1
Bộ Giáo dục và Đào tạo
bộ t pháp
trờng đại học luật hà nội
đỗ thị kim tiên
Pháp luật về quyền bình đẳng
giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam
luận án tiến sĩ luật học
2
Hµ néi - 2014
Bộ Giáo dục và Đào tạo
bộ t pháp
trờng đại học luật hà nội
đỗ thị kim tiên
Pháp luật về quyền bình đẳng
giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam
Chuyên ngành : Luật kinh tế
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
9
Tình hình nghiên cứu lý luận về bình đẳng, quyền bình đẳng giữa các
9
doanh nghiệp và pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
1.2.
Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về
13
quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
1.3.
Các công trình nghiên cứu đề cập giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng
23
giữa các doanh nghiệp
1.4.
Đánh giá chung tình hình nghiên cứu các công trình liên
2.4.
Vai trò của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
57
2.5.
Những yếu tố chi phối hệ thống pháp luật và quá trình thực thi pháp
64
luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
74
VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP
3.1.
Thực trạng pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
74
3.2.
Thực trạng thực thi pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh
106
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
162
163
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐGCDN
: Bình đẳng giữa các doanh nghiệp
CBXH
: Công bằng xã hội
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nước
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
ĐKDN
: Đăng ký doanh nghiệp
108
trật tự quản lý kinh tế
3.2
Báo cáo các vụ vi phạm theo Điều 279, 289 về tội đưa, nhận
109
hối lộ
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
hình
2.1
Mô phỏng các mối quan hệ tạo ra bình đẳng
BĐGCDN
hoặc bất
39
giới (WTO), Việt Nam đồng thời phải ký vào bản cam kết chấp nhận bị coi là nền
kinh tế phi thị trường (non - market economy, hay NME) trong 12 năm, kể từ ngày
gia nhập. Trong các quy định của GATT và WTO không có quy định về tiêu chí
NME hay KTTT. Tuy nhiên, các quy định này được xây dựng dựa trên những
nguyên tắc của thị trường. Hệ thống nguyên tắc này đòi hỏi các nước gia nhập
WTO phải cam kết cải cách kinh tế theo hướng thị trường, tuân thủ yêu cầu về
thương mại không phân biệt đối xử, đảm bảo quyền BĐGCDN. Do đó, để trở thành
nền KTTT không muộn hơn năm 2019, đáp ứng yêu cầu hội nhập, Việt Nam cần
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng tuân thủ
các quy luật thị trường, đảm bảo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng cho
doanh nghiệp. Cùng với điều này, trong các đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng coi quyền BĐGCDN là vấn đề cần
được bảo đảm.
Trong thực tế, quan điểm về bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa
các doanh nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986), được triển khai trong Hiến pháp 1992 và trong các đạo luật. Chính phủ cũng
đã phê duyệt Đề án 1715/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 nhằm đổi mới quản lý nhà
nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu. Tuy
nhiên, đi ngược với mục tiêu của nhà nước, trên thực tế, bất BĐGCDN không giảm
mà đang có xu hướng gia tăng, với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp. Vẫn
tồn tại nhiều sự phân biệt, đối xử doanh nghiệp ngay từ khi gia nhập thị trường,
trong quá trình kinh doanh và trong giải thể, phá sản doanh nghiệp. Các DNNN
kinh doanh độc quyền trong nhiều lĩnh vực, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thị
trường. Một số tập đoàn kinh tế nhà nước được ưu tiên, bảo lãnh, khoanh nợ, giãn
nợ, xóa nợ. Có những DNNN kinh doanh thua lỗ được sáp nhập vào tổng công ty
nhà nước, giao trách nhiệm cứu vớt cho các thành viên khác mà không bị phá sản.
Việc tiếp cận các dịch vụ công, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, tiếp cận nguồn tài
nguyên, đất đai của DNNN có nhiều thuận lợi, trong khi các doanh nghiệp thuộc
vấn đề "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" làm đề
tài nghiên cứu.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp
luật về quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Luận án nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống pháp luật Việt Nam,
đánh giá đầy đủ, khách quan, nhận định chính xác pháp luật về quyền BĐGCDN ở
Việt Nam hiện nay.
+ Luận án nghiên cứu pháp luật về quyền BĐGCDN ở Việt Nam chỉ áp
dụng đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005, không bao gồm các
chủ thể kinh doanh khác (hợp tác xã hay hộ kinh doanh cá thể,...)
+ Luận án nghiên cứu quyền BDDGCDN gắn với quá trình: (i) thành lập
doanh nghiệp; (ii) hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; và (iii) trong giải thể,
phá sản doanh nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp các luận cứ khoa học cho việc
hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
Nhiệm vụ của luận án là:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về bình đẳng, BĐGCDN, quyền BĐGCDN và
đánh giá ý nghĩa của việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Luận án cũng đồng thời đánh
giá vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền BĐGCDN và xác định các yếu
tố chi phối quyền BĐGCDN.
- Rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam, đưa ra những đánh giá khách quan về ưu điểm
và hạn chế của của pháp luật quy định về quyền BĐGCDN.
- Thu thập thông tin, tài liệu về thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền BĐGCDN ở Việt
Nam, trên cơ sở đó đánh giá những mặt đạt được và hạn chế. Từ
- Giả thuyết nghiên cứu: Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều chủ thể kinh doanh,
trong đó có doanh nghiệp. Để tồn tại và hoạt động, các doanh nghiệp cần được bình
đẳng về mặt pháp lý trong các giao dịch với đối tác và quan hệ với nhà nước (qua
các điều kiện ngang bằng và tiêu chuẩn giống nhau trong việc vay vốn, hưởng các ưu
đãi và thực hiện nghĩa vụ thuế,..). Như vậy, BĐGCDN là thuộc tính vốn có và là yêu
cầu không thể thiếu được của nền KTTT.
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Luận án làm rõ và phân biệt khái niệm quyền
BDDGCDN về mặt pháp lý và về mặt thực tế.
Câu hỏi nghiên cứu 3
- Tại sao lại phải đặt vấn đề BĐGCDN? và tại sao phải bảo đảm quyền BĐGCDN?
- Giả thuyết nghiên cứu: Tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và BĐGCDN là nguyên
tắc của thị trường, là cơ sở để vận hành quy luật cạnh tranh, tạo động lực phát triển
kinh tế.
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Chứng minh mối liên hệ giữa bảo đảm quyền BĐGCDN
với hoàn thiện thể chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời đánh giá được ý
nghĩa của việc bảo đảm quyền BĐGCDN.
Câu hỏi nghiên cứu 4
- Thực tế có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam hay không?
- Giả thuyết nghiên cứu: Có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam, để lại những hậu
quả tiêu cực đối với kinh tế, xã hội.
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Rà soát, đánh giá pháp luật và quá trình thực thi pháp
luật để chứng minh có sự tồn tại của bất BĐGCDN ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu 5
- Nguyên nhân nào gây ra bất BĐGCDN ở Việt Nam hiện nay?
- Giả thuyết nghiên cứu: Có các quy định pháp luật mang tính phân biệt đối xử doanh
nghiệp và quá trình thực thi vi phạm quyền BĐGCDN bắt nguồn từ những nguyên
nhân sâu xa khác nhau.
- Dự kiến kết quả kiến cứu: Luận án chỉ rõ những quy định pháp luật tạo ra bất
Chương 4: Chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích, dự báo, đưa ra những
khuyến nghị, giải pháp xác đáng nhằm đảm bảo quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
6. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học của luận án
Kết quả của việc nghiên cứu luận án đối với đề tài: "Pháp luật về quyền
bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" đem lại những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, luận án làm rõ bản chất của bình đẳng, BĐGCDN và quyền
BĐGCDN. Đồng thời, phân tích làm rõ vấn đề bảo đảm quyền BĐGCDN không
mâu thuẫn với chính sách ưu tiên hay hạn chế trong đầu tư, kinh doanh.
Thứ hai, luận án xây dựng khái niệm, xác định nội dung, tiêu chí đánh giá
về bình đẳng, BĐGCDN, quyền BĐGCDN, pháp luật về quyền BĐGCDN. Trên cơ
sở đó, luận án đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền BĐGCDN
và xác định các yếu tố chi phối quyền BĐGCDN.
Thứ ba, luận án nghiên cứu toàn diện hệ thống pháp luật liên quan đến doanh
nghiệp, đưa ra những nhận định về hạn chế của pháp luật về quyền BĐGCDN và
nguyên nhân chủ yếu gây ra bất BĐGCDN ở Việt Nam.
Thứ tư, luận án đưa ra giải pháp tổng thể, nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật hiện hành trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm điều chỉnh
pháp luật của nước ngoài, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam
trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả đạt được của luận án góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận
trong khoa học pháp lý về quyền BĐGCDN. Cụ thể là: xây dựng được khái niệm,
xác định nội dung và đưa ra tiêu chí xác định thế nào là bình đẳng doanh nghiệp,
quyền BĐGCDN, phân tích thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các vấn đề liên
quan đến quyền bình đẳng doanh nghiệp, chỉ ra những bất cập của lĩnh vực pháp
luật này và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Những tình huống cụ thể cùng những lập luận khoa học sẽ chứng minh cho
các luận điểm mà luận án đưa ra. Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật và
khía cạnh". Để làm rõ hơn, tác giả viết: "Công bằng xã hội dù được thực hiện
trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng, tương
xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ". CBXH là công bằng
trong mọi lĩnh vực: chính trị, pháp lý, kinh tế, văn hóa, xã hội,...". Thực hiện công
bằng xã hội về mặt kinh tế thể hiện ở cả khâu phân phối tư liệu sản xuất và khâu
phân phối kết quả sản xuất, thành quả về đầu tư phát triển kinh tế". Như thế, tác
giả của hai công trình nghiên cứu trên đây đều thống nhất cho rằng, công bằng
không phải là cào bằng. Điều này cũng có nghĩa bình đẳng cũng không phải là luôn
bằng nhau mà phải đảm bảo sự tương thích về cả quyền, nghĩa vụ cũng như yêu cầu
quản lý nền kinh tế hiệu quả.
