Giải pháp liên kết thẻ thanh toán giữa các ngân hàng ở việt nam - Pdf 11

TÊN CÔNG TRÌNH:
GIẢI PHÁP LIÊN KẾT THẺ THANH TOÁN GIỮA
CÁC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển vượt bật về số lượng cũng
như chất lượng các dịch vụ cung ứng.
Bên cạnh chức năng trung gian tài chính, vốn là cơ sở mang lại nguồn thu nhập chủ
yếu của các Ngân hàng thương mại, thì doanh thu từ việc thực hiện chức năng trung gian
thanh toán đang có xu hướng ngày càng tăng trong cơ cấu tổng doanh thu của các ngân
hàng.
Trong số các dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp hiện nay, thẻ thanh toán ngày
càng được khách hàng sử dụng rộng rãi do những tiện ích mà nó mang lại. Tuy nhiên,
công dụng của thẻ thanh toán vẫn chưa được khai thác một cách triệt để. Việc liên kết thẻ
thanh toán giữa các ngân hàng ở Việt Nam, một nội dung cốt lõi để nâng cao tính tiện ích
và chất lượng dịch vụ thẻ, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đối với các ngân hàng và người
sử dụng.
Trong bối cảnh đó, đề tài “Giải pháp liên kết thẻ thanh toán giữa các ngân hàng
ở Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu thực hiện luận đề tài khoa học, nhằm tìm hiểu
sâu về thẻ thanh toán và liên kết thẻ thanh toán giữa các Ngân hàng thương mại ở Việt
Nam, đóng góp ý kiến vào lĩnh vực này, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ
thanh toán ở các ngân hàng và mang lại tiện ích tối ưu cho khách hàng sử dụng.
II. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài:
+ Nghiên cứu quá trình ra đời, phát triển thẻ thanh toán ở Việt Nam và những vấn
đề cơ bản về thẻ thanh toán, liên kết thẻ thanh toán.
+ Phân tích thực tiễn thẻ thanh toán và liên kết thẻ thanh toán tại một số Ngân
hàng thương mại ở Việt Nam để tìm ra những hạn chế trong liên kết thẻ hiện nay.
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẺ THANH TOÁN
VÀ LIÊN KẾT THẺ THANH TOÁN
1. Sơ lược quá trình ra đời, phát triển của thẻ thanh toán
a. Trên thế giới
Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi nhận vào năm
1914. Khi đó một Công ty của Mỹ là Western Union đã cung cấp một dịch vụ thanh
toán theo yêu cầu của khách hàng, Công ty này đã phát hành 1 tấm thẻ bằng kim loại
với 1 số thông tin được in nổi lên trên tấm thẻ kim loại này để đảm bảo 2 chức năng cơ
bản:
- Nhận dạng được khách hàng
- Có thể lưu giữ lại các thông tin được in nổi trên tấm kim loại
Với tấm thẻ kim loại bỏ túi này, khách hàng sử dụng có thể thanh toán cho mọi chi phí
phát sinh của mình tại các điểm giao dịch của ngân hàng ở mọi nơi mà không phải sử
dụng tiền mặt hay 1 số giấy tờ liên quan rườm rà khác như trước đây.
Chính vì thấy được sự tiện lợi về thẻ Western Union, Công ty General Petroleum của
Mỹ cũng đã phát hành thẻ xăng dầu đầu tiên vào năm 1924, theo đó cho phép các khách
hàng của công ty này có thẻ được mua xăng dầu của công ty trên đất nước Mỹ. Như vậy
có thể nói những tấm thẻ kim loại là nền tảng cho việc ra đời những tấm thẻ nhựa sau
này.
Tấm thẻ nhựa đầu tiên được phát hành vào năm 1950 bởi Công ty Dinners Club. Khi đó
ông Frank Mc Namana, người sáng lập ra công ty Dinners Club, đã hết sức bối rối sau
khi tham dự 1 bữa tiệc tại nhà hàng đã phát hiện ra mình quên mang theo ví tiền. Chính
từ đó ông đã có ý nghĩ là phát hành những tấm thẻ nhựa để cho phép khách hàng có thể
thanh toán sau.
Đến năm 1958, công ty American Express đã phát hành các thẻ nhựa, trong đó tập trung
vào các lĩnh vực giải trí và du lịch - 1 lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh chóng tại Mỹ
và Châu Âu trong thời kỳ này.
Năm 1966, ngân hàng Bank of America chính thức trao quyền phát hành thẻ Bank

