phuong phap giang day dao duc o tieu hoc - Pdf 67

Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
ĐẠO ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐẠO ĐỨC
PHẦN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC, ĐẠO ĐỨC HỌC
1.Một số vấn đề cơ bản về đạo đức
1.1. Khái niệm đạo đức:
Một trong những đặc trưng của loài người là con người sống trong cộng
đồng, xã hội với những mối quan hệ rất đa dạng với những người xung quanh. Để
xã hội tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân trong xã hội cần thực hiện những hành vi,
thể hiện thái độ phù hợp trên cơ sở lợi ích của cộng đồng, xã hội, lợi ích của người
khác và của bản thân mình. Những cách cư xử thích hợp được sự tán đồng của đa số
thành viên trong cộng đồng, xã hội và được nhiều người khác noi theo. Dần dần,
chúng sẽ trở thành những quy tắc ứng xử chung của những cá nhân trong cộng đồng
xã hội đó. Những hành vi cử xử theo các quy tắc này được coi là thiện, là đạo đức.
Những hành động ngược lại – có hại cho lợi ích cộng đồng, xã hội, của người khác,
bị coi là ác, vô đạo đức và do đó, bị lên án, phê phán.
Khi nói đến giá trị đạo đức, chỉ có thể là tích cực hoặc tiêu cực, không có giá
trị trung hòa. Có thể chia ra 4 loại hành động: hành động đạo đức, không thực hiện
hành động đạo đức, hành động vô đạo đức và không thực hiện hành động vô đạo
đức. Trong thực tế cuộc sống, khó có thể nói một con người là hoàn toàn đạo đức
hay vô đạo đức. Vì vậy, đánh giá một con người là đạo đức hay vô đạo đức là việc
rất khó, phức tạp. Nói chính xác hơn, đánh giá một hành động là đạo đức hay
không, dễ hơn là đánh giá đạo đức của con người nói chung.
Đạo đức của con người biểu hiện ở năng lực hành động tự giác vì lợi ích của
người khác và lợi ích của cộng đồng, xã hội, phù hợp với những quy định, những
chuẩn mực đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực được xã hội thừa nhận và đòi hỏi các thành viên thực hiện sao cho phù
hợp với lợi ích của xã hội, cộng đồng, bản thân, nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người
với cộng đồng, xã hội.
- 1 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học

người đánh giá hành vi của người khác và hành vi của bản thân một cách khách
quan.
1.2.2. Chức năng định hướng, điều chỉnh hành vi của đạo đức:
Đạo đức giúp con người hành động đúng trong các tình huống khác nhau
trong cuộc sống hằng ngày của mình sao cho không làm tổn lợi ích của những
người xung quanh, của cộng đồng, xã hội.
Khi mình làm điều chưa phù hợp với các quy tắc đạo đức, con người tự điều
chỉnh hành vi của mình
Khi làm được việc tốt, con người tiếp tục thực hiện hành vi tương tự.
Sự định hướng hành vi của đạo đức phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, sự
điều chỉnh phụ thuộc vào sự đánh giá của nó (từ xã hội và từ bản thân ).
1.2.3. Chức năng đánh giá của đạo đức:
“Thước đo” cơ bản của sự đánh giá này là những quy tắc, chuẩn mực đạo
đức, xã hội.
Đánh giá từ xã hội có thể là khen ngợi, đồng tình, hay ngược lại, lên án, phê
phán.
Đánh giá từ phía bản thân là “tòa án lương tâm”.
Đạo đức còn giúp con người đánh giá hành vi của những người khác.
2. Đạo đức học là một khoa học
2.1. Đối tượng của đạo đức học:
Vào thế kỉ thứ III trước Công nguyên, Aristote dùng èthica để chỉ ngành Đạo
đức học, tên gọi này được dùng đến ngày nay.
Đạo đức học nghiên cứu những nguyên tắc, chuẩn mực, quy tắc về cách ứng
xử, những tập quán, tục lệ thể hiện mối tương quan giữa con người với nhau, giữa
con người với xã hội, xác định những quy luật nảy sinh, tồn tại, phát triển, chúng
làm rõ bản chất đạo đức trong xã hội loài người. Nói cách khác, Đạo đức học là
khoa học nghiên cứu về đạo đức. Do đó, tất cả những gì liên quan đến đạo đức điều
là đối tượng nghiên cứu của Đạo đức học.
- 3 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học

