LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Vật lí, phòng Sau Đại
học Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy, cô giáo đã tận tình
giảng dạy quan tâm tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thế Khôi, đã tận tình
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Xin cảm ơn GV, HS trường THPT Xuân Hòa, THPT Bến Tre (Phúc
Yên – Vĩnh Phúc), gia đình, bạn bè cùng các học viên lớp K14 LL&PPDH bộ
môn Vật lí đã ủng hộ động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian
học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã cố gắng, do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, thực nghiệm
chưa thực hiện trên diện rộng nên luận văn còn có nhiều hạn chế, thiếu sót.
Tôi rất mong được sự đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ vô cùng quý báu ấy!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Xây dựng và hướng dẫn học sinh lớp 10
THPT giải hệ thống bài tập chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10
Nâng cao theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề” là đề tài do
bản thân tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy giáo – TS. Nguyễn Thế
Khôi, khoa Vật lí trường ĐHSP Hà Nội 2. Đề tài không hề sao chép từ bất cứ
một tài liệu nào, kết quả nghiên cứu không trùng với tác giả khác.
Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 2012
Người cam đoan
Đặng Thị Thu Thủy
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Sách giáo khoa
Sách bài tập
Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
Trung học phổ thông
Vật lí
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
5
VIỆC DẠY HỌC BTVL Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Quan niệm về BTVL
5
1.2. Tác dụng của BTVL trong dạy học
6
1.3. Phân loại BTVL
11
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “
33
ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Mục tiêu dạy học chương “ Động lực học chất điểm” - (Vật
33
lí 10 Nâng cao)
2.2. Hệ thống bài tập chương “ Động lực học chất điểm”
37
2.3. Hướng dẫn học sinh hệ thống và giải bài tập chương “Động
41
lực học chất điểm” – Vật lí 10 Nâng cao
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
65
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
66
85
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào những năm đầu tiên của thế kỉ 21, thế kỉ của
nền kinh tế tri thức, thế kỉ của xã hội thông tin, thế kỉ của toàn cầu hóa. Đất
nước ta đang trong thời kì hội nhập và phát triển. Trước sự phát triển như vũ
bão của kinh tế và khoa học công nghệ, ngành giáo dục cần phải đào tạo đội
ngũ con người mang tầm vóc thời đại mới, đáp ứng được nhu cầu của xã hội
trong hiện tại và cả trong tương lai.
Đảng ta đã khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Chính sách giáo
dục nước nhà sẽ đào tạo nên thế hệ tương lai có đủ tài trí để họ có thể trở
thành những người làm chủ của đất nước, đưa đất nước ngày càng phát triển.
Nghị quyết BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần 2, khóa VIII đã
xác định rõ nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ
bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ gắn bó với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí
kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp
thu văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng dân tộc và con người Việt Nam, có
ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học
và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác
phong công nghiệp, có tổ chức kỉ luật, có sức khỏe là những người kế thừa
xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên” [5].
Trước những đòi hỏi của sự phát triển đất nước và thực trạng của nền
giáo dục nước nhà, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số
việc hướng dẫn HS giải BT, cho HS trong việc nhận biết và giải các loại BT,
đồng thời chưa khai thác triệt để tác dụng của BTVL trong dạy học. Cho nên
việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng và hướng dẫn học sinh lớp 10 THPT giải
3
hệ thống bài tập chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 Nâng cao
theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề” là rất cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập và đề ra cách sử dụng nó trong quá trình dạy
học chương “ Động lực học chất điểm” nhằm giúp HS lớp 10 ban KHTN theo
hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề, góp phần nâng cao chất lượng
học tập bộ mon Vật lí.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Hoạt động dạy học BTVL của GV và HS ở trường THPT.
- Phạm vi: Hệ thống bài tập chương “Động lực học chất điểm” lớp 10
THPT nâng cao.
4. Giả thuyết khoa học
Khi dạy học chương “Động lực học chất điểm” – VL 10 Nâng cao, nếu
giáo viên xây dựng được hệ thống BTVL theo hướng phát triển năng lực giải
quyết vấn đề và đề ra cách tổ chức hướng dẫn HS giải nó thì sẽ phát triển
được năng lực giải quyết vấn đề của HS.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lí luận về BTVL.
5.2. Điều tra thực trạng dạy học giải bài tập chương “Động lực học chất
điểm” lớp 10 THPT ban KHTN.
