cứu thường tập trung
vào 3 tháng là từ tháng VII đến tháng IX, thành phần lượng mưa trong các
tháng này đều đạt từ 200-300 mm/tháng.
Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm 1.010mm, tháng có lượng bốc hơi lớn
nhất là tháng VI 100 mm, tháng có lượng bốc hơi nhỏ là tháng II có 56,8 mm.
Nhiệt độ trung bình năm 24oC, độ ẩm trung bình 80% - 82%.
1.4. Tình hình dân sinh kinh tế
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2
triệu người đang trong độ tuổi lao động. Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao
động có trình độ chuyên môn cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo
8
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM DÒNG CHẢY CÁC SÔNG VÙNG DỰ ÁN
2.1. Đặc điểm các sông vùng dự án
2.1.1. Sông Đà
−
Sông Đà là chi lưu lớn nhất của sông Hồng, có diện tích lưu vực
52.900km2 phần diện tích lãnh thổ Trung Quốc là 26.100km2 chiếm 49%, là
sông có lượng mưa lớn trên diện rộng từ Lý Tiên Độ đến Tạ Bú (trên diện tích
28.000km2, chiếm 53%). Sông Đà lại có độ dốc lưu vực lớn, nhất là phần
thuộc lãnh thổ Việt Nam, có thung lũng sông hẹp nên lũ trên sông Đà thường
nhanh và ác liệt. Vì vậy tuy diện tích lưu vực xấp xỉ như sông Thao nhưng
đỉnh và lượng lũ gấp đôi sông Thao và là nguồn lũ chủ yếu của sông Hồng.
−
Lũ lớn nhất trên sông Đà đóng vai trò lớn tạo ra lũ lớn nhất sông
Hồng, có đến 69% trường hợp đồng bộ. Riêng năm 1964 ở sông Đà đã xảy ra
lũ lớn nhất lớn hơn cả lũ tháng 8/1969, 8/1971,chỉ kém lũ 1945, nhưng lũ ở hạ
du sông Hồng 1964 không lớn lắm, mực nước ở Hòa Bình cũng thấp do
không bi dồn ứ nước của sông Hồng lên. Tuy nhiên lũ năm 1971 trên sông Đà
góp phần cùng với sông Thao và sông Lô tạo nên lũ lịch sử lớn nhất trên sông
Hồng (QmaxSơn Tây =37.800m3/s) hơn cả lũ và mực nước HmaxHàNội =14,80m (đã
hoàn nguyên vỡ đê và phân chậm lũ). Tháng 8/1969 lũ trên sông Đà cũng khá
lớn và sông Hồng cũng có lũ lớn (HmaxHàNội =13,22m).
−
Lũ lớn sông Thao thường xảy ra từ tháng 7 – 9, nhiều nhất vào tháng
8, khoảng 41% trường hợp ở Yên Bái. Trong thời gian này (tháng 7,8,9) phía
Trung Quốc, thời gian ngọn lũ xuất hiện ở Nguyên Giang gần như đồng thời
với ngọn lũ ở trạm Lý Tiên Độ trên sông Lý Tiên Độ thuộc thượng lưu sông
Đà.
−
Lũ sông Thao có nhiều ngọn, tổng lượng lũ 8 ngày max trung bình
đạt 2,18km3, năm 1971 đạt 4,9km3. Tại Yên Bái bằng 90,5% và tại Phú Thọ
94,6% (so với lượng lũ 8 ngày max năm 1971 ở Sơn Tây đạt 224,8%).
−
Môđun số dòng chảy lớn nhất thường giảm dần theo tỷ lệ nghịch với
diện tích lưu vực. Môđun dòng chảy trên dòng chính sông Thao với diện tích
lưu vực 50.000 km2 vẫn còn lớn. Mmax = 200 – 400 l/s/km2, phần Việt Nam
200 l/s/km2, phần Trung Quốc lớn gấp đôi bằng 400 l/s/km2.
