RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TAM GIÁC PHÁT TRIỂN CAMPUCHIA - LÀO - VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 - Pdf 34

BÁO CÁO TỔNG HỢP

RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG
QUY HOẠCH TỔNG THỂ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TAM GIÁC PHÁT TRIỂN
CAMPUCHIA - LÀO - VIỆT NAM
ĐẾN NĂM 2020

Tháng 11 năm 2010


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
PHẦN THỨ NHẤT - RÀ SOÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH .........3
I. Giới thiệu chung về Tam giác Phát triển............................................................3
II. Thực trạng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và so với
Quy hoạch 2004 .....................................................................................................5
III. Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng và so với Quy hoạch 2004 ...................7
IV. Thực trạng phát triển nông lâm nghiệp và so với Quy hoạch 2004 ..............18
V. Thực trạng phát triển khu vực dịch vụ và so với Quy hoạch 2004.................28
VI. Thực trạng phát triển công nghiệp và so với Quy hoạch 2004 .....................40
VII. Thực trạng phát triển các lĩnh vực xã hội và so với Quy hoạch 2004 .........45
VIII. Thực trạng bảo vệ môi trường ....................................................................64
IX. Các vấn đề an ninh - quốc phòng, biên giới ..................................................66
X. Cơ chế, chính sách phối hợp, hợp tác .............................................................67
XI. Đánh giá chung về tình hình thực hiện Quy hoạch và các lợi thế, hạn chế,
cơ hội, thách thức của Tam giác Phát triển..........................................................68
PHẦN THỨ HAI - ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TAM GIÁC PHÁT TRIỂN
CAMPUCHIA - LÀO - VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 ..........................................71


ii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

BTA

Hiệp định thương mại song phương

CLV

Campuchia - Lào - Việt Nam

DNVVN

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

DMG

Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

ĐT

Đường tỉnh

EVN


ODA

Hỗ trợ phát triển chính thức

QH

Quy hoạch

QL

Quốc lộ

TGPT

Tam giác phát triển

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TKV

Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam

USD

Viêng Chăn tháng 11 năm 2008 các Thủ tướng Chính phủ ba nước đã yêu cầu
cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch TGPT.
Tại Hội nghị Ủy ban Điều phối chung ba nước về TGPT tại Đăk Lăk ngày
21-22 tháng 12 năm 2009, ba nước nhất trí bổ sung tỉnh Bình Phước (Việt Nam),
tỉnh Kratie (Campuchia) và tỉnh Champasak (Lào) vào TGPT Campuchia - Lào Việt Nam.
Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội khu vực TGPT
được thông qua năm 2004 chủ yếu mới được định hướng đến năm 2010, do vậy
các dự báo tăng trưởng, cơ cấu kinh tế và định hướng phát triển ngành, lĩnh vực,
tổ chức lãnh thổ, các dự án ưu tiên đầu tư đến năm 2020 về cơ bản là được xây
dựng mới. Đây chính là các nội dung chính của việc điều chỉnh bổ sung quy
hoạch khu vực TGPT lần này.
1


Báo cáo rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch TGPT Campuchia - Lào Việt Nam đến năm 2020 bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Phần thứ nhất - Rà soát tình hình thực hiện Quy hoạch
Phần thứ hai - Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam đến năm 2020
Phần thứ ba - Các giải pháp, cơ chế, chính sách thực hiện Quy hoạch
Phụ lục - Danh mục các dự án ưu tiên đầu tư
Hệ thống bản đồ quy hoạch.
Dưới đây là báo cáo Rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam đến năm
2020.

2


PHẦN THỨ NHẤT


154,6
57,7
324,9

12.016
10.782
14.288
11.094

9
14
4
29

3 tỉnh theo QH 2004
320,9
37.086
9
4 tỉnh
645,8
48.180
13
- Vùng 3 tỉnh Nam Lào là Sekong, Attapeu, Saravan với diện tích tự nhiên
khoảng 28.676 km2. Dân số năm 2009 là 560 nghìn người, mật độ dân số gần 20
người/km2.
Biểu 2. Diện tích, dân số và mật độ dân số các tỉnh của Lào năm 2009
Chỉ tiêu
Saravan
Sekong
Attapeu

560,0
1.204,8

28.676
44.026

20
28

3

2


- Vùng 4 tỉnh thuộc Tây Nguyên của Việt Nam là Kon Tum, Gia Lai và
Đắk Lắk, Đăk Nông với diện tích tự nhiên 44.868 km2. Dân số trung bình năm
2009 là 3.935,6 nghìn người, mật độ dân số 88 người/km2.
Biểu 3. Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số
các tỉnh Việt Nam năm 2009
Chỉ tiêu