EAB còn liên kết với Công ty dệt may Việt Tiến và dịch vụ viễn thông Viettel.
Hàng chục loại thẻ được các ngân hàng liên kết với doanh nghiệp phát hành ra thị
trường để thanh toán, tên gọi không thống nhất và chức năng cũng bị hạn chế. Chủ thẻ
ACB - Citimart visa electron chỉ sử dụng được trong hệ thống siêu thị, các điểm bán lẻ,
nhà hàng... trong hệ thống các điểm chấp nhận thanh toán thẻ Visa electron, không thể
dùng ở những nơi không có máy chấp nhận loại thẻ này hay dùng đi taxi Mai Linh.
Ngược lại, những chiếc thẻ Đông Á - Mai Linh không thể dùng để mua sắm trong siêu
thị, nơi không có điểm chấp nhận thẻ EAB.
Thực trạng trên là do doanh nghiệp muốn quảng bá thương hiệu của mình nên mỗi loại
thẻ mang một tên gọi khác, chứ thực chất chức năng là sử dụng để thanh toán ở các
điểm chấp nhận thẻ của Đông Á. Ta phải thừa nhận, hạn chế đối với thị trường thẻ VN
hiện nay là về thiết bị và công nghệ. Nhiều ngân hàng không thể đáp ứng hết nhu cầu
của người dân. Một số điểm thanh toán chỉ chấp nhập các loại thẻ của ngân hàng này mà
không thể chấp nhận thẻ của ngân hàng khác. Phương thức thanh toán bằng thẻ hạn chế
nên người dân vẫn thích sử dụng tiền mặt.Theo ông Lê Vũ Kỳ, Phó giám đốc ACB,
người dân ngày càng thích sử dụng thẻ để thanh toán trong mua bán, vì an toàn
hơn giữ tiền mặt. Do số lượng tài khoản cá nhân tại ngân hàng còn rất khiêm tốn, nên
việc liên kết với doanh nghiệp phát hành thẻ là biện pháp khuyến khích người dân giao
dịch, thanh toán qua thẻ nhiều hơn. Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn chưa nhận được sự
hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp trong việc trả thu nhập qua thẻ
Giám đốc tập đoàn Visa khu vực Đông Dương Gordon Cooper cho biết, theo kết quả
nghiên cứu về thị trường thẻ VN, có 1,5 triệu người tham gia các giao dịch thanh toán
có sử dụng thẻ. Với dân số trên 80 triệu người, trung bình cứ 54 người VN chỉ có một
thẻ thanh toán. Con số chi tiêu của người VN qua thẻ Visa chỉ đạt 0,13% tổng chi tiêu,
trong khi tỷ lệ này ở Malaysia là 7% và Philipines là 5%. "Điều này cho thấy, thị trường
thanh toán bằng thẻ của VN vẫn bị bỏ ngỏ. Các ngân hàng VN vì nhiều lý do đang khai
thác thị trường thẻ một cách lẻ tẻ, manh mún và thiếu hợp tác"

2. Khái niệm, đặc điểm thẻ thanh toán
Khái niệm: Thẻ - tiền điện tử là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiên

chuyển khoản, thông qua hệ thống ngân hàng như: sử dụng thẻ thanh toán, thẻ tín
dụng... nhờ đó họ kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, hạn chế thất thu thuế và gian lận trong
thương mại.
- Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế
Hầu hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và
thanh toán trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với
những giao dịch qua các phương tiện thanh toán khác như: tiền mặt, séc, uỷ nhiệm chi....
thay vì thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều được xử
lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng và an toàn.
- Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước
Trong thanh toán thẻ, các giao dịch đều nằm dưới sự kiểm soát của ngân hàng, nhờ đó
các ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo nền tảng cho công tác
quản lý thu nhập của xã hội, quản lý thuế của Nhà nước, thực hiện chính sách quản lý
ngoại hối quốc gia
* Đối với Ngân hàng
- Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng
Thẻ ra đời mang đến 1 phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mới hiện đại, đa
tiện ích, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Việc phát triển dịch vụ phát hành và
thanh toán thẻ ngân hàng có thêm cơ hội để phát triển các dịch vụ khác như đầu tư hoặc
bảo hiểm cho các sản phẩm.
- Gia tăng thu nhập cho ngân hàng
Thu nhập mà ngân hàng có được từ việc phát triển dịch vụ thẻ đó là phí sử dụng thẻ, lãi
suất cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh toán. Ngoài ra, khi sử dụng thẻ, khách
hàng phải mở tài khoản và sử dụng các dịch vụ kèm theo, làm gia tăng doanh thu cho
ngân hàng từ các dịch vụ kèm theo này.
- Tạo khả năng cung cấp dịch vụ toàn cầu: là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế, các
ngân hàng cũng có thể cung cấp cho khách hàng 1 phương tiện thanh toán quốc tế có
chất lượng, giúp ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán toàn cầu hoá, hội nhập với
cộng đồng quốc tế.
- Tạo nguồn vốn với chi phí rẻ cho ngân hàng: Khi sử dụng thẻ, các khách hàng phải mở

Ba là, nâng cao khả năng cạnh tranh: chấp nhận thanh toán thẻ là cung cấp cho khách
hàng 1 phương tiện thanh toán nhanh chóng tiện lợi, do vậy khả năng thu hút khách
hàng sẽ tăng lên, doanh số cung ứng hàng hoá dịch vụ của đơn vị chấp nhận thẻ cũng
tăng lên. Do đó, thẻ thanh toán tạo cho đơn vị chấp nhận thẻ 1 khả năng cạnh tranh lớn
hơn so với các đối thủ khác. Chương 2: THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN Ở VIỆT NAM
1. Tính tất yếu của việc liên kết thẻ thanh toán ở Việt Nam
* Mục tiêu tổng thể
Đề án thanh toán không sử dụng tiền mặt, được đặt trong mối quan hệ với kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội theo kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 của Chính phủ và phù hợp với Đề
án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ở Việt Nam,
nhằm tạo sự chuyển biến mạnh về chất và lượng trong thanh toán không dùng tiền mặt
với các mục