2.1.3. Sông Lô
−
Sông Lô bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quí - Trung Quốc, đầu nguồn
cũng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tới thị xã Hà Giang thì chuyển
hướng Bắc Nam và nhập vào sông Hồng ở gần Việt Trì. Sông Lô có diện tích
lưu vực 39.000 km².
−
cường độ hoạt động của gió mùa Tây Nam và áp thấp nhiệt đới Bắc Ấn Độ
Dương cũng như ảnh hưởng của dải hội tụ và cao áp Thái Bình Dương.
−
Lũ sông Hồng cũng giống như Thao, Đà, Lô, thường xảy ra nhiều
ngọn liên tiếp, lên xuống nhanh vào tháng 4-5, biên độ lũ khoảng tháng 6 có
thể lên tới 5-6m, sang tháng 7-8m các cơn lũ đổ về liên tiếp con lũ thứ nhất
chưa rút hết đã chồng tiếp con lũ thứ 2 làm đỉnh lũ lên cao dần và thường đạt
đỉnh lũ vào tháng 8, sau đó mực nước hạ xuống dần.
−
Một điều đáng chú ý là khi mực nước lũ càng lên cao thì độ dốc mặt
nước từ Việt Trì đến Hà Nội tính theo thời gian truyền lũ có giảm nhỏ (tùy
trận lũ khác nhau), độ dốc giảm khác nhau, như trận lũ 8/1971 có chênh lệch
mực nước Việt Trì và Hà Nội là 4,26m, độ dốc mặt nước là 6,7cm/km ở cấp
mực nước Hà Nội 11,5m; chênh lệch chỉ còn 3,7m và độ dốc 6,1cm/km ở cấp
mực nước cao 13,3m. Nếu xét với lũ lớn năm 1945 và năm 1969 cũng ở cấp
mực nước chênh lệch giữa Việt Trì và Hà Nội là 4,16m (năm 1945) và 4,03m
(năm1969), tình hình khi nước rút thì thì độ dốc cũng giảm đi nhanh vì mực
nước thượng lưu thường rút nhanh trước các trạm hạ du.
11
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
2.2. Đặc điểm của dòng chảy lũ
−
Biên độ tuyệt đối đạt tới 13,22m ở Lào Cai (sông Thao); 31,1m ở Lai Châu
(sông Đà); 20,4m ở Hà Giang (sông Lô) và 13,1m ở Hà Nội (sông Hồng).
−
Tương quan về lưu lượng đỉnh lũ hàng năm của sông Hồng (ở Sơn
Tây) với các sông Đà (Hòa Bình) hệ số R=0,84; sông Lô (Tuyên Quang) hệ
số R=0,83; sông Lô (Yên Bái) với hệ số R=0,665.
2.3. Dòng chảy năm
2.3.1. Chuẩn dòng chảy năm
Phân tích chuỗi số liệu dòng chảy năm đã thu thập được tại 6 trạm thuộc đoạn
mạng sông nghiên cứu có thể thấy: chuỗi số liệu thực đo dòng chảy năm của tất cả 6
trạm đều tương đối dài: 54 năm đối với các trạm Hoà Bình, Yên Bái, Sơn Tây, Hà
12
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
Nội (từ 1956 đến 2009) và 53 năm đối với các trạm Vụ Quang, Thượng Cát (từ
1957 đến 2009). Bởi vậy, tất cả các trạm tính toán đều có thể coi là có đủ tài liệu
thực đo để tính chuẩn dòng chảy năm nhưng phải lựa chọn được thời kỳ tính toán
đại biểu đủ dài đẻ tính được trị số chuẩn dòng chảy năm với sai số quân phương
tương tương đối không vượt quá sai số cho phép.