thuộc vào kết quả mà còn liên quan đến mục đích, động cơ, phương tiện, điều kiện
thực hiện…Hành vi được đánh giá là thiện hay ác cụ thể như sau:
- Động cơ tốt, kết quả tốt – được coi là thiện.
- Động cơ tốt, kết quả xấu – không được coi là ác.
- Động cơ xấu, kết quả tốt – không được coi là thiện.
- Động cơ xấu, kết quả xấu – được coi là ác.
Trong thực tiễn cuộc sống, việc xác định một hành vi là thiện hay ác hoàn
toàn không dễ dàng vì rất khó nhận ra động cơ, mục đích ẩn sau mỗi hành vi. Hơn
nữa, ngoài động cơ, mục đích tốt còn cần điều kiện, phương tiện thực hiện
Lí tưởng cao đẹp của loài người là xây dựng một xã hội văn minh mà trong
đó cái thiện ngự trị tuyệt đối.
2.2. 2. Nghĩa vụ:
Nghĩa vụ là thực hiện trách nhiệm của mình vì lợi ích chung khi con người
tham gia các mối quan hệ nhóm, tập thể khác nhau.
Trong thực tiễn cuộc sống, mỗi người có vai trò khác nhau trong xã hội nên
nghĩa vụ của các công dân là có thể không giống nhau.
Khả năng xảy ra trường hợp con người phải đồng thời thực hiện một số
nghĩa vụ khác nhau nên cần phải lựa chọn cách giải quyết phù hợp.
Trong cuộc sống ngoài nghĩa vụ đạo đức, con người phải thực hiện nhiều
nghĩa vụ pháp lí. Điểm chung của hai nghĩa vụ là điều nhằm định hướng, điều chỉnh
hành vi và hoạt động của con người phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Song, nghĩa
vụ đòi hỏi công dân phải tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành.
Nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lí có mối quan hệ khăng khít với nhau –
đều đóng góp vào việc giữ gìn kỉ cương và phát triển xã hội. Nghĩa vụ đạo đức thúc
đẩy con người thực hiện nghĩa vụ pháp lí… Nghĩa vụ pháp lí là biểu hiện của việc
thực hiện nghĩa vụ đạo đức… Xã hội càng văn minh, tiến bộ thì nghĩa vụ pháp lí
càng được chuyển hóa thành nghĩa vụ đạo đức.
- 5 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
2.2.3. Lương tâm:

- Theo quan niệm truyền thống, hạnh phúc con người gắn liền với cuộc sống gia
đình – có một gia đình êm ấm, vợ chồng yêu thương nhau, con cái khỏe mạnh,
ngoan ngoãn, học giỏi, kinh tế sung túc,… Khi đó, con người có cảm giác vui
sướng, phấn chấn, thỏa mãn về những điều mình mong muốn đã đạt được.
- Theo nghĩa rộng, hạnh phúc là cảm giác về sự khoan khoái của tồn tại, khi
những nhu cầu cơ bản của mình được thỏa mãn.
- Những nhu cầu cơ bản của con người gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh
thần:
+ Nhu cầu vật chất: thức ăn, nước uống, quần áo,… Nhu cầu vật chất là có
giới hạn, nếu vượt quá giới hạn, con người có thể không còn cảm thấy sung sướng
mà còn cảm thấy khó chịu, thậm chí nguy hiểm: ăn quá no gây bội thực, gây bệnh,
…Vật chất chưa hẳn mang lại hạnh phúc cho con người, chẳng hạn: nhiều người có
cuộc sống giàu sang, đầy đủ,… là nhờ những cách làm giàu phi pháp, điều ác thì lại
càng không có hạnh phúc, vì họ không có một tinh thần lành mạnh, không có sự
thanh thản lương tâm.
+ Nhu cầu tinh thần: hiểu biết về thế giới xung quanh, thưởng thức và sáng tạo
ra cái đẹp,… Nhu cầu tinh thần của con người là không có giới hạn, khát vọng về
chân lí, đạo đức, thẩm mĩ là vô cùng và chúng chỉ mang lại những xúc cảm tích cực
mà thôi. Hạnh phúc thật sự là phải biết sẵn sàng hi sinh nhu cầu vật chất để thỏa
mãn nhu cầu tinh thần; nhu cầu tinh thần là yếu tố cơ bản tạo nên hạnh phúc của
con người, trong đó, nhu cầu đạo đức chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Vì trong cuộc
sống của mình không ai thoát được mối quan hệ đạo đức: với người xung quanh,
với công việc, với xã hội,… Hạnh phúc thật sự chỉ đến với những người có đạo
đức: làm việc thiện, điều tốt,…
- Hạnh phúc của con người vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan:
+ Tính chủ quan: mỗi một con người có quan niệm riêng của mình về hạnh
phúc, có điều kiện và khả năng của mình để đạt được những nguyện vọng nhu cầu
cá nhân. Chẳng hạn: đối với người này hạnh phúc là có gia đình yên ấm, con cái
- 7 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học

đức cho học sinh tiểu học liên tục, luôn được củng cố, nên càng có hiệu quả.
1.1.3. Môn học có mối quan hệ mật thiết với con đường giáo dục qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp:
- Môn Đạo đức định hướng cho việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Nhờ có những tri thức, kĩ năng, thái độ được hình thành qua môn Đạo đức, học
sinh có khả năng thực hiện được các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp có tác dụng củng cố, khắc sâu, mở
rộng kết quả dạy học môn Đạo đức.
1.1.4. Môn Đạo đức ở tiểu học tạo tiền đề và cơ sở cho học sinh học tiếp nối môn
Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở:
- Môn Đạo đức ở tiểu học giúp cho học sinh dần dần nắm được những tri thức
sơ đẳng ngày càng có tính khái quát về những chuẩn mực hành vi đạo đức. Đến
cuối bậc học, ở các em đã hình thành được những khái quát sơ đẳng cần thiết.
- Những khái quát sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi này tạo nên tiền đề và điều
kiện để các em học tiếp môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở với nội dung
bao gồm những khái niệm về những phẩm chất đạo đức và những bổn phận đạo đức
và pháp luật.
1.2. Mục tiêu môn Đạo đức:
Những điểm cần chú ý:
- Đây là kết quả mong muốn cần đạt được ở học sinh qua quá trình dạy học môn
Đạo đức (mà không phải ở giáo viên, chương trình hay tài liệu dạy học môn Đạo
đức,…).
- Những mục tiêu này có tác dụng định hướng cho việc tổ chức quá trình dạy
học môn Đạo đức để đạt được những kết quả trên.
- Chúng là một căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả dạy môn Đạo đức.
- Những mục tiêu này phản ánh các khía cạnh khác nhau của những chuẩn mực
hành vi đạo đực – hiểu biết về chuẩn mực, thái độ liên quan và việc thực hiện chuẩn
mực đó.
- 9 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học

Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
- Biết xử lí những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống.
- Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu, qua trò chơi, hoạt
cảnh,…
- Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài đạo đức.
- Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày của mình
phù hợp với các chuẩn mực hành vi,…
1.2.3. Mục tiêu về thái độ:
Sau khi học môn Đạo đức, học sinh bày tỏ được những xúc cảm, thái độ phù
hợp liên quan đến những chuẩn mực hành vi đạo đức và từ đó, có tình cảm đạo đức
bền vững.
Thái độ, tình cảm đạo đức đóng vai trò quan trọng trong đời sống vì thái độ, tình
cảm đúng đắn được coi là “chất men kích thích” từ bên trong nội tâm, giúp con
người vượt qua những khó khăn trở ngại, làm điều thiện, làm cho cuộc sống trở nên
nhân ái hơn, giàu tình người hơn.
Những thái độ, tình cảm này bao gồm:
- Thái độ tự giác, tích cực thực hiện hành vi theo chuẩn mực quy định.
- Thái độ đồng tình với hành động tích cực; thái độ phê phán đối với hành
động tiêu cực.
- Tình cảm đối với những đối tượng khác nhau do các bài đạo đức quy định.
1.3. Đặc điểm môn Đạo đức:
1.3.1. Dạy học môn Đạo đức là một hoạt động giáo dục đạo đức:
- Học sinh thực sự tham gia hoạt động giáo dục như được nói, được trao đổi với
bạn, được thực hành, vận dụng tri thức và kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống của
mình,…
- Khi tham gia hoạt đông, học sinh có thể hình thành cho mình cả 3 mặt: tri thức,
kĩ năng, hành vi và thái độ.
- Hạn chế của việc giáo dục học sinh chỉ qua sách vở: tri thức nông cạn, kĩ năng
kém bền vững, hành vi không được thực hiện, thái độ và tình cảm hời hợt,…
1.3.2. Tính cụ thể của các chuẩn mực hành vi đạo đức:

Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
- Nhiệm vụ cơ bản của tiết 1: giúp học sinh nắm được những tri thức về chuẩn
mực hành vi, đồng thời bước đầu góp phần hình thành thái độ, kĩ năng và hành vi
tương ứng.
- Nhiệm vụ cơ bản của tiết 2: tổ chức cho học sinh hình thành kĩ năng, rèn luyện
hành vi, qua đó, củng cố tri thức, và giáo dục thái độ tương ứng.
- Mối quan hệ giữa hai tiết đạo đức: tiết 1 chuẩn bị cho tiết 2; tiết 2 củng cố và
khẳng định kết quả tiết 1.
2. Nội dung môn Đạo đức
2.1. Định hướng xây dựng chương trình môn Đạo đức:
2.1.1. Bảo đảm phù hợp và phục vụ việc thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học là “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” (theo Điều 27 của Luật giáo
dục, 2005).
Như vậy, theo mục tiêu này thì chương trình môn Đạo đức phải:
- Tạo được những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức
cho học sinh tiểu học: Điều này các chuẩn mực hành vi trong chương trình phải là
những chuẩn mực cơ bản, vừa sức, phản ánh các mối quan hệ thường gặp của các
em. Đồng thời, chúng cũng tạo điều kiện cho học sinh tiểu học phát triển đạo đức
của mình qua việc mở rộng các mối quan hệ khác nhau.
- Chuẩn bị thiết thực cho học sinh tiểu học học tiếp trung học cơ sở: Tức là, việc
giáo dục đạo đức ở tiểu học phải có kết quả tốt để các em có đủ tư cách và trách
nhiệm thực hiện tốt việc học tập và rèn luyện ở bậc học mới; ngoài ra, môn Đạo đức
còn có nhiệm vụ chuẩn bị cho học sinh học tốt môn Giáo dục công dân ở Trung
học cơ sở. Vì vậy, các chuẩn mực hành vi đạo đức ở tiểu học phải góp phần hình
thành ở các em hệ thống tri thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản, thái độ học tập
tích cực, kĩ năng và thói quen hoạt động tập thể, cư xử đúng đắn với những người
xung quanh, tính năng động, sáng tạo trong các công việc khác nhau…
2.1.2. Bảo đảm tính cơ bản, hiện đại, thiết thực, gắn với thực tiễn Việt Nam

