TIẾNG VIỆT VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC - Pdf 39

ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA

HOÀNG TẤT THẮNG (Chủ biên)
NGUYỄN THỊ BẠCH NHẠN – NGUYỄN QUỐC DŨNG
LÊ THỊ HOÀI NAM – TRẦN THỊ QUỲNH NGA

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THI TỐT NGHIỆP

Môn

TIẾNG VIỆT VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

HUẾ - 2013

1


LỜI GIỚI THIỆU
Để phục vụ tốt cho việc ôn tập và thi tốt nghiệp môn Tiếng Việt và
phương pháp giảng dạy tiếng Việt của các học viên ngành Giáo dục tiểu
học, hệ Đại học từ xa, nhóm biên soạn xin giới thiệu tài liệu “Hướng dẫn
ôn tập và thi tốt nghiệp môn Tiếng Việt và phương pháp giảng dạy tiếng
Việt ở Tiểu học”.
Để biên sọan tài liệu này, nhóm biên soạn đã dựa vào nội dung chương
trình của các giáo trình “Tiếng Việt” và “Phương pháp giảng dạy tiếng
Việt ở tiểu học” dành cho học viên hệ Đào tạo từ xa, Đại học Huế, cùng
các giáo trình khác được lưu hành trong cả nước.
Đặc biệt, trong lần tái bản này, nhóm biên soạn có bổ sung, chỉnh sửa
một số nội dung trong tài liệu cho phù hợp với chương trình đào tạo mới và


3


A. CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC
I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN HỌC VIÊN CẦN NẮM VỮNG

1. Những vấn đề chung
- Trên cơ sở phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói, cần nắm vững khái niệm ngôn
ngữ.
- Nắm vững đối tượng, nhiệm vụ và ứng dụng của ngôn ngữ học, đặc biệt là
những ứng dụng của ngôn ngữ học trong việc dạy và học tiếng mẹ đẻ.
- Hiểu được ý nghĩa của việc nghiên cứu những vấn đề đại cương về ngôn ngữ
học và ngôn ngữ học trong việc giảng dạy tiếng Việt nói chung và giảng dạy
tiếng Việt ở trường tiểu học nói riêng.
2. Bản chất của ngôn ngữ
- Nhận thức đúng và phân tích, lý giải bản chất xã hội của ngôn ngữ. Ngôn ngữ
không phải là một hiện tượng tự nhiên. Ngôn ngữ cũng không phải là một hiện
tượng tâm lý cá nhân. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ là sản
phẩm của một cộng đồng người được hình thành một cách lịch sử từ lâu đời.
- Mặc dù ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nhưng nó không giống với các
hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng như văn học, chính trị, đạo đức,
pháp luật… Ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng cũng không thuộc cơ
sở hạ tầng. Ngôn ngữ không mang tính giai cấp. Ngôn ngữ là phương tiện giao
tiếp chung của toàn xã hội, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, địa vị xã hội. Vì
vậy, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt.
- Ngôn ngữ mang bản chất tín hiệu. Do có bản chất tín hiệu mà ngôn ngữ mới
trở thành một phương tiện giao tiếp để truyền đạt thông tin. Muốn hiểu rõ bản
chất tín hiệu của ngôn ngữ cần nắm vững khái niệm tín hiệu (là một hình thức
vật chất có mang nội dung thông tin). Đồng thời, cần nắm vững các đặc điểm