Kết quả kiểm tra tính đồng nhất của chuỗi số liệu dòng chảy năm trong thời kỳ
quan trắc từ 1956 đến 2009 của các trạm khi chia mẫu thành 2 chuỗi trước khi có hồ
Hòa Bình (từ 1987 trở về trước) và sau khi có hồ Hòa Bình (từ 1988, tức là từ khi
hồ bắt đầu tích nước để chạy tổ máy số 1 trở lại đây) với mức ý nghĩa 1% theo chỉ
tiêu Wincoocson được tổng kết trong bảng sau:
Chuỗi đồng nhất
2
Yên Bái
233
279
138
374
Chuỗi đồng nhất
3
Vụ Quang
260
236
133
363
Chuỗi đồng nhất
Thượng Cát
313
183
133
363
Chuỗi đồng nhất
Kết quả kiểm tra trong bảng cho thấy: đối với tất cả các trạm, tổng số
nghịch thế Ux và Uy của cả hai mẫu X và Y đều nằm trong miền giá trị (Ut, Up)
nên chuỗi số liệu dòng chảy năm từ năm 1956 đến năm 2009 của tất cả các
trạm, kể cả trạm Hoà Bình đều đồng nhất theo chỉ tiêu Wincoocson. Bởi vậy,
toàn bộ chuỗi số liệu dòng chảy năm thực đo của các trạm được đưa vào xây
13
D ỏn: R soỏt b sung quy hoch chnh tr sụng h du thy in Hũa Bỡnh
dng ng cong lu tớch sai chun dũng chy nm la chn thi k tớnh
toỏn i biu tớnh chun dũng chy nm cho tng trm.
Sum(Ki-1)/Cv
10
8
6
-12
Hoà Bình
Sơn Tây
Hỡnh 2.1.
Bng 2.2.
Yên Bái
Hà Nội
Vụ Quang
Thợng Cát
ng lu tớch sai chun dũng chy nm
Kt qu tớnh chun dũng chy nm v sai s quõn phng tng
i tng i ca chỳng
Tờn trm
FLV
(km2)
Q0
(m3/s)
W0
(106m3)
M0
23747
16
495
0,20
3,00
V Quang
37800
1028
32419
27
858
0,18
2,96
Sn Tõy
143600
3,78
14
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
Bảng 2.3.
Tỷ lệ đóng góp dòng chảy hàng năm của ba nhánh Đà, Thao,
Lô vào sông Hồng thời kỳ trước và sau khi có hồ Hòa Bình (%)
Đặc trưng
Trung bình
nhiều năm
Thời kỳ
trước khi có
hồ Hoà Bình
Thời kỳ
sau khi có
hồ Hoà Bình
QHB/QHB+ QYB+ QVQ
QYB /QHB+ QYB+ QVQ
49
22
sau khi có
hồ Hoà
Bình
QTC/QHN+ QTC
26
25
28
QHN /QHN+ QTC
74
75
72
Nhận xét:
- Chuỗi số liệu thực đo lưu lượng dòng chảy bình quân năm thời kỳ 1956 2009 (bao gồm cả hai thời kỳ trước và sau khi có hồ Hoà Bình) của tất cả các
trạm kể cả trạm Hoà Bình đều đồng nhất theo kết quả kiểm định với tiêu
chuẩn Wincoocson. Điều đó cho thấy, với hai nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
là phát điện và phòng lũ, hồ Hoà Bình hầu như chỉ có tác dụng điều hoà dòng
chảy trong năm chứ không ảnh hưởng đến giá trị dòng chảy trung bình năm
cũng như tổng lượng dòng chảy hàng năm.
- Tính trung bình hàng năm, tổng lượng dòng chảy đóng góp vào sông
Hồng của sông Đà là 54021 (106m3), của sông Thao là 23747 (106m3) và của
sông Lô là 32419 (106m3). Như vậy, trong tổng lượng nước hàng năm do ba
dòng chảy năm Cv, còn quy luật dao động của nó trong thời kỳ nhiều năm
được thể hiện trên đường luỹ tích sai chuẩn dòng chảy năm trong thời kỳ quan
trắc của từng trạm.