- 14 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
- Chương trình mới đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức phải song
song với đổi mới phương tiện, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh giá kết quả dạy
học…
2.2. Đặc điểm sách giáo khoa, Vở bài tập môn Đạo đức:
2.2.1. Sách giáo khoa
Sách giáo khoa môn Đạo đức có ở lớp 4 và 5 (các lớp 1, 2, 3 không có sách giáo
khoa) giúp giáo viên và học sinh dạy và học các bài đạo đức theo quy định của
chương trình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Sách giáo khoa Đạo đức gồm 14 bài theo chương trình bắt buộc. Mỗi bài đạo
đức trong sách giáo khoa có cấu trúc gồm những phần sau:
a) Giới thiệu mẫu hành vi đạo đức
Mẫu hành vi đạo đức như một biểu tượng cụ thể liên quan đến chuẩn mực hành
vi đạo đức được đưa ra để học sinh tiểu học làm theo, bắt chước (đối với biểu tượng
tích cực) hoặc tránh (đối với biểu tượng tiêu cực). Nó được giới thiệu qua nhiều
hình thức khác nhau như:
- Truyện kể đạo đức: Thường là câu chuyện trọn vẹn - có mở đầu, diễn biến, kết
thúc. Trong truyện kể, một tình huống đạo đức được nêu ra để nhân vật giải quyết,
ứng xử theo cách của mình. Từ đó, dẫn đến kết quả hay hậu quả nào đó - nếu hành
vi ứng xử là đúng thì cho kết quả tích cực và ngược lại. Từ kết quả hay hậu quả này,
học sinh sẽ rút ra kết luận tương ứng (bắt chước hay tránh) về chuẩn mực cần thực
hiện.
Ví dụ: Bài “Tôn trọng khách nước ngoài” có truyện kể “Cậu bé tốt bụng” (Lớp 3)
Mỗi truyện kể đạo đức thường được minh họa bằng tranh nhằm giúp học sinh
nắm được nội dung truyện một cách trực quan, sinh động, từ đó khắc sâu được mẫu
hành vi này.
Cuối mỗi truyện kể, có một số câu hỏi nhằm giúp học sinh phân tích truyện và
rút ra kết luận phù hợp.
- Tình huống đạo đức: Một tình huống liên quan đến bài đạo đức được đưa ra, trong

Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
- Những bài tập đạo đức này nhằm giúp học sinh phát hiện ra tri thức mới, bày tỏ
thái độ và vận dụng bài học để hình thành kĩ năng, hành vi tương ứng. Nhờ đó, các
em sẽ đạt được mục tiêu bài học.
- Ở mỗi bài đạo đức trong sách giáo khoa, thường có khoảng 4-6 bài tập. Chúng có
thể gồm những dạng về tri thức, kĩ năng, hành vi và thái độ.
d) Thực hành
Phần này hướng dẫn học sinh thực hiện những công việc sau giờ học, chủ yếu nhằm
giúp các em củng cố tri thức, thí độ và hình thành hành vi đạo đức. Những nội dung
thực hành có thể là: thực hiện hành vi trong cuộc sống, vẽ tranh, điều tra…
2.2.2. Vở bài tập
- Vở bài tập đạo đức là một tài liệu học tập dành cho học sinh. Theo xu thế chung, ở
các lớp 1, 2, 3 không có sách giáo khoa đạo đức mà thay vào là vở bài tập nhưng
không bắt buộc sử dụng. Ngoài ra, lớp 4, 5 có sách giáo khoa đạo đức nhưng người
ta cũng biên soạn vở bài tập để hỗ trợ môn này.
- Theo đổi mới dạy học môn Đạo đức hiện nay, môn Đạo đức được coi là hoạt động
giáo dục. Trong trường hợp này, vở bài tập được coi là phương tiện giúp học sinh
thực hiện các hoạt động do giáo viên tổ chức. Như vậy, vở bài tập giúp học sinh
phát hiện tri thức đạo đức, hình thành kĩ năng, hành vi và bày tỏ thái độ của mình
liên quan đến bài đạo đức.
- Tuy nhiên, giáo viên phải thật tỉnh táo khi sử dụng vở bài tập. Bởi lẽ, nếu lạm
dụng nó thì có thể không đạt được mục tiêu bài học đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu về
hành vi.
- Mỗi bài đạo đức trong vở bài tập thường có hai phần:
+ Các bài tập: Thường rất đa dạng với số lượng khoảng 4 đến 6 bài đạo đức. Chúng
được nêu ra qua nhiều hình thức khác nhau, ví như: điền đúng sai vào ô trống, nối
nội dung với hình vẽ, xác định hành vi trong tranh là đúng hay sai…
+ Ghi nhớ: Cũng được nêu ra tương tự như sách giáo khoa.
2.3. Vấn đề xây bài tập trong dạy học môn Đạo đức.
2.3.1. Bài tập về tri thức