Dân số
(nghìn người)

Diện tích
(km2)

Mật độ dân số
(người/km2)


Bình Phước

877,5

6.874,4

128

4 tỉnh theo QH 2004

3.935,6

44.868,4

88

5 tỉnh

4.813,1

51.742,8

93

Kon Tum

2. Khu vực 3 tỉnh mới bổ sung năm 2009
- Tỉnh Kratie (Campuchia): Kratie là một tỉnh nằm ở khu vực Đông Bắc
Campuchia, tiếp giáp với các tỉnh Stung Treng và Mondul Kiri (Campuchia) và
tỉnh Bình Phước (Việt Nam) trong TGPT. Diện tích của tỉnh Kratie là 11.094

thái và quốc phòng an ninh của mỗi nước.
II. THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ VÀ SO VỚI QUY HOẠCH 2004
1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Kinh tế khu vực TGPT đã có bước tăng trưởng cao so với tốc độ tăng
trưởng bình quân của mỗi nước và so với quy hoạch
Mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong các
năm 2008-2009, kinh tế của toàn khu vực TGPT trong giai đoạn 2004-2009 vẫn
có tốc độ tăng trưởng khá. Các tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam trong TGPT đã
đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 13%/năm (tổng hợp từ số liệu thống kê các
tỉnh). Xem xét trong tổng thể cả nước, giảm phần tính trùng giữa các tỉnh, tốc độ
tăng trưởng kinh tế đạt bình quân khoảng 10%/năm. Các tỉnh của Campuchia và
Lào cũng đạt và vượt so với dự kiến trong quy hoạch (bình quân các tỉnh của
Lào là 12,9% và Campuchia là 9,4%). Tính chung cả khu vực TGPT trong giai
đoạn vừa qua tăng khoảng 10,2%/năm.
Biểu 4. So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế với Quy hoạch 2004
Đơn vị: %/năm
Địa phương
Các tỉnh Campuchia
Các tỉnh Lào
Các tỉnh Việt Nam
Khu vực TGPT

Quy hoạch 2004
7,4 - 8,1
8,0 - 8,3
8,3 - 9,0
8,4 - 9,0

Thực hiện 2005-2009

Mục tiêu đến
năm 2010 theo
QH 2004
100,0
53,6-55,6
27,1-29,0
17,3-17,4


Chỉ tiêu

Năm 2002

Năm 2009

Các tỉnh của Lào
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
Các tỉnh của Việt Nam
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
Tam giác phát triển (13 tỉnh)
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ

100,0
67,2

17,8-16,1
100,0
49,5-51,9
23,1-24,2
25,0-26,3

2. Đánh giá chung về trình độ phát triển
Về trình độ phát triển, năm (5) tỉnh của Việt Nam có trình độ sản xuất khá
hơn, bước đầu đã hình thành sản xuất nông nghiệp hàng hoá với các sản phẩm
nông nghiệp chủ lực như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu, điều. Công nghiệp và dịch
vụ cũng phát triển tương đối nhanh với một số ngành hàng có quy mô và hàm
lượng công nghệ khá như công nghiệp chế biến nông lâm sản, khai thác và chế
biến khoáng sản, thủy điện... Dịch vụ cũng phát triển khá, nhất là xây dựng khá
hoàn chỉnh mạng kết cấu hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước và phát triển
bưu chính, viễn thông. Đã hình thành các trung tâm dịch vụ ở các thành phố, thị
xã của các tỉnh, tuy nhiên trình độ công nghệ và quy mô sản xuất kinh doanh
chưa cao. Bốn (4) tỉnh của Lào và bốn (4) tỉnh của Campuchia sản xuất hàng
hóa chưa phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính tự nhiên, tự cấp, tự túc.
Thương mại chưa phát triển, chỉ có một số doanh nghiệp tư nhân đảm nhận dịch
vụ cung cấp nhu yếu phẩm và hàng tiêu dùng cho dân cư. Hạ tầng giao thông,
cấp điện, cấp nước mới đang được đầu tư xây dựng. Dịch vụ, du lịch phát triển
còn chậm so với tiềm năng.
Điểm xuất phát còn thấp, quy mô kinh tế nhỏ bé, dẫn tới GDP bình quân
đầu người năm 2009 của toàn khu vực TGPT đạt 757 USD, chỉ bằng khoảng
74,6% mức bình quân chung ba nước. Trong đó: 4 tỉnh của Campuchia có
GDP/người đạt khoảng 470 USD, bằng 62,5% so với bình quân chung của cả
nước; 4 tỉnh của Lào có GDP/người đạt khoảng 768 USD, bằng 81,3% so với
bình quân chung của cả nước; 5 tỉnh của Việt Nam có GDP/người đạt khoảng
792 USD, bằng 74,5% so với bình quân chung của cả nước.