cú đoạn) và quan hệ tôn ti (quan hệ cấp bậc, quan hệ đơn vị).
5. Nguồn gốc và sự phát triển của ngôn ngữ
- Cần phân biệt sự khác nhau giữa việc nghiên cứu nguồn gốc của ngôn ngữ
loài người nói chung và nghiên cứu nguồn gốc của các ngôn ngữ cụ thể.
- Nắm vững nội dung cơ bản của một số giả thuyết về nguồn gốc của ngôn
ngữ: thuyết tượng thanh, thuyết cảm thán, thuyết tiếng kêu trong lao động,
thuyết ngôn ngữ cử chỉ và thuyết khế ước xã hội.
- Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc của
ngôn ngữ. Quan điểm ấy đã phân tích và lý giải một cách khoa học về những
tiền đề tự nhiên và tiền đề xã hội cho sự hình thành ngôn ngữ thành tiếng ở con
người.
6. Về nguồn gốc và sự phát triển của tiếng Việt và chữ quốc ngữ
- Về nguồn gốc tiếng Việt, cần nắm vững nội dung của việc phân loại các ngôn
ngữ theo nguồn gốc và phương pháp so sánh – lịch sử, cần đặc biệt lưu ý đến
ngữ hệ của tiếng Việt: ngữ hệ Môn – Khmer và các dấu tích thời kỳ việt –
Mường trong tiếng Việt hiện nay.
- Nắm vững quá trình phát triển của tiếng Việt qua các thời kỳ, đặc biệt là thời
kỳ phong kiến, thời kỳ thuộc Pháp và từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay.
- Nắm vững sự hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ? Đặc điểm của chữ
quốc ngữ, những ưu điểm và hạn chế của nó?
5


- Nắm vững những nội dung cơ bản về chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà
nước ta về vấn đề giữ gìn và phát triển tiếng Việt hiện nay (nhất là vấn đề giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt).
7. Phân loại các ngôn ngữ
Học viên cần nắm vững hai phương pháp phân loại các ngôn ngữ.
- Phân loại theo nguồn gốc là cách phân loại sử dụng phương pháp so sánh –
lịch sử, nghĩa là so sánh các ngôn ngữ trong quá trình phát triển lịch sử của nó

6


+ Ngôn ngữ là một hiện tượng mang bản chất xã hội, vì nó là sản phẩm của tập
thể, được tập thể người nói sáng tạo từ lâu đời. Trái lại lời nói là hiện tượng
mang tính chất cá nhân, vì nó là sản phẩm của từng cá nhân.
+ Ngôn ngữ là một hiện tượng có tính ổn định, bất biến. Trái lại, lời nói là hiện
tượng mang tính lâm thời.
+ Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị hữu hạn, trái lại, lời nói là những phát
ngôn vô hạn.
Câu 02: Một số người đã nêu ra những bằng chứng để chứng minh rằng ngôn
ngữ là một hiện tượng tự nhiên (như đồng nhất ngôn ngữ với cơ thể sinh vật, với
bản năng sinh vật của con người, với những nét đặc trưng về chủng tộc và với
tiếng kêu của loài vật) có đúng không?
Gợi ý:
- Nếu nhìn bề ngoài, dường như ngôn ngữ có liên quan với các hiện tượng nói
trên, bởi vì, cũng như ngôn ngữ, các hiện tượng ấy đều gắn liền với con người
(cơ thể sinh vật, đặc trưng bản năng, đặc trưng chủng tộc) hoặc liên quan đến
ngôn ngữ âm thanh của con người (tiếng kêu của loài vật). Nhưng xét về bản
chất thì ngôn ngữ không có mối liên hệ gì với chúng.
- Cơ thể sinh vật (các loài thực vật, động vật) cũng có quá trình hình thành, tồn
tại, phát triển, hưng thịnh và mất đi tương tự như ngôn ngữ. Nhưng các cơ thể
sinh vật khi đã chết đi, là mất đi hoàn toàn, không để lại dấu vết gì trong các cơ
thể mới. Trong khi đó, các ngôn ngữ cổ (các từ ngữ) cho dù ngày nay không
được dùng nữa, nhưng nó còn để lại nhiều dấu vết trong các ngôn ngữ mới, nhất
là về cơ cấu ngữ âm, từ vựng (như tiếng Latin, tiếng Phạn…).
- Các đặc trưng bản năng sinh vật của con người (như đi, đứng, ăn uống, khóc,
cười…) cũng có một quá trình hình thành đồng thời với sự hình thành và phát
triển ngôn ngữ ở mỗi người. Nhưng các đặc trưng bản năng là những hiện tượng
có thể nảy sinh và tồn tại ngay cả ở trạng thái đơn lập (bên ngoài xã hội loài