 Cần giữ gìn trường lớp và môi trường sạch đẹp.
- 18 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
Chỉ cần hỏi một trong hai ý trên là đủ.
- Vị trí câu đúng (hay sai) phải được sắp xếp ngẫu nhiên.
b) Bài tập nhiều lựa chọn
Tính chất của dạng bài tập này là, một câu hỏi thường có 3 đến 5 câu trả lời sẵn,
trong đó chỉ có một câu trả lời phù hợp, còn các câu trả lời khác được xem là câu
“gây nhiễu”.
Loại bài tập này có thể kích thích HS suy nghĩ, động não nhiều hơn so với câu hỏi
đúng - sai, nhưng việc biên soạn lại khó hơn, đòi hỏi người biên soạn có chuyên
môn sâu sắc.
VD1: Bài “Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng”
Hãy chọn câu trả lời đúng nhất
Việc làm bảo vệ hoa và cây nơi công cộng làm cho:
a) Môi trường luôn xanh sạch đẹp
b) Có nhiều loài hoa và cây trồng đẹp
c) Có nhiều bóng mát
d) Cả 3 ý trên
VD2: Bài “Lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo”
Hãy đánh dấu + vào một ô  trước ý đúng nhất
Lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo để:
 Thầy giáo, cô giáo yêu thương
 Bạn bè yêu mến
 Là học sinh ngoan; cô thầy yêu thương, mọi người thương mến.
Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này là:
- Số phương án trả lời tối ưu cho một câu là 3-5 câu, không nên có quá ít, hay
ngược lại quá nhiều làm cho việc xác định câu trả lời trở nên rắc rối.
- Trong một câu hỏi, phương án trả lời đúng nhất phải rõ, chắc chắn; tránh những
trường hợp không thể phân biệt, xác định được câu trả lời đúng nhất.

- Ngắt, hái hoa
- Không cần phải bảo vệ cây xanh
- Tưới nước, tỉa cành
- 20 -
Không nên
Nên làm
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
- Tham gia trồng cây ở đường làng, ngõ xóm
Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
-Những thông tin nêu ra ở từng cột không nên quá dài, vì nó dễ làm cho việc nối nội
dung ở hai cột bị “rối”, HS dễ bị lẫn.
- Những thông tin ở mỗi cột phải đơn tính (cùng phản ánh một tính chất nào đó của
nội dung); tránh những thông tin không thuộc cùng một loại, đa tính ở từng cột.
- Thứ tự các câu hỏi và thứ tự các câu trả lời nên được sắp xếp lẫn lộn; tránh thứ tự
tương ứng, vì như vậy thì làm giảm tính khách quan việc lựa chọn của HS.
d. Bài tập điền khuyết:
* Tính chất:
- Trong câu dẫn có một vài chỗ khuyết (thường được biểu diễn bằng dãy dấu
chấm) và yêu cầu đặt ra là học sinh phải điền những từ thích hợp vào những chỗ
khuyết đó.
- Các từ cần điền là những từ “cốt yếu”, phản ánh nội dung tri thức đạo đức mà
học sinh cần phát hiện, cần biết. Chúng có thể được cho trước hoặc không.
VD1: Bài “ Giữ gìn trường, lớp sạch đẹp” (lớp 2).
Điền vào chỗ chấm những từ thích hợp:
Nếu không được giữ gìn sạch đẹp thì môi trường sẽ bị ..……………….có hại cho
………………….., quan cảnh nhà trường sẽ bị ………………………..
VD2: Bài “biết ơn thương binh, liệt sĩ” (lớp 3)
Điền vào chỗ chấm những từ sau sao cho thích hợp: hòa bình, độc lập, thân
thể, tự do.
Chúng ta cần biết ơn thương binh, liệt sĩ và họ là những người hi sinh