năm 2009. Đoạn còn lại dài 124km từ O Pong Moan tới Ban Lung đang thi công
và nâng cấp lên cấp III, trải nhựa.
- Đường 78A xuất phát từ Đường 78 ở Ban Lung và nối với Đường 1J của
Lào với tổng chiều dài 150km, trong đó có 80km đường đất và đá cấp phối,
đoạn còn lại dài 70km đang quy hoạch.
- Đường 76 xuất phát từ Đường 7 (huyện Snuol, tỉnh Kratie) tới Ta Ang
thuộc tỉnh Rattanak Kiri, nối vào đường 78 tại Km 8 từ Ban Lung, tỉnh lỵ của
Rattanak Kiri. Con đường này chạy qua huyện Lumphat (tỉnh Rattanak Kiri),
Koh Nhek (tỉnh Mondul Kiri) và Sen Monorom, tỉnh lỵ Mondul Kiri với tổng
chiều dài khoảng 306km. Dự án cải tạo Đường 76 nối Snuol và tỉnh lỵ Mondul
Kiri với chiều dài 127 km (đường trải nhựa, bề rộng mặt đường 11m) đang sắp
hoàn thành. Đoạn 179km từ Sen Monorom (tỉnh lỵ Mondul Kiri) tới Ta Ang
(tỉnh Rattanak Kiri) vẫn là đường đất với bề rộng mặt đường 4m đến 5m.
7


Nghiên cứu khả thi cho đoạn còn lại đang được nhóm nghiên cứu của Trung
Quốc tiến hành.
- Đường 376 bắt đầu từ Đường 7 tại Km 282 + 100 (tại núi Prich, tỉnh
Kratie), đi qua Mondul Kiri (dài 111 km), nối với đường tỉnh 3766 (Chi Mit cửa khẩu Đăk Ruê, Việt Nam). Đường có tổng chiều dài 95 km, vẫn là đường
đất và đá cấp phối.
- Đường 3764 bắt đầu từ Đường 76 tới Nam Lear (huyện Pechreada, tỉnh
Mondul Kiri) và cửa khẩu Đăk Bờ (tỉnh Đăk Nông, Việt Nam) với tổng chiều
dài 60 km.
- Đường nối từ huyện Keo Seima qua O Raing, Pechreada tới huyện Koh
Nhek dài khoảng 286 km, tiếp tục kéo dài tới các tỉnh của Việt Nam (Bình
Phước, Đăk Nông, Đăk Lăk).
- Đường 75 bắt đầu từ Đường 76 (huyện Koh Nhek) nối với Đường 78 tại
xã Royor Leu, tổng chiều dài 101 km.
b) Các tỉnh của Lào

Ngoài việc xây dựng những tuyến đường chính như đã nêu, đã tiến hành
công tác khảo sát và thiết kế, xây dựng, sửa chữa, nâng cấp và mở rộng một số
đoạn đường (bao gồm đường cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, thị trấn và
đường giao thông nông thôn) với tổng chiều dài 2.699 km. Thêm vào đó, có 44
cây cầu được khảo sát, thiết kế, xây dựng và duy tu bảo dưỡng, đặc biệt là dự án
xây dựng cầu Sekaman trong khuôn khổ hợp tác khu vực TGPT với nguồn tài
trợ trị giá 2,6 triệu USD từ Chính phủ Nhật Bản bên cạnh khoản đầu tư 5 triệu
USD của Chính phủ Lào. Dự án đã khởi công và hiện vẫn đang trong giai đoạn
thiết kế chi tiết.
Theo số liệu do tỉnh Saravan và Champasak cung cấp, có 845 làng có thể
tiếp cận các tuyến đường trên trong hai mùa, 438 làng chỉ có thể đi lại trên
những đoạn đường này vào mùa khô, 97 làng không ở gần tuyến đường giao
thông nào và 97 làng khác nằm trên các cù lao chủ yếu đi lại bằng thuyền. Ở
tỉnh Sekong và Attapeu còn nhiều làng dân cư không được tiếp cận các tuyến
đường giao thông, nhưng không có số liệu thống kê đầy đủ.
c) Các tỉnh Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong TGPT đã
và đang tập trung đầu tư các dự án quan trọng như: Đường Hồ Chí Minh (QL
14), nâng cấp nhiều tuyến quốc lộ như: 14C, 19, 24, 25, 26, 27, 28, 40, 13. Hầu
hết các tuyến đạt tiêu chuẩn cấp III, IV, V, các đoạn qua thành phố, thị xã và
một số thị trấn đạt cấp II hoặc đường đô thị. Đang triển khai xây dựng đường
Trường Sơn Đông, nâng cấp một số đoạn của tuyến hành lang biên giới.
Các tuyến tỉnh lộ và mạng lưới giao thông nông thôn trên địa bàn các tỉnh
Tây Nguyên và tỉnh Bình Phước cũng từng bước được cải tạo, nâng cấp, đáp
ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
1.2 Hàng không
a) Các tỉnh Campuchia
Các sân bay trong bốn tỉnh khu vực TGPT đã phải tạm thời đóng cửa do
hạ tầng yếu kém. Đến nay, ngoài công tác thiết kế đang được tiến hành bằng
nguồn tài trợ quốc tế, hiện vẫn chưa có dự án cải tạo nào khác được khởi động