Do khống chế các lưu vực lớn nên so với các nơi khác, mức độ biến động
của dòng chảy năm trong thời kỳ nhiều năm tại các trạm trên mạng sông
16
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
nghiên cứu thuộc loại nhỏ, hệ số biến đổi dòng chảy năm tại các trạm đều chỉ
nằm trong khoảng từ 0,14 đến 0,2.
Phân tích đường cong luỹ tích sai chuẩn dòng chảy năm tại các trạm vẽ
phối hợp lên cùng một hệ trục toạ độ có thể thấy:
- Trong thời kỳ nhiều năm, dòng chảy năm dao động có xu thế chu kỳ
không chặt chẽ: những nhóm năm nhiều nước liên tục thường xuất hiện xen
kẽ với các nhóm năm ít nước liên tục tạo thành các chu kỳ nước trọn vẹn
nhưng không hoàn toàn. Các chu kỳ này lặp lại nhưng không hoàn cả về thời
gian lẫn biên độ dao động. Nếu bỏ qua các chu kỳ nước rất ngắn thì toàn bộ
thời kỳ có số liệu đo đạc dòng chảy (1956 - 2009) tại các trạm Hoà Bình, Yên
Bái, Sơn Tây, Hà Nội có thể xem là một chu kỳ nước lớn kéo dài 48 năm với
một pha nước nhiều, một pha ít nước và một số năm nước trung bình. Đối với
trạm Vụ Quang, thời kỳ 1956 - 1985 có thể coi là một chu kỳ nước trọn vẹn
với một pha nhiều nước, một pha ít nước và một vài năm nước trung bình.
Còn thời kỳ 1986 - 2009 thuộc pha nước trung bình trên đó xuất hiện một vài
chu kỳ nước rất nhỏ.
- Dao động của dòng chảy năm của 6 trạm không đồng bộ với nhau. Ở mức
độ nhất định, có thể coi các cặp trạm Hoà Bình và Yên Bái, Sơn Tây và Hà
Nội là những cặp trạm có dao động dòng chảy năm trong thời kỳ nhiều năm
Sơn Tây
Hà Nội
Thượng Cát
Bảng 2.6.
Mùa lũ
Thời gian
Tổng lượng
(% so với năm)
VI - X
75,12
VI - X
70,21
VI - X
71,88
VI - X
72,84
VI - X
70,89
VI - X
77,35
Mùa kiệt
Thời gian
Tổng lượng
(% so với năm)
XI - V
24,88
XI - V
(m3/s)
∑QML
(m3/s)
% so
với
năm
∑QMK
(m3/s)
% so
với
năm
Hoà
Bình
20163
15766
78,19
4397
21,81
21231
17,84
Vụ
Quang
12287
8881
72,28
3406
27,72
12803
8973
70,08
2655
20,74
18
∑QML
(m3/s)
∑QML
(m3/s)
% so
với
năm
∑QMK
(m3/s)
% so
với
năm
Sơn
Tây
42396
31682
74,73
10714
25,27
42038
29731
Cát
10616
8386
78,99
2230
21,01
11843
8913
75,26
1848
15,60
∑QML
(m3/s)
∑QMK
% so
với năm (m3/s)
% so
Hồng cũng thay đổi. Để đánh giá được sự thay đổi đó tiến hành tính toán tỷ lệ
nhập lưu của ba nhánh sông Đà, Thao, Lô vào sông Hồng của hai thời kỳ
trước và sau khi có hồ Hòa Bình. Các kết quả tính toán này cho thấy:
- So với thời kỳ trước khi có hồ Hòa Bình, tỷ lệ đóng góp nước của sông
Đà vào sông Hồng trong mùa lũ thời kỳ sau khi có hồ Hòa Bình giảm 2%
- Ngược lại, so với thời kỳ trước khi có hồ Hòa Bình, tỷ lệ đóng góp nước
của sông Đà vào sông Hồng trong mùa kiệt thời kỳ sau khi có hồ Hòa Bình
tăng 13%
Bảng 2.7.