hệ thống trừu tượng tồn tại tiềm tàng trong ký ức của các thành viên trong cộng
đồng.
- Ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên. Ngôn ngữ khác về chất so với
các hiện tượng tự nhiên gắn liền hoặc liên quan đến con người như cơ thể sinh
vật, đặc trưng bản năng, đặc trưng chủng tộc, âm thanh của trẻ sơ sinh và âm
thanh các loài vật,…
- Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ ở mỗi cá nhân là hoàn toàn mang
tính khách quan, chịu ảnh hưởng các quy luật của xã hội, và không phải là một
hiện tượng có tính chất bẩm sinh, bản năng.
Câu 04: Tại sao nói ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt?
Gợi ý:
Khi so sánh ngôn ngữ với các hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng
như pháp luật, văn học, chính trị, đạo đức…, ta thấy:
- Các hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng luôn luôn phụ thuộc vào
cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng sinh ra. Vì vậy các hiện tượng xã hội nói trên sẽ
bị mất đi hoặc bị thay thế khi cơ sở hạ tầng tương ứng bị mất đi hoặc bị thay thế.
Trái lại, ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng, cũng không thuộc cơ sở
8


hạ tầng, vì vậy, khi cơ sở hạ tầng sụp đổ, ngôn ngữ cũng không bị mất đi hoặc
thay thế ngôn ngữ này bằng ngôn ngữ khác. Thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam
và tiếng Việt là một minh chứng.
- Các hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng luôn luôn mang tính giai
cấp, luôn luôn phục vụ cho một giai cấp nhất định trong xã hội. Trái lại, ngôn
ngữ không mang tính giai cấp. Ngôn ngữ là tài sản chung của cộng đồng, của
mọi giai cấp trong xã hội. Ngôn ngữ là tiếng nói chung của mọi giai cấp, mọi
tầng lớp, mọi thành viên trong một cộng đồng.
- Cũng cần lưu ý rằng:
+ Mặc dù ngôn ngữ không mất đi hoặc không bị thay thế ngôn ngữ này bằng

của con người.
Trước hết, ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp. Bởi vì, ngôn ngữ là một hệ
thống tín hiệu được con người dùng để truyền đạt tư tưởng, tình cảm, ý chí,
nguyện vọng… của mình đến người khác. Ngôn ngữ còn là phương tiện để tạo
lập và thể hiện các mối quan hệ. Đồng thời, ngôn ngữ là phương tiện để tổ chức,
quản lý xã hội, phát triển xã hội.
- Nếu so sánh ngôn ngữ với các phương tiện giao tiếp bổ sung khác như: động
tác, cử chỉ, công thức, ký hiệu, biểu đồ, các môn nghệ thuật đơn lập (âm nhạc,
hội họa, điêu khắc, múa)… thì ta thấy ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp đặc
biệt, vì:
a. Nội dung biểu đạt của các phương tiện giao tiếp bổ sung nói chung là nghèo
nàn, ít ỏi, đơn nghĩa. Trái lại, nội dung biểu đạt của phương tiện giao tiếp ngôn
ngữ hết sức phong phú và sâu sắc. Bởi vì, mối quan hệ giữa hai mặt trong các
phương tiện giao tiếp bổ sung là quan hệ 1/1. Trong khi đó, mối quan hệ giữa
hai mặt trong phương tiện giao tiếp ngôn ngữ là quan hệ 1/n và n/1, vì vậy, ngôn
ngữ luôn luôn tồn tại các hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng
âm…
b. Nội dung của các phương tiện giao tiếp bổ sung nói chung là khó hiểu,
không quen thuộc đối với tất cả mọi thành viên trong cộng đồng. trái lại, ý nghĩa
của các đơn vị ngôn ngữ rất quen thuộc và dễ hiểu đối với mọi người, đối với
mọi lứa tuổi, thành phần, tầng lớp trong xã hội.
c. Ngoại trừ các môn nghệ thuật đơn lập, các phương tiện giao tiếp bổ sung
khác không có khả năng biểu thị cảm xúc. Trái lại, ngôn ngữ luôn luôn có khả
năng biểu thị mọi cảm xúc, trạng thái tâm lý tinh tế và sâu kín nhất của con
người. Có thể nói, ngôn ngữ không bao giờ chịu “bó tay” trước bất kì một nhu
cầu biểu đạt nào của con người.
Lấy các dẫn chứng để phân tích, minh họa cho các luận điểm “a,b,c”.