5.3. Xác định mục tiêu dạy học chương “Động lực học chất điểm” lớp 10
THPT ban KHTN và xây dựng hệ thống bài tập, đề xuất cách hướng dẫn HS
giải nó nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
DẠY HỌC BTVL Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Quan niệm về BTVL
Trong thực tiễn dạy học cũng như trong các tài liệu giảng dạy, các thuật
ngữ “bài tập”, “bài tập vật lí” được sử dụng cùng các thuật ngữ “bài toán”,
“bài toán vật lí”. Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, “bài tập” và “bài toán”
được giải nghĩa khác hẳn nhau: Bài tập là bài ra để luyện tập, vận dụng kiến
thức đã học [27, tr.86]; bài toán là vấn đề cần giải quyết, tìm ra lời giải bằng
các quy tắc, định lí [27, tr.87]. Cũng như vậy, một số ý kiến cho rằng cần
phân biệt hai thuật ngữ “bài tập vật lí” và “bài toán vật lí” vì BTVL có ý
nghĩa là bài tập vận dụng đơn giản kiến thức lí thuyết đã học về vật lí vào
những trường hợp cụ thể còn bài toán vật lí được sử dụng để hình thành KTM
trong khi giải quyết một vấn đề được đặt ra chưa có câu trả lời, hoặc đề ra một
cách giải quyết, phương pháp hành động mới. Nhưng bên cạnh đó, trong một
số tài liệu như [6], [17],…, các tác giả lại dùng hai thuật ngữ đó như một với
cách hiểu giải bài tập (bài toán) vật lí là vận dụng các khái niệm, quy tắc, định
luật vật lí,…đã được học vào giải quyết những vấn đề thực tế trong đời sống,
lao động.
Hiện nay, do quan niệm bài tập chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức đã biết
nên nhiều GV đã sử dụng bài tập chủ yếu để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức cũ mà coi nhẹ chức năng tìm kiếmKTM, giải quyết vấn đề mới. Theo
quan điểm hiện đại, việc NCTLM cũng là một bài tập đối với HS. Trong quá
trình tìm kiếm KTM, HS không phải là thụ động tiếp thu cách giải quyết vấn
đề một cách máy móc mà chính họ cũng tập cách giải quyết vấn đề đó. HS
cũng tập các hành động, các phương pháp hoạt động để chiếm lĩnh KTM như
quan sát, phân tích hiện tượng, đo lường, so sánh, khái quát hóa, tìm mối quan
hệ nhân quả giữa các hiện tượng,… Điều đó có nghĩa là HS phải chủ động
6
7
1.2.1. Hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực
tiễn
Một trong các nguyên tắc giáo dục là phải gắn liền giáo dục với thực tiễn
cuộc sống và lao động sản xuất. Tức là, HS chỉ cần nắm được kiến thức trong
các giờ lên lớp là chưa đủ, mà ngoài các giờ luyện tập, ôn tập củng cố ra GV
phải yêu cầu HS giải những bài tập được đặt ra trong cuộc sống hàng ngày.
Khi đó, HS sẽ nắm vững hơn các kiến thức đã học, đồng thời tập cho họ làm
quen với việc liên hệ kiến thức lí thuyết với thực tiễn, vận dụng kiến thức đã
học để giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ đó, việc giải
bài tập góp phần nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho HS. Có thể xây
dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu HS phải vận
dụng kiến thức lí thuyết để giải thích hoặc dự đoán các hiện tượng có thể xảy
ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước.
1.2.2. Hình thành KTM
BTVL có tác dụng rất lớn trong các tiết học NCTLM. Đó là các tiết học
mà HS thu được cái mà họ chưa từng được biết hoặc chưa được biết một cách
rõ ràng, chính xác. Tức là, trong tiết học đó, HS có thể thu được KTM hoặc
không thu được KTM nhưng lại có cách hiểu mới về kiến thức đã học hoặc
thấy rõ hơn giới hạn, phạm vi áp dụng của kiến thức.
Đối với các tiết học NCTLM nhằm cung cấp cho HS cách hiểu mới về
kiến thức đã học hoặc thấy rõ hơn giới hạn, phạm vi áp dụng của kiến thức,
thì BTVL được GV đưa ra sau khi HS đã nắm được nội hàm của kiến thức đó.