trong các lĩnh vực được quan tâm của cả ba nước trong quá trình thực hiện quy
hoạch tổng thể TGPT CLV.
Các công trình thuỷ điện lớn đã và đang được đầu tư tại các địa phương
trong TGPT, đặc biệt là tại các tỉnh Tây Nguyên và Nam Lào.
Mạng lưới cấp điện cũng được đầu tư xây dựng, nâng cấp, kể cả khu vực
đô thị và nông thôn. Tại khu vực biên giới Việt Nam đã cung cấp điện cho một
số địa phương của Campuchia và Lào.
2.2 Hiện trạng cấp điện mỗi nước
a) Các tỉnh Campuchia
Khả năng cung cấp điện hiện nay chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tại các tỉnh lỵ và
một số huyện lớn của bốn tỉnh. Campuchia đã không ngừng nỗ lực nhằm cung
cấp điện cho tất cả các hộ gia đình và giảm giá điện thông qua việc nhập khẩu
điện từ các nước láng giềng và xây dựng đập thủy điện trong vùng, trong bối
cảnh nơi đây còn nhiều địa điểm tiềm năng chưa được khai thác.
Từ đầu năm 2010, Stung Treng đã nhập khẩu điện của Lào với công suất
2MW bằng đường truyền tải 22 KV. Giá điện vì vậy đã giảm từ 2.000 xuống
còn 980 riel/KWh. Dự báo trong tương lai nhu cầu điện sẽ tăng lên 50MW vào
năm 2020 nếu mọi hộ gia đình ở Stung Treng đều được cấp điện.
Ở Rattanak Kiri, nhờ việc xây dựng đập thủy điện nhỏ ở O Chum (công
suất 1MW), giá điện hiện nay chỉ khoảng 670 riel/KWh. Ngoài ra, tỉnh còn có
một nguồn cung khác với công suất 1MW. Do vẫn chưa đáp ứng được toàn bộ
nhu cầu trong tỉnh, Chính phủ Campuchia đã thỏa thuận với Chính phủ Việt
10


Nam về việc nhập khẩu điện cho tỉnh thông qua đường dây tải điện 35KV. Hiện
tại các mạng lưới điện và các trụ tải điện đang được xây dựng. Riêng tỉnh lỵ Ban
Lung hiện cần nguồn cung 3MW, dự báo lên tới 8MW vào năm 2013, điều này
cho thấy năng lực cung cấp điện hiện nay hết sức yếu kém và nhu cầu điện trong
tương lai gần sẽ ở mức cao.

trong khu vực TGPT và tỷ lệ được cấp điện còn thấp.
Mặc dù mạng lưới điện đã được mở rộng để phục vụ sản xuất và nâng cao
đời sống người dân nhưng vẫn chỉ cung cấp điện được tới số ít làng và hộ gia
đình, cụ thể là vẫn còn một huyện không tiếp cận được điện lưới và 7 huyện
miền núi chỉ có điện tại khu vực huyện lỵ còn các làng ở vùng ngoại ô thì hoàn
toàn chưa có điện. Ngoài ra, hệ thống đèn đường ở các thị trấn trong tỉnh vẫn
chưa đáp ứng tiêu chuẩn chiếu sáng đô thị.
11