Câu 07: Phân tích chức năng tư duy của ngôn ngữ.
Gợi ý:

Gợi ý:
- Các giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ (thuyết tượng thanh, thuyết cảm
thán, thuyết tiếng kêu trong lao động, thuyết ngôn ngữ cử chỉ và thuyết khế ước
xã hội) là những giả thuyết thể hiện quan điểm của các nhà duy vật siêu hình:
lấy cái hiện tượng quy thành cái bản chất, lấy cái cá biệt quy thành cái phổ biến,
phi lý và mâu thuẫn.
- Thuyết tượng thanh cho rằng ngôn ngữ ra đời là do con người dùng cơ quan
phát âm của mình để mô phỏng những âm thanh của tự nhiên như tiếng chim
kêu, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy…, hoặc dùng đặc điểm của tư thế bộ máy
phát âm để mô phỏng đặc điểm của sự vật khách quan. Cơ sở của giả thuyết trên
là ở sự tồn tại của các từ tượng thanh và từ mô phỏng trong các ngôn ngữ (lấy ví
dụ để minh họa, phân tích).
11


- Thuyết cảm thán cho rằng ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ những âm thanh
để biểu thị cảm xúc như mừng, giận, vui, buồn, đau đớn… Cơ sở của giả thuyết
này là sự tồn tại trong các ngôn ngữ những thán từ và những từ phát sinh thán từ
(lấy ví dụ để minh họa, phân tích).
- Thuyết tiếng kêu trong lao động cho rằng ngôn ngữ xuất hiện từ những tiếng
kêu trong lao động tập thể theo nhịp lao động. Những âm thanh này về sau trở
thành tên gọi của động tác lao động. Cơ sở của giả thuyết này là ở sự tồn tại của
một số từ được dùng để thống nhất hành động chung trong các ngôn ngữ (lấy ví
dụ minh họa).
- Thuyết khế ước xã hội cho rằng, ngôn ngữ ra đời là do con người thỏa thuận
với nhau mà quy định ra (lấy ví dụ minh họa).
- Thuyết ngôn ngữ cử chỉ cho rằng ban đầu con người chưa có ngôn ngữ thành
tiếng. Để giao tiếp với nhau, người ta dùng tư thế một số bộ phận của thân thể
như đầu, lưng và tay để truyền đạt thông tin (lấy ví dụ minh họa).
Câu 10: Trình bày quan điểm của Ăng ghen về nguồn gốc của ngôn ngữ.

có ý thức rõ rệt đối với lợi ích của sự hợp tác ấy. Tóm lại, những con người đang
được hình thành đó đạt đến mức độ với nhau là họ có những điều kiện cần phải
nói mới được. Như vậy, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu, do sự cần thiết phải
giao tiếp. Nhưng nhu cầu giao tiếp ấy của con người cũng lại do lao động quyết
định.
Câu 11: Hãy phân tích và chứng minh: sự phát triển không đồng đều giữa các
mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ?
Gợi ý:
- Trong ba bộ phận tạo thành một ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) thì
bộ phận từ vựng biến đổi và phát triển nhanh nhất và nhiều nhất, sau đó bộ phận
ngữ âm và cuối cùng là bộ phận ngữ pháp.
- Bộ phận từ vựng biến đổi nhanh nhất và nhiều nhất vì từ vựng trực tiếp phản
ánh đời sống xã hội. Mọi biến đổi trong xã hội đều được ngôn ngữ trực tiếp
phản ánh. Cũng cần phân biệt từ vựng nói chung và từ vựng cơ bản. Từ vựng
nói chung biến đổi không ngừng, ngày càng phong phú. Những từ gốc, từ vựng
cơ bản ổn định, có tính bất biến.
- Bộ phận ngữ âm của ngôn ngữ biến đổi chậm và không đều vì nếu biến đổi
nhanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giao tiếp bằng ngôn ngữ. Tuy nhiên, ngữ
âm biến đổi dẫn đến tồn tại các cách phát âm địa phương.
- Bộ phận ngữ pháp biến đổi chậm nhất, vì cùng với bộ phận từ vựng cơ bản,
ngữ pháp là cơ sở của ngôn ngữ. Sự biến đổi nhanh của quy tắc ngữ pháp sẽ dẫn
đến khó khăn trong việc giao tiếp. Tuy nhiên, trong thời gian dài, hệ thống ngữ
pháp cũng có biến đổi, cải tiến, bổ sung thêm các quy tắc mới.
Câu 12: Tóm tắt quá trình phát triển của tiếng Việt qua các thời kỳ: thời kỳ
phong kiến, thời kỳ thuộc Pháp và từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay.
Gợi ý:
- Tiếng Việt thời phong kiến: Do tiếng Việt và tiếng Hán gần nhau về mặt loại
hình, nghĩa là cả hai đều thuộc loại ngôn ngữ đơn lập – âm tiết tính, nên tiếng
Việt đã vay mượn rất nhiều từ ngữ tiếng Hán theo chiều hướng chủ đạo là Việt
13