Tỷ lệ đóng góp dòng chảy mùa của ba nhánh Đà, Thao, Lô vào
sông Hồng thời kỳ trước và sau khi có hồ Hòa Bình (%)
Mùa lũ
Sông
Đặc trưng
TKTHB
Mùa kiệt
TKSHB
TKTHB
TKSHB
∑Q
7656
55
Thao
QYB /QHB+ QYB+
QVQ
6536
21
6185
22
2655
25
2596
19
Lô
QVQ /QHB+ QYB+
QVQ
Dự án: Rà soát bổ sung quy hoạch chỉnh trị sông hạ du thủy điện Hòa Bình
Lượng dòng chảy của tháng cực đại rất lớn, chiếm từ 19% đến 23% tổng
lượng dòng chảy cả năm và lớn gấp từ 7 đến 15 lần lượng dòng chảy tháng
cực tiểu. Ngược lại, lượng dòng chảy của tháng cực tiểu rất nhỏ, chỉ chiếm từ
1,5% đến 2,5% tổng lượng dòng chảy năm. Ba tháng có dòng chảy lớn nhất
trong năm của thời kì này là các tháng VII, VIII, IX. Tổng lượng dòng chảy
của ba tháng này chiếm tới từ 50% đến 58% tổng lượng dòng chảy năm. Ba
tháng có dòng chảy kiệt nhất thường là các tháng II, III, IV (hoặc I, II, III) với
tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm khoảng từ 5% đến 9% tổng lượng dòng chảy
năm. Tổng lượng dòng chảy của ba tháng lũ lớn nhất lớn gấp từ 6 đến 12 lần
tổng lượng dòng chảy của 3 tháng kiệt nhất.
- Mô hình phân phối dòng chảy trong năm của thời kỳ sau Hoà Bình tại tất
cả các trạm cũng đều có dạng một đỉnh. Tháng có dòng chảy cực đại thường
là tháng VII hoặc VIII và tháng có dòng chảy cực tiểu thường là tháng II hoặc
III. Lượng dòng chảy của tháng cực đại vẫn rất lớn, chiếm từ 17% đến 24%
tổng lượng dòng chảy cả năm và lớn gấp từ 2,5 đến 3 lần lượng dòng chảy
tháng cực tiểu. Lượng dòng chảy của tháng cực tiểu rất nhỏ, chỉ chiếm từ
2,5% đến 3% tổng lượng dòng chảy năm. Ba tháng có dòng chảy lớn nhất
trong năm của thời kỳ này là các tháng VI, VII, VIII (hoặc VII, VIII, IX).
Lượng dòng chảy của ba tháng này chiếm tới 50 đến 58% tổng lượng dòng
chảy của toàn năm và lớn gấp từ 6 đến 12 lần tổng lượng dòng chảy của 3
tháng kiệt nhất. Ba tháng có dòng chảy nhỏ nhất thường là các tháng I, II, III
(hoặc II, III, IV). Tổng lượng dòng chảy của ba tháng này rất nhỏ, chỉ chiếm
từ 5% đến 8% tổng lượng dòng chảy năm.
- Với vai trò điều tiết dòng chảy, hồ Hòa Bình có ảnh hưởng rõ rệt đến sự
phân phối lượng dòng chảy năm theo tháng trên sông Đà và sông Hồng ở hạ
lưu đập. So với thời kỳ trước khi có hồ Hoà Bình, biên độ dòng chảy tháng
trong năm tại các trạm ở hạ lưu đập đều giảm đi đáng kể. Mức độ giảm càng
về hạ lưu càng yếu dần. So với thời kỳ trước khi có hồ Hòa Bình, tỷ số giữa
500
1000
Th¸ng
0
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XI
XII
Yªn B¸i
Q(m3/s)
Q(m3/s)
10000
3000
8000
2500
2000
6000
1500
4000
1000
2000
500
Th¸ng
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
XI
XII
S¬n T©y
Vô Quang
Q(m3/s)
Q(m3/s)
7000
2500
VII
VIII
Hµ Néi
IX
X
XI
XII
Th¸ng
0
I
II
III
IV
V
VI