c) Các tỉnh Việt Nam
Trong thời gian qua, nhiều dự án quan trọng trên địa bàn các tỉnh Tây
Nguyên trong TGPT đã đưa vào sử dụng như: nhà máy thủy điện Sê San 3 (260
MW), Sê San 3A (100 MW), H'Chan (12 MW), Drây H'Linh (16 MW), Sông Ba
Hạ (220 MW), Preikrông (100 MW), Buôn Kuôp (280 MW); Sê San 4 (360
MW), Srepok 3 (220 MW), An Khê - Kanak (173 MW), Buôn Tua Srah (86
MW)...
Đã hoàn thành các đường dây 500 KV: Đoạn Pleiku - Dốc Sỏi - Đà Nẵng
mạch 2 mới, chiều dài 297 km; đoạn Pleiku - Phú Lâm mạch 2 mới, chiều dài
542 km; đoạn Pleiku - Yaly mạch kép dài 20 km nhận điện từ Nhà máy thủy
điện Yaly.
Hoàn thành cải tạo lưới điện 3 thành phố Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma
Thuột. Các thôn, buôn của các tỉnh Tây Nguyên trong TGPT cũng đã được đầu
tư theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho Chương trình cấp điện 1.200
thôn, buôn chưa có điện khu vực Tây Nguyên.
3. Bưu chính - viễn thông
3.1 Đánh giá chung
Mạng lưới bưu chính viễn thông tại các địa phương trong TGPT đã phát
triển khá nhanh, đặc biệt là tại các địa phương của Việt Nam. Về cơ bản đã đáp
ứng được nhiệm vụ thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc

truyền hình Quốc gia (TVK) và kênh truyền hình Bayon. Dịch vụ truyền hình
cáp chỉ mới được cung cấp tại bốn tỉnh lỵ và một số huyện lớn. Vẫn còn có tỉnh
chưa có đài phát thanh riêng.
b) Các tỉnh của Lào
- Bưu chính
Nhìn chung, hệ thống bưu chính trong khu vực TGPT chưa phát triển
rộng rãi. Chỉ có bốn bưu điện trong khu vực TGPT, đây là các chi nhánh của
Bưu điện Trung ương Lào (trụ sở tại Thủ đô Viêng Chăn). Cho dù nhiều huyện
trong tỉnh đã có bưu điện nhưng những bưu điện này chưa mở rộng mạng lưới
chi nhánh tới các cụm làng (kumban) và các làng. Hệ thống vận chuyển bưu
phẩm chưa được kết nối giữa các tỉnh. Đặc biệt là mặc dù khu vực TGPT có
biên giới với Việt Nam, Campuchia và Thái Lan nhưng chưa có sự hợp tác, liên
kết về vận chuyển bưu phẩm. Bưu phẩm vẫn phải được tập trung ở Bưu điện
Trung ương Lào tại Thủ đô Viêng Chăn trước khi được đưa tới các chi nhánh
cấp tỉnh trên toàn quốc. Do đó, các giao dịch thường kéo dài và chi phí cao. Đây
là lý do chính khiến dịch vụ bưu chính ở Lào chưa phổ biến.
Nhìn chung, khối lượng bưu phẩm chuyển phát ở khu vực TGPT còn nhỏ,
tỷ lệ tăng trưởng thấp. Đặc biệt là dịch vụ chuyển phát tài liệu và thư trong nước
có xu hướng giảm do sự gia tăng nhanh chóng của viễn thông và vận tải.
- Viễn thông
Tốc độ tăng trưởng mạng lưới viễn thông trong khu vực TGPT vẫn còn
mức thấp nếu so với tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành trên phạm vi cả
nước. Phương tiện liên lạc chủ yếu là điện thoại di động. Hiện nay có bốn công
ty tham gia kinh doanh viễn thông di động ở khu vực TGPT. Mạng điện thoại di
động bao phủ tất cả các huyện, thị trong khu vực TGPT và tỷ lệ sử dụng đạt 99
máy trên 1.000 dân.
Tiếp theo có thể kể đến dịch vụ điện thoại cố định, được coi là phương
tiện liên lạc quan trọng cho các văn phòng, đặc biệt đối với sử dụng fax và
Internet. Toàn bộ khu vực TGPT có 4 trung tâm dịch vụ viễn thông cố định.
Dịch vụ Internet mới xuất hiện và chưa phát triển. Khu vực TGPT hiện