đồng nhiều dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Câu 13: Tại sao nói ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc?
Gợi ý:
- Cũng như mọi đối tượng trong hiện thực, ngôn ngữ là một thực thể bao gồm
các yếu tố, các bộ phận bên trong và các mối quan hệ giữa các yếu tố, các bộ
phận ấy. Chỉ có điều các đối tượng trong hiện thực là các đối tượng vật chất, cụ

14


thể; trái lại, ngôn ngữ là một thực thể trừu tượng khái quát, là sản phẩm của
nhận thức, được trừu tượng hóa khỏi các đối tượng vật chất, cụ thể (lời nói).
- Các yếu tố trong hệ thống – cấu trúc ngôn ngữ chính là các loại đơn vị cơ bản
của ngôn ngữ (âm vị, hình vị, từ và câu). Bên cạnh các loại đơn vị cơ bản là một
tập hợp gồm nhiều đơn vị đồng loại (cùng cấp độ, cùng chức năng) tạo thành
một hệ thống. Chẳng hạn: hệ thống âm vị, hệ thống hình vị, hệ thống từ vựng, hệ
thống cú pháp. Các đơn vị trong cùng một hệ thống tạo thành một cấp độ (bậc),
chẳng hạn: cấp độ ngữ âm, cấp độ từ vựng, cấp độ cú pháp…
Các đơn vị trong cùng một cấp độ hoặc giữa các cấp độ luôn luôn nằm trong
các mối quan hệ chằng chịt, ràng buộc, chi phối lẫn nhau. Trong hệ thống cấu
trúc ngôn ngữ vừa tồn tại các quan hệ chung nhất, bao trùm như quan hệ liên
tưởng, quan hệ ngữ đoạn, quan hệ tôn ti; vừa tồn tại các quan hệ riêng, đặc thù
như quan hệ ngữ pháp (quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ, quan hệ chủ vị),
quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ đồng nghĩa, quan hệ đa nghĩa, quan hệ trái
nghĩa…)…
Học viên lấy ví dụ tiếng Việt để phân tích và chứng minh.
Câu 14: Phân tích các đơn vị đồng loại và khác loại trong hệ thống – cấu trúc
của ngôn ngữ.
Gợi ý:

- Quan hệ liên tưởng có tác dụng giúp người nói tạo lập được những lời nói rõ
ràng, lô gích và dễ hiểu.
- Học viên cần nêu ra các dẫn chứng để phân tích và chứng minh.
Câu 16: Hãy phân tích và chứng minh ngôn ngữ mang bản chất tín hiệu?
Gợi ý:
Cũng như mọi tín hiệu thông thường trong cuộc sống quanh ta, ngôn ngữ cũng
mang những đặc điểm cơ bản của tín hiệu như sau:
- Ngôn ngữ cũng có hai mặt – mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt (còn gọi là
cái biểu đạt và cái được biểu đạt). Mặt biểu đạt là vỏ vật chất âm thanh, mặt
được biểu đạt là nội dung sự vật, hiện tượng. Hai mặt này luôn tồn tại trong mối
quan hệ thống nhất.
- Ngôn ngữ cũng mang tính vật chất, vì có tính vật chất thì con người mới tiếp
nhận trực tiếp bằng giác quan của mình. Mặc dù ngôn ngữ là một thực tế trừu
tượng, khái quát, nhưng ngôn ngữ phải tồn tại trong một đối tượng cụ thể vật
chất là lời nói thì chúng ta mới nhận biết được ngôn ngữ.
- Ngôn ngữ cũng mang tính hệ thống. Mỗi tín hiệu ngôn ngữ chỉ có giá trị nhất
định khi nằm trong cùng một hệ thống ngôn ngữ nào đó.
- Ngôn ngữ bao giờ cũng mang tính khái quát. Chẳng hạn, mỗi từ của ngôn
ngữ không biểu thị một đối tượng vật chất cụ thể nào trong hiện thực mà biểu thị
một lớp sự vật có những đặc điểm chung nào đó.
Học viên lấy ví dụ tiếng Việt để phân tích.
Câu 17: Tại sao nói ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt?
Gợi ý:
Tính chất đặc biệt của hệ thống ngôn ngữ thể hiện ở các đặc trưng sau:
16


- Tính võ đoán. Đối với các tín hiện thông thường, mối quan hệ giữa hình thức
vật chất và nội dung thông tin mang tính quy ước. Tín hiệu ngôn ngữ cũng có
nguồn gốc quy ước, nhưng vì quá lâu đời nên mang tính võ đoán. Tính võ đoán

trạng hiện có của ngôn ngữ.
- Nếu nội dung của phương pháp so sánh – lịch sử là so sánh các từ, các dạng
thức của từ tương tự nhau về ý nghĩa và âm thanh trong các ngôn ngữ khác
17


nhau dựa vào tư liệu ngôn ngữ sống cũng như những tài liệu được ghi trên văn
bia và thư tịch cổ thì nội dung của phương pháp so sánh – loại hình là so sánh
đồng đại giữa các ngôn ngữ về kết cấu (có thể về mặt ngữ âm, từ vựng, hình
thái, cú pháp hoặc ngữ nghĩa) của chúng để tìm ra những điểm giống nhau và
khác nhau giữa chúng. Từ những điểm giống nhau, người ta rút ra các phổ niệm,
tập hợp một số phổ niệm cho ta một loại hình ngôn ngữ.
- Nếu kết quả của phương pháp so sánh – lịch sử là xác định nguồn gốc lịch sử
các ngôn ngữ (hình thành các ngữ hệ (họ), các dòng, các nhánh ngôn ngữ…) thì
kết quả của phương pháp so sánh – loại hình là khái quát thành các phổ niệm và
các loại hình ngôn ngữ.
Học viên tự lấy dẫn chứng để phân tích, minh họa.
Câu 19: Vị trí của tiếng Việt trong kết quả phân loại các ngôn ngữ theo nguồn
gốc và theo loại hình? Tóm tắt giả thuyết về nguồn gốc của tiếng Việt?
Gợi ý:
- Khi phân loại các ngôn ngữ về nguồn gốc, tiếng Việt thuộc họ Môn – Khmer,
gần gũi với các ngôn ngữ Mường, Khmer, Bana, Ktu.
- Khi phân loại các ngôn ngữ về loại hình, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ
đơn lập, gần gũi với các ngôn ngữ Hán, Thái, Mường, Khmer.
- Giả thuyết có nhiều sức thuyết phục về nguồn gốc của tiếng Việt: tiếng Việt
bắt nguồn từ một ngữ hệ lớn sinh thành trong khung cảnh Đông Nam Á thời tiền
sử (gọi là ngữ hệ Nam Á) từ bờ sông Dương Tử (Trung Quốc) cho tới vùng
Atsam (Mianma), bao gồm cả Thái, Lào, Việt Nam, Campuchia… và lan tỏa tới
các bán đảo, đảo phía Nam giáp Châu Đại Dương. Về sau, ngữ hệ này phân chia
thành nhiều dòng, trong đó có dòng Môn – Khmer phân bổ ở vùng Nam Đông