Trong các tiết học loại này, BTVL giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức bằng
cách đi sâu vào một khía cạnh của vấn đề. Ví dụ sau khi HS nghiên cứu xong
định luật II Niutơn, yêu cầu HS giải thích hiện tượng: Khi xe ôtô phanh gấp,
hành khách trên xe đều xô về phía trước.
9
Định luật bảo toàn động lượng”; HS có thể rút ra định luật từ các định luật
Niutơn. HS cũng có thể tìm lại định luật Ôm cho toàn mạch bằng cách rút ra
định luật này từ định luật Jun – Lenxơ, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng
lượng, kiến thức về năng lượng do nguồn điện cung cấp;…
Như vậy, BTVL được xem là phương tiện NCTLM khi trang bị KTM cho
HS nhằm đảm bảo cho họ nắm được KTM một cách chăc chắn, vì kiến thức
mà các em thu được là qua hoạt động giải bài tập của họ. Tuy nhiên để đạt
được hiệu quả cao, BTVL đưa ra phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
1) Mỗi bài tập đưa ra phải chứa vấn đề học tập cần giải quyết và vừa sức
với HS.
2) Mỗi bài tập phải chứa đựng yếu tố mới mà để tìm ra lời giải, HS cần
thực hiện các lập luận phức tạp hoặc phải “tìm câu trả lời từ thiên nhiên” (tức
là HS cần thực hiện các thí nghiệm vật lí, quan sát thực tế).
3) Các bài tập phải được chú ý tới các mặt như tình huống đưa ra bài tập,
nội dụng bài tập (đề bài), cách giải và kết luận để từ đó rút ra KTM.
4) Việc giải hệ thống bài tập phải đảm bảo thời gian mà chương trình quy
định, đảm bảo được mục đích chiếm lĩnh nội dung KTM của HS trong tiết
học ấy.
1.2.3.Ôn tập kiến thức đã học, củng cố kiến thức cơ bản của bài giảng
BTVL được sử dụng rất nhiều khi ôn tập củng cố. Thông thường, trong
các tiết học NCTLM nhằm vận dụng kiến thức vừa học (bài tập thường được
dùng ở cuối tiết học), hoạt động của GV như sau: GV nêu ra các bài tập cơ
bản về kiến thức vừa học và yêu cầu HS giải một vài bài tập cơ bản minh họa
cho từng dạng. Sau đó GV ra bài tập về nhà, gợi ý cách giải quyết khó khăn,
yêu cầu HS tự rút ra các bước giải từng loại, từng kiểu bài tập đã ra và mới
gặp lần đầu.
11
BTVL có tác dụng giáo dục tư tưởng rất lớn vì nhờ nó ta có thể giới thiệu
cho HS sự xuất hiện những tư tưởng và quan điểm tiên tiến, hiện đại, những
phát minh lớn của nhân loại, có thể lưu ý HS những thành tựu của nền khoa
học nước nhà. BTVL cũng là phương tiện hiệu quả để giáo dục đạo đức, tình
yêu lao động, đức tính kiên trì, ý chí và tình cảm của HS. Việc giải BTVL có
thể đem lại cho HS niềm vui sáng tạo đối với những thành công, tăng thêm sự
yêu thích, hứng thú với môn học.
Thông qua việc giải BTVL, GV cũng có thể thường xuyên theo dõi thành
tích, tinh thần học tập của HS.
Bên cạnh đó, các BTVL có kĩ thuật tổng hợp (hiện đại, gắn liền với
chương trình)còn có tác dụng rất lớn đến việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho
HS. Nó cũng là một phương tiện thuận lợi để HS liên hệ lí thuyết với thực
hành, học tập với đời sống sản xuất. Từ đó góp phần giáo dục hướng nghiệp
cho HS.
Các BTVL về các hiện tượng vật lí thường gặp trong sinh hoạt hàng ngày
giúp cho HS thấy khoa học vật lí ngay trong cuộc sống xung quanh, góp phần
bồi dưỡng cho HS khả năng quan sát, sáng tạo.
1.3. Phân loại BTVL.
Trong nhiều tài liệu về phương pháp giảng dạy vật lí [6], [25],.., các tác
giả đưa chia BTVL theo nhiều dấu hiệu khác nhau. Có thể tổng kết các cách
phân loại ấy như sau:
1.3.1. Theo nội dung:
- Tài liệu vật lí;
- Nội dung cụ thể, trừu tượng;
- Nội dung kĩ thuật tổng hợp;
- Nội dung lịch sử.