vùng đã đạt tỷ lệ 100% xã có máy điện thoại.
Trong vùng đã có hầu hết các mạng điện thoại di động như Mobifone,
Vinaphone, S-Fone, Viettel Mobile, EVN Telecom và Hà Nội Telecom. Tất cả
các huyện, thị xã, thành phố trong vùng đều đã có trạm thu phát sóng.
Toàn vùng đã được cung cấp dịch vụ Internet bởi các nhà cung cấp chính
là VDC (Công ty Điện toán và Truyền số liệu), FPT (Công ty Cổ phần FPT),
Netnam và một số nhà cung cấp khác. Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng
được cung cấp chủ yếu tại các thành phố, thị xã và một số khu đô thị. Các doanh
nghiệp viễn thông đã cung cấp hầu hết các loại hình dịch vụ viễn thông và
Internet.
Cùng với việc gia tăng các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet,
tính đến năm 2009 mật độ điện thoại cố định các địa phương Việt Nam trong
TGPT đã đạt khoảng 15 máy/100 dân. Điện thoại di động phát triển với tốc độ
nhanh, tăng trưởng hàng năm đạt trên 50%.
Hiện nay, các tỉnh trong vùng đều đã trang bị được máy tính và thiết lập
được các mạng LAN để kết nối CPNet và Internet, hầu hết các cơ quan, đơn vị
đều có sử dụng phần mềm ứng dụng nhưng chủ yếu là phần mềm kế toán và
quản lý nhân sự. Trang thông tin điện tử của các tỉnh và các sở, doanh nghiệp
cũng đã đi vào hoạt động.
14


4. Thuỷ lợi, cấp nước
4.1 Đánh giá chung
Thuỷ lợi là một trong các lĩnh vực được ba nước quan tâm đầu tư. Các hồ
chứa lớn, đập dâng, các trạm bơm điện được xây dựng phục vụ tưới cho các loại
cây trồng như lúa, cà phê, màu, cây công nghiệp khác, đồng thời tạo nguồn cấp
nước cho đô thị, công nghiệp, dân sinh và góp phần cải tạo môi trường. Tuy
nhiên hiện nay diện tích đất chỉ được canh tác vào mùa mưa là rất lớn, đặc biệt
là tại các địa phương Lào và Campuchia.

Rattanak Kiri chỉ là 50 m3/giờ trong khi nhu cầu của tỉnh là khoảng 500 m3/giờ.
1

2

Sở Tài nguyên nước và Khí tượng tỉnh Kratie, 06/04/2010
Sở Tài nguyên nước và Khí tượng tỉnh Kratie, 06/04/2010

15


Tại Stung Treng, công suất cấp nước là 120 m3/giờ trong khi nhu cầu của tỉnh là
khoảng 150 m3/giờ. Sự thiếu hụt giữa năng lực cấp nước so với nhu cầu được thể
hiện rõ nhất ở Rattanak Kiri, nơi thiếu nước sạch trầm trọng. Một điểm quan
trọng là từ năm 2004 đến năm 2009, giá nước không giảm; ở Stung Treng, giá
nước vẫn giữ ở mức 1.500 riel/m3 trong suốt giai đoạn này. Thậm chí, ở Rattanak
Kiri, giá nước lại tăng từ 900 lên 1.200 riel/m3; ở Kratie, giá nước còn tăng nhiều
hơn so với Rattanak Kiri, từ 900 lên 1.400 riel/m3. Tình trạng thất thoát nước
trong quá trình phân phối đã được cải thiện: từ năm 2004 đến 2009 tỷ lệ thất thoát
giảm từ 35% xuống 26% tại Stung Treng, từ 35% xuống 23% tại Kratie và từ
35% xuống 17% tại Rattanak Kiri. Năm 2010, hai dự án do Nhật Bản tài trợ (Dự
án cung cấp nước sạch cho tỉnh lỵ Rattanak Kiri và Dự án cung cấp nước sạch
cho Sen Monorom, Mondul Kiri) đã được thực hiện. Ở tỉnh lỵ Kratie và Stung
Treng, dự án Nước sạch và Vệ sinh cho ba nước vùng sông Mekong (Campuchia,
Lào và Việt Nam) do Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tiến hành đã hoàn
thành giai đoạn nghiên cứu. Một dự án của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
(USAID) cũng đang được thực hiện để cải thiện tình hình cung cấp nước sạch tại
các tỉnh này.
b) Các tỉnh của Lào
- Thủy lợi