2003.
6. Lê Quang Thiêm, Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, Nxb Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1989.
7. N. V. Xtankêvich, Loại hình ngôn ngữ, Nxb Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1982.
8. Lê A, Đỗ Xuân Thảo, Giáo trình tiếng Việt 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

19


B. NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN HỌC VIÊN CẦN NẮM VỮNG

1. Cơ sở ngữ âm
1.1. Cơ sở tự nhiên: Cơ sở cấu âm bao gồm hoạt động của bộ máy cấu âm để
sản sinh các âm thanh ngôn ngữ và cơ sở âm học bao gồm những cơ sở âm
thanh mà tai người có thể phân biệt được trong âm thanh ngôn ngữ như sự phân
biệt giữa tiếng thanh và tiếng động, độ cao, độ mạnh, độ dài và âm sắc của âm
thanh ngôn ngữ.
1.2. Cơ sở xã hội: Cách tổ chức hệ thống ngữ âm của các ngôn ngữ cụ thể,
cách xử lý ngữ âm và cách phối hợp các đơn vị ngữ âm.
2. Đơn vị ngữ âm
2.1. Đơn vị đoạn tính:
- Âm tiết (khái niệm, phân loại)
- Âm tố (khái niệm, phân loại âm tố: nguyên âm - phụ âm, các tiêu chí phân
loại nguyên âm, các tiêu chí phân loại phụ âm)
- Âm vị (khái niệm khu biệt - khái niệm âm vị - âm vị và biến thể âm vị)
2.2. Đơn vị siêu đoạn tính:
- Thanh điệu (khái niệm, phân loại)
- Trọng âm (khái niệm, phân loại)

+ Ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị:
- Âm tiết tiếng Việt có vai trò quan trọng vì ranh giới âm tiết trùng với ranh
giới hình vị (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa) cần lưu ý trong ngôn ngữ Ấn Âu đơn vị
hình vị có thể thể hiện các loại đơn vị ngữ âm khác nhau hoặc bằng môt âm vị
hoặc một số tập hợp âm vị (nhỏ hơn âm tiết), một âm tiết hoặc một tổ hợp âm
tiết (lớn hơn âm tiết). Trong tiếng Việt đơn vị có nghĩa nhỏ nhất là một âm tiết.
Trong ngôn ngữ Ấn Âu có trường hợp hình vị trùng với âm tiết nhưng đó không
phải là hình thức điển hình. Ngược lại trong tiếng Việt cũng có một số hình vị
gồm nhiều âm tiết nhưng đây là hiện tượng lẻ tẻ. Về cơ bản một âm tiết tiếng
Việt đồng thời cũng là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và là đơn vị cơ bản để cấu tạo
từ tiếng Việt. Hơn thế nữa, trong tiếng Việt còn có sự trùng hợp một cách phổ
biến 3 đơn vị: âm tiết – hình vị - từ. Đây là cơ chế đơn tiết và là đặc điểm cơ bản
để tiếng Việt được xếp vào loại hình ngôn ngữ đơn lập.
Câu 2: Trình bày về đặc điểm cấu tạo của âm tiết tiếng Việt.
Gợi ý:
- Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ đơn tiết tính điển hình như tiếng Việt là cấu
tạo âm tiết hết sức chặt chẽ.
- Dựa vào thực tế sử dụng tiếng Việt (như cấu tạo từ láy, cấu tạo từ theo
phương thức iếc hóa, nói lái, hiệp vần thơ…) có thể phân xuất âm tiết tiếng Việt
thành 5 thành tố cấu tạo nhỏ hơn.
- Mỗi thành tố trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt có đặc điểm riêng và giữ chức
năng riêng không thể thay thế cho nhau.
1. Thanh điệu: là thành phần siêu đoạn tính, giữ chức năng khu biệt dựa vào sự
thay đổi độ cao của âm tiết.
21