1.3.2. Theo mục đích dạy học:
13
trạng trên, TS. Nguyễn Thế Khôi [12] đã đưa ra cách phân loại bài tập dựa
vào mức độ phức tạp của hoạt động tư duy trong quá trình tìm kiếm lời giải:
1.3.7. Theo mức độ phức tạp của hoạt động tư duy trong tiến trình tìm kiếm
lời giải BTVL:
- Bài tập cơ bản;
- Bài tập phức hợp.
1.4. Sơ đồ định hướng khái quát giải BTVL
1.4.1. Hoạt động giải BTVL
Mục tiêu cần đạt tới khi một BTVL là tìm được câu trả lời đúng đắn, giải
đáp được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học chặt chẽ.
Như vậy, quá trình giải một BTVL thực chất là quá trình tìm hiểu điều
kiện của bài tập, nếu có thể thì dùng các kí hiệu, mô hình, hình vẽ để mô tả
hiện tượng, xem xét hiện tượng vật lí được đề cập và dựa trên kiến thức vật lí,
toán để nghĩ tới những mối liên hệ có thể có của cái đã cho và cái phải tìm,
sao cho có thể thấy được cái phải tìm có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với
cái đã cho. Từ đó đi tới việc chỉ rõ mối liên hệ tường minh trực tiếp của cái
phải tìm chỉ với những cái đã biết, tức là tìm được lời giải đáp [23].
Ta có thể mô hình hóa các mối liên hệ của cái đã cho, cái phải tìm và cái
chưa biết như sau [23]:
x
A
B
….
C
D
c
x
(4)
b
E
d
(5)
G
H
d
I
(6)
K
b
x
15
Từ mối liện hệ (3) rút ra c
Thế c vào (2) rút ra a
Từ (5) rút ra d. Từ (6) rút ra e.
Thế d và e vào (4) rút ra b.
Thế a và b vào (1) rút ra x.
Sự phân tích trên đây về hoạt động giải BTVL cho thấy nó có hai phần
việc cơ bản quan trọng là:
+ Xác lập được những mối liên hệ cơ bản cụ thể dựa trên sự vận dụng kiến
thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài toán đã cho.
+ Luận giải, tính toán đi từ những mối liên hệ đã xác lập được, đến kết
luận cuối cùng của việc giải đáp vấn đề được đặt ra trong bài toán.
Sự nắm vũng lời giải một BTVL phải thể hiện ở khả năng trả lời được câu
hỏi: Việc giải bài toán này cần xác lập được những mối liên hệ cơ bản nào?
Sự xác lập các mối liên hệ cơ bản cụ thể này dựa trên sự vận dụng kiến thức
vật lí gì, vào điều kiện cụ thể gì của bài toán? Trong sự vận hành các mối liên
hệ cơ bản đi đến xác định cái phải tìm ta thấy có vai trò quan trọng của các
kiến thức, kĩ năng toán học cùng với những kiến thức vật lí. Sự nắm vững lời
giải của một BTVL phức tạp thể hiện ở khả năng trả lời được câu hỏi: Sơ đồ
tiến trình luận giải để từ những mối liên hệ cơ bản đã xác lập được đi đến kết
quả cuối cùng của việc giải bài toán như thế nào?
1.4.2. Các bước chung của việc giải một BTVL
Nói chung, tiến trình giải một BTVL trải qua các bước: Tìm hiểu đề bài;
Xác lập các mối liên hệ cơ bản của các dữ liệu xuất phát và của cái phải tìm;
Kiểm tra kết quả bằng thực nghiệm xem có phù hợp không;
Giải bài toán theo cách khác xem có cho cùng kết quả không.
1.5.Nguyên tắc lựa chọn hệ thống bài tập vật lí
Giải BTVL là một bộ phận của đa số các tiết học như NCTLM, luyện tập,
ôn tập, kiểm tra. Nó có thể chiếm một phần hoặc toàn bộ tiết học. Đồng thời,
17
nó cũng được sử dụng trong cả chương trình ngoại khóa. Trong các hình thức
ấy, BTVL được sử dụng nhiều hơn cả trong hai loại tiết học là NCTLM và
luyện tập giải bài tập.