và mở rộng mạng lưới cấp nước trong tỉnh lỵ, bao gồm các dự án nâng cấp và
mở rộng hệ thống cấp nước cho các làng Samakhixay và Sekaman, dự án nâng
cấp và mở rộng đường ống dẫn nước khu vực Tatphork-Layao.
Tỉnh Sekong: đã hoàn thành một số dự án cấp nước cho các thị trấn huyện
lỵ Kaleum và Dakcheung, dự án cấp nước cộng đồng cho các làng Toksaming
và Chounla thuộc huyện Thateng.
Tỉnh Saravan: đã hoàn thành một số dự án cấp nước cho huyện lỵ
Khongxedone và đã hoàn thành công tác thiết kế - khảo sát cho giai đoạn 2 của
dự án cấp nước cho tỉnh lỵ Saravan.
Tỉnh Champasak: hoàn thành dự án cấp nước cho các huyện lỵ Khong và
Phonthong nhờ nguồn vốn vay từ ADB, công suất cấp nước 2.530 m3/ngày,
cung cấp cho 17 làng. Ngoài ra, đã kết thúc nghiên cứu khả thi dự án cấp nước
tại làng Khinak, huyện Khong.
c) Các tỉnh Việt Nam
- Thủy lợi
Trong giai đoạn vừa qua trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong TGPT đã
có nhiều công trình thủy lợi lớn được nhà nước đầu tư như: hệ thống Ia Yun Hạ,
hệ thống thủy lợi Ea Soup Hạ (sửa chữa nâng cấp), Ea Soup Thượng (hồ đập và
hệ thống kênh mương làm mới), thủy lợi Hà Ra, hồ Ia Lâu (nâng cấp, mở rộng),
hồ Đắk Lôh, hồ Ea H'Leo, hồ Ia Mơr (xây dựng mới), hồ Mlăh, hồ Ia Ring.
Ngoài ra có rất nhiều các công trình thủy lợi vừa và nhỏ khác do các tỉnh đầu tư
đã được đưa vào sử dụng. Tổng cộng đã xây dựng được 1.500 công trình thủy
lợi gồm hồ chứa, đập dâng, các trạm bơm phục vụ tưới được gần 70-75 ngàn các
loại cây trồng như lúa, cà phê, màu, cây công nghiệp, đồng thời tạo nguồn cấp
nước cho đô thị, công nghiệp, dân sinh và góp phần cải tạo môi trường.
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều công trình thủy lợi đã không phát huy
được hiệu quả như mong muốn. Tỷ lệ giữa diện tích thực tưới và diện tích tưới
theo thiết kế của các công trình thủy lợi hiện có chỉ đạt khoảng 60%. Các
nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu hệ thống mương máng dẫn nước vào
đồng ruộng (công trình thủy lợi Ea Soup Hạ, Ea Soup Thượng), có kênh mương

dựng, các công trình cấp nước gia đình, kiểu giếng khoan đường kính nhỏ đã phát
triển mạnh, việc cải tạo giếng khơi được chú ý... Các phương thức cấp nước chủ
yếu hiện nay ở vùng là giếng đào, giếng khoan, lu nước mưa, hệ thống cấp nước
tập trung và các công trình cấp nước tự chảy qua bể lắng lọc và giếng khoan. Đến
năm 2009 tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh đạt khoảng 65%.
IV. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ SO VỚI
QUY HOẠCH 2004
1. Đánh giá chung
Nhìn chung các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp trong
khu vực TGPT đã đạt được mục tiêu đề ra trong quy hoạch trước đây.
Một trong những lĩnh vực phát triển nhanh hơn so với mục tiêu đề ra
trong quy hoạch 2004 là lĩnh vực hợp tác trồng cây công nghiệp dài ngày.
Chỉ tính riêng cây cao su, đến nay các doanh nghiệp của các tỉnh Tây
Nguyên đã được phía Lào cấp phép trên 26.700 ha (trong đó đã trồng trên 16
nghìn ha), phía Campuchia cấp phép trên 22.800 ha (trong đó đã trồng trên 2
nghìn ha) và chuẩn bị cấp thêm 42.000 ha. Hiện nay tại tỉnh Mondul Kiri có 11
công ty đầu tư trồng cao su với tổng diện tích 71.753 ha; tỉnh Rattanak Kiri có 7
công ty và 33.767 ha trồng cao su; tỉnh Stung Treng có 12 công ty đầu tư trồng
các loại cây trên diện tích 156.841 ha, trong đó có 5 công ty trồng cao su với
diện tích 41.517 ha.
18


Tại Lào các doanh nghiệp Việt Nam đã tổ chức đào tạo thợ lái máy nông
nghiệp, đào tạo kỹ thuật trồng, chăm sóc cao su cho con em cán bộ và nhân dân
trong vùng dự án tại các tỉnh Saravan và Attapeu.
2. Thực trạng phát triển nông nghiệp mỗi nước
a) Các tỉnh Campuchia
Trồng trọt là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khu vực nông nghiệp,
đóng góp 52,9% tổng sản lượng nông nghiệp trong năm 2009, tiếp theo là thuỷ

Kiri (bốn công trình vẫn đang hoạt động), và 18 ở Mondul Kiri (không có công
trình nào hoạt động, năm công trình đang được sửa chữa).
Diện tích trồng lúa mùa khô ở Kratie đã tăng từ 8.052 ha năm 2004 lên
14.036 ha vào năm 2009. Với sự phát triển của các hệ thống thủy lợi, khu vực
19