2. Âm đầu: tất cả đều là phụ âm đơn, giữ chức năng mở đầu âm tiết
3. Âm đệm: khu biệt dựa vào sự thay đổi âm sắc của âm tiết (trầm hóa/ không
có hiện tượng trầm hóa)

này được xác đinh dựa vào thực tế của một số từ láy, đặc biệt dựa vào một số
hình thức hiệp vần thường cũng dựa vào các cách nói lái không bình thường để
tách phần vần ra thành ba thành tố nhỏ hơn: Âm đệm/ âm chính/ và âm cuối.
+ Dựa vào quan hệ thuần túy ngữ âm học theo hình thức lưỡng phân (mức độ
chặt chẽ và ít chặt chẽ) người ta chia cấu tạo âm tiết thành các bậc.
Bậc I: bậc lưỡng phân giữa hai loại đơn vị siêu đoạn và chiết đoạn.

22


Bậc II: lưỡng phân lần thứ hai trong thành phần chiết đoạn giữa âm đầu và
phần vần.
Bậc III: lưỡng phân trong cấu tạo phần vần giữa âm đệm và vần cái (vần chứa
âm chính và âm cuối) bậc lưỡng phân cuối cùng trong phần vần cái giữa âm
chính và âm cuối. Có thể hình dung như sau:

Âm tiết
Siêu đoạn

chiết đoạn

Âm đầu

vần
Âm điệu

vần cái

Âm chính


+ Về mặt cấu âm:
Khi phát âm nguyên âm luồng hơi thóat ra tự do, khi phát âm phụ âm luồng
hơi bị chặn ở một điểm nào đó trong bộ máy cấu âm. Vì vậy phụ âm có tiêu
điểm cấu âm còn nguyên âm thì không có.
Khi phát ra nguyên âm luồng hơi đi ra yếu còn khi phát ra phụ âm luôngd hơi
đi ra mạnh.
Khi phát âm nguyên âm bộ máy cấu âm căng đều còn khi phát âm phụ âm độ
căng thường tập trung ở tiêu điểm cấu âm (điểm chặn khi cấu âm).
+ Về mặt âm học:
Nguyên âm chủ yếu đợc tạo ra bởi tiếng thanh còn phụ âm chủ yếu được tạo ra
bởi tiếng động.
+ Về chức năng cấu tạo âm tiết:
Nguyên âm gĩ vai trò âm chính (âm vị âm tiết tính) còn phụ âm vẫn giữ vai trò
âm phụ (cần lưu ý trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt nguyên âm luôn luôn giữ vai
trò âm chính (đỉnh âm tiết), trong một số ngôn ngữ các phụ âm vang / l, r / cũng
có thể giữ vai trò âm chính trong âm tiết).
Nguyên âm là yếu tố không thể thiếu trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt (âm tiết
đơn giản nhất gồm 2 thành tố nguyên âm và thanh điệu) còn phụ âm có thể có
hoặc không.
Lưu ý: Học viên có thể trình bày thêm đặc điểm lưỡng khả của các bán âm
(bán âm đệm và bán âm cuối) trong tiếng Việt.
Câu 6: Trình bày về sự thể hiện chữ viết các âm đầu tiếng Việt.
Gợi ý:
- Nêu nhận xét chung về nguyên tắc chữ viết tiếng Việt: chữ viết ghi âm tố,
mỗi âm được thể hiện bằng một ký hiệu chữ viết.
- Tuy nhiên trong thực tế tình hình phức tạp hơn. Một số âm được thể hiện
bằng tổ hợp con chữ, ví dụ: / t / - th; / c / - ch; một số âm khác có nhiều cách thể
hiện bằng chữ viết khác nhau, ví dụ: / k / thể hiện bằng 3 hình thức c , k , q ,
ngược lại một con chữ có thể lại có nhiều âm trị khác nhau, ví dụ: con chữ g ghi
2 âm / j / và /z/

- Nguyên âm /i/ có hai cách thể hiện bằng chữ viết : i và y
- Nguyên âm /ă / có hai cách thể hiện bằng chữ viết ă và a
Câu 9: Trình bày những hiểu biết của anh chị về thanh điệu và thanh điệu tiếng
Việt.
Gợi ý:
- Nêu khái niệm thanh điệu.
- Đặc điểm cấu âm của thanh điệu: Sự thay đổi tần số rung động của dây thanh.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status