Khi xem xét ở khía cạnh địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp hiện
nay, nghiên cứu của Tô Nguyễn Cẩm Anh lại cho rằng: "Quy định không miễn trừ
nghĩa vụ về tài sản chỉ áp dụng riêng đối với doanh nghiệp tư nhân và thành viên
hợp danh của công ty hợp danh vô hình chung là một sự phân biệt đối xử giữa các
loại hình doanh nghiệp trong việc giải quyết thủ tục phá sản, tạo nên sự bất bình
đẳng về tương lai kinh tế của các chủ thể kinh doanh" [1, tr. 34]. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có quan điểm trái chiều hay đồng thuận nào được công bố chính thức về
nhận định này.
1.1.1.2. Các quan điểm về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Quyền BĐGCDN ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu. Ngay tại
các cơ sở đào tạo, giảng dạy về Luật thương mại cũng đề cập rất khái quát về quyền
BĐGCDN. Trong Giáo trình Luật thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội (2006),
các quyền của doanh nghiệp được nêu cụ thể. Các chương II, chương III và chương IV
của giáo trình nghiên cứu vào các nhóm đối tượng như: Doanh nghiệp tư nhân
(DNTN), các công ty và DNNN. Khi đề cập đến quyền của DNTN, giáo trình viết:
Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp 1999, chính về thế nó được hưởng những quyền chung
giống mọi doanh nghiệp khác như: Các công ty cổ phần, công ty trách
DNTN với các doanh nghiệp khác trước hết thể hiện ngay trong việc thành lập doanh
nghiệp [83, tr. 145]. Giáo trình cũng chỉ ra rằng: "Các doanh nghiệp có quyền bình
đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ đóng góp
vào ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế". Giáo trình này cũng đề cập sâu
hơn để giải thích về mức thuế đóng góp giữa các doanh nghiệp ở mức độ khác nhau là
sự hợp lý. Điều này hoàn toàn phù hợp với các quan niệm về công bằng, bình đẳng.
Trong luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Bùi Ngọc Cường (2002) về Xây
dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta
không đề cập trực tiếp đến quyền BĐGCDN nhưng đã gợi mở về phương pháp tiếp
cận nghiên cứu các quyền của doanh nghiệp nói chung, trong đó có quyền tự do
kinh doanh, quyền BĐGCDN là các quyền được xây dựng trên nền tảng kinh tế,
chính trị - xã hội nhất định.
1.1.2. Những công trình liên quan đến xác định vai trò của pháp luật
bảo đảm quyền bình đẳng doanh nghiệp
Không có công trình nào được biết đến đã từng nhận định trực tiếp về vai
trò của pháp luật đối với việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Tuy nhiên, ở khía cạnh
nhất định, về mặt lý luận, vai trò của pháp luật nói chung đã được viết khá kỹ trong
giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2003) của Trường Đại học Luật
Hà Nội. Giáo trình khẳng định pháp luật là phương tiện để các chủ thể trong xã hội
quyết định những hoạt động của tổ chức, cá nhân [82, tr. 377]. Đồng thời, với tư
22
cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật tác động và ảnh hưởng
mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội. Giáo trình viết: "Sự tác động và ảnh hưởng của
pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và
từng loại quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật" [82, tr. 337]. Pháp luật
được đặt ra nhằm thực hiện những mục đích đã được xác định. Những mục đích đó
luôn xuất phát từ những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và nhu cầu cần thiết
sự quan tâm riêng" [88, tr. 2]. Tác giả cũng cho rằng, sự không rõ ràng trong nhận
thức sử dụng DNNN như một công cụ vật chất để điều tiết vĩ mô nền kinh tế cũng
tạo ra tâm lý Nhà nước kỳ vọng làm mạnh mẽ hơn công cụ vật chất của mình. Điều
này lại là yếu tố cản trở trực tiếp việc thu hẹp khu vực DNNN vốn dĩ đã bị phát
triển phân tán. Hơn nữa từ đây sẽ không thể triệt xóa được tình trạng Nhà nước
thiên vị đối với doanh nghiệp nhà nước [88, tr. 2].