1.5.1. Tiết học NCTLM
Như đã nói ở trên, tiết học NCTLM là tiết học trong đó HS thu được cái họ
chưa biết từ trước hoặc chưa biết một cách rõ ràng, chính xác. Trong các tiết
học này, BTVL được sử dụng ở một khâu đề xuất vấn đề, giải quyết vấn đề,
củng cố hoặc ở tất cả các khâu đó.
Mỗi kiến thức khoa học đều là lời giải đáp cho một câu hỏi. Nếu không có
việc nảy sinh câu hỏi thì sẽ không có nhu cầu giải đáp câu hỏi. Và vì thế sẽ
không có kiến thức khoa học để giải đáp câu hỏi đó. Cho nên việc NCTLM
thường được bắt đầu bằng việc đặt vấn đề. Theo I.Ia.Lemer, vấn đề trong dạy
học là một câu hỏi xuất hiện hay được đặt ra đối với người chưa hề biết trước
câu trả lời mà phải tìm tòi sáng tạo và để tìm ra câu trả lời đó, người ta phải
có những tài liệu nào đó làm cơ sở xuất phát [28, tr.5]. Có nhiều cách để làm
xuất hiện vấn đề cần nghiên cứu tìm cách giải quyết. Một trong số đó là sử
dụng bài tập đề xuất vấn đề. Việc xây dựng các vấn đề trong dạy học bằng bài
tập sẽ kích thích được hứng thú học tập của HS, tạo ra được khả năng củng cố
kiến thức đã có và xây dựng mối quan hệ giữa kiến thức đã có và cả KTM.
Bài tập đề xuất vấn đề được sử dụng ở đầu giờ học. Nó không những có tác
dụng xây dựng vấn đề dạy học mà còn có thể chuẩn bị cho việc nghiên cứu
mới. Để cả lớp tập trung, chủ động theo dõi và tích cực tham gia vào tìm kiếm
lời giải bài tập trên bảng, cần lưu ý: Khi giải thích sơ đồ định hướng ấy, GV
phải trình bày sao cho các em hiểu rõ từng thao tác, hành động và trật tự của
chúng để tạo điều kiện giải các bài tập cùng loại.
Hình thức sau thường dùng để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và kiểm tra kết
quả học tập của HS. Tính độc lập, tích cực của HS phụ thuộc rất nhiều vào
19
mức độ phức tạp của bài tập. Vì thế, bài tập đề ra phải vừa sức, đủ phức tạp
và gây được hứng thú cho HS. Trong khi HS tự lực giải, GV theo dõi từng em
và nếu cần, giúp họ quy một bài tập phức tạp thành các bài tập cơ bản, áp
dụng các sơ đồ định hướng đã biết để giải từng kiểu, phân kiểu bài tập.
1.5.3. Nguyên tắc lựa chọn hệ thống BTVL
BTVL phải tạo thành một hệ thống xác định; phù hợp với phương pháp
lựa chọn và đáp ứng được một mục đích dạy học nhất định.
Hệ thống BTVL xây dựng được cho phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
+ Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Tính phức
tạp tăng dần của mối quan hệ giữa những đại lượng và khái niệm đặc trưng
cho quá trình hoặc hiện tượng mô tả trong các BTVL.
+ Số lượng bài tập phải phù hợp với thời gian quy định của chương trình
học.
+ Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp một
phần khắc phục những khó khăn chủ yếu, những sai lầm phổ biến của HS
trong học tập.
+ Mỗi bài tập phải đóng góp một phần nào đó trong việc nắm bắt kiến
thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thói quen vận dụng kiến thức, phát triển năng
lực HS trong việc giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn, mỗi bài tập sau
phải đem lại cho HS một điều mới lạ nhât định và một khó khăn vừa sức.
tạo của HS bị hạn chế.
Việc truyền đạt cho HS angôrit giải một loại bài toán xác định có thể
theo những cách khác nhau. Có thể chỉ dẫn cho HS angôrit dưới dạng có sẵn.
Qua việc giải một vài bài toán mẫu, GV phân tích phương pháp giải và chỉ
dẫn cho HS angôrit giải loại bài toán đó rồi cho HS tập áp dụng để giải các
bài toán tiếp theo. Đối với lớp có đa số HS học lực khá, muốn tăng cường rèn
luyện năng lực giải quyết vấn đề của HS, có thể lôi cuốn HS tham gia vào quá
trình xây dựng angôrit chung để giải bài toán đã cho. Thông qua việc phân