TGPT vẫn còn khả năng tăng sản xuất lúa gạo bằng cách trồng lúa thêm vào
mùa khô (tăng gấp đôi vụ) mà không cần mở rộng diện tích canh tác.
- Cao su
Tổng số diện tích trồng cao su của Campuchia là 129.920 ha, được chia
thành 46.892 ha đồn điền cao su nông - công nghiệp, 22.349 ha đồn điền trên đất
kinh tế cho thuê, và 60.680 ha đồn điền cao su của các hộ gia đình (MAFF
2010). Phần lớn các đồn điền cao su nông-công nghiệp nằm ở tỉnh Kampong
Cham.
Trong số các đồn điền cao su nông - công nghiệp ở khu vực TGPT, chỉ có
2.721 ha là ở Rattanak Kiri và 2.878 ha tại Kratie đã được trồng từ lâu. Việc
tăng diện tích trồng cao su của khu vực TGPT chủ yếu là do việc mở rộng cho
thuê đất làm kinh tế, và đồn điền cao su của các hộ gia đình. Một nửa trong số
các đồn điền cho thuê, chiếm 14.934 ha, và khoảng 25% đồn điền hộ gia đình,
chiếm 14.859 ha, nằm trong các tỉnh khu vực TGPT.
Tiềm năng phát triển đồn điền cao su là rất lớn vì thổ nhưỡng phù hợp; ví
dụ: Rattanak Kiri có 323.460 ha đất có tiềm năng phát triển cây cao su. Điều này
được chứng minh qua các số liệu trong Biểu 6 cho thấy 676.952 ha đất đã được
chính phủ cấp cho các công ty cho thuê đất làm kinh tế để phát triển cây công
nghiệp. Hầu hết các vùng đất cho thuê này được trồng cao su.
Nhằm phát triển kinh tế địa phương và bảo đảm cho người dân được
hưởng lợi thích đáng từ tiềm năng phát triển cây công nghiệp quy mô lớn, việc
ưu tiên tuyển dụng và đào tạo của người dân địa phương là cần thiết. Để hưởng
lợi từ sản xuất cây công nghiệp, cần thúc đẩy chế biến sản phẩm nông nghiệp


101

195,114

200,555

81,458

200,125

676,952

Quy mô (ha)

Nguồn: Sở Nông nghiệp các tỉnh (2009)
- Những cây trồng chủ yếu khác
Khu vực TGPT giữ vai trò đáng kể trong sản xuất một vài nông sản chính
của cả nước như: cà phê, lạc, hạt điều và sắn. Khu vực này chiếm 61% diện tích
trồng cà phê của cả nước, diện tích trồng lạc là 27%, hạt điều là 24% và sắn là
13%. Nguyên nhân khu vực này chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng diện
tích trồng cà phê của cả nước chủ yếu là do những nơi khác đang giảm diện tích
cà phê khi nhu cầu cà phê ở Việt Nam giảm. Điều này cho thấy tính dễ bị tác
20


động từ bên ngoài của ngành cà phê. Tỷ lệ diện tích trồng cây điều tại khu vực
này so với cả nước giảm từ 37,5% trong 2002 xuống còn 24% trong năm 2009,
trong khi tỷ trọng về diện tích sắn và đậu phộng đã nhanh chóng tăng lên.
Đối với cây thực phẩm như rau, ngô, đậu xanh và khoai lang, tỷ lệ này là

cả nước
2004

2009

128.996

175.683

3.039.945

3.579.882

4,2

4,9

Trâu

90.323

113.268

650.572

739.646

13,9

15,3

năng khai thác các con sông lớn, Mondul Kiri thậm chí còn ít tiềm năng hơn. Số
lượng cộng đồng nghề cá ở Campuchia đã tăng từ 250 trong năm 2003 (Bộ Môi
trường - 2004) lên 469 năm 2009 (Cục Quản lý nghề cá - 2009). Trong số 469
cộng đồng nghề cá này thì khu vực TGPT có tới 120 (chiếm 25,6%).
Tuy nhiên, chỉ có năm cộng đồng nghề cá ở Rattanak Kiri và hai ở
Mondul Kiri. Do đó cần thúc đẩy nuôi trồng thuỷ sản để tăng sản lượng ở
Rattanak Kiri và Mondul Kiri nhằm cải thiện an ninh lương thực và đáp ứng nhu
cầu dinh dưỡng cho người dân, đồng thời giúp giảm nghèo và góp phần sử dụng
công bằng các nguồn tài nguyên thủy sản, đây cũng chính là mục tiêu lâu dài
của chính sách nghề cá.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status