Chúng ta cần tôn trọng tổ chức Liên Hợp Quốc vì đây là một tổ chức ………..
lớn nhất, có nhiệm vụ …………, …………., thúc đẩy …………….trên thế giới.
Việc chúng ta tôn trọng tổ chức Liên hợp quốc là một hành động ……………..dân
tộc.
- Những từ cần điền phải phù hợp với bài đạo đức đang học; tránh các từ xa lạ,
không liên quan đến chuẩn mực hành vi liên quan.
e. Bài tập trả lời ngắn:
- 22 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
* Đặc điểm:
- HS cần trả lời ngắn gọn, như việc ra một số từ, một vài câu,…
- Vận dụng cho nội dung thực hiện chuẩn mực hành vi (những việc cần làm,
những hành động cần tránh,…).
VD: Bài “Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” (lớp 5)
Hãy ghi ra 3 việc cần làm để bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và 3 việc cần
tránh.
Những việc cần làm: ……………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Những việc cần tránh: …………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………….
* Yêu cầu sư phạm:
- Bài tập phải rõ ràng, HS sẽ biết phải làm gì, trả lời bằng cách viết ra một số từ
hay câu,…; tránh nêu lệnh chung chung, không rõ ràng.
VD: Theo bài “Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”, nếu nêu ra yêu cầu “Các em phải
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như thế nào?” là không hợp lí, vì khi đó câu hỏi này
không là dạng câu trả lời ngắn nữa.
- Chỉ vận dụng với những bài đạo đức mà đối tượng khá quen thuộc với học
sinh tiểu học vì chỉ trong những trường hợp đó, HS mới có những kinh nghiệm nhất
để trả lời được.
VD: Bài “Em tìm hiểu về Liên Hợp Quốc” (lớp 5)

 Để nước chảy tràn bể
 Dùng nước xong khoá ngay vòi lại
 Nước thảy ở nhà máy, bệnh viện cần được xử lý
 Tận dụng nước sinh hoạt để sản xuất, tưới cây.
* Những yêu cầu sư phạm đối với loại bài tập này:
- Nội dung của các quan niệm phát biểu phải sát, liên quan đến bài đạo đức,
tránh đưa ra những nội dung xa với tính chất của chuẩn mực hành vi
Ví dụ: Bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước” (lớp 3) rèn thái độ quý trọng
nguồn nước; có ý tức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; tán thành, học tập
- 24 -
Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học
những người biết tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; không đồng ý với những người
lãng phí và làm ô nhiễm nguồn nước.
- Câu phát biểu cần diễn đạt một cách rõ ràng, chúng phải được mọi học sinh
hiểu như nhau, được hiểu một nghĩa.
Ví dụ: Bài “Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước” (lớp 3) yêu cầu học sinh: thực
hành tiết kiệm nước, vệ sinh nguồn nước; tham gia vào các hoạt động, phong trào
tiết kiệm nước ở địa phương.
- Nội dung câu phát biểu cần độc lập tương đối với nhau tránh đưa ra những
nội dung bao hàm nhau, tương tự nhau hay phủ nhận lẫn nhau..
Ví dụ: Bài “Giữ lời hứa” (lớp 3) dạy cho học sinh kiến thức: Giữ lời hứa với
mọi người chính là tôn trong mọi người và bản thân mình. Nếu ta hứa mà không giữ
lời sẽ làm mất niềm tin của mọi người và làm lỡ việc của người khác.
- Nên đưa ra cả những nội dung được phát biểu dưới dạng tích cực lẫn tiêu
cực; tránh trường hợp các câu được nêu ra chỉ theo một hướng đều là dạng tích cực,
hoặc ngược lại
Ví dụ: Bài ‘Biết ơn thương binh , liệt sĩ” (lớp 3)
Hãy viết chữ Đ vào ô trống trước hành vi đúng, chữ S vào ô trống trước hành
vi sai:
 Ngày nghỉ cuối tuần, các bạn lớp 3A đến nhà chú Thanh-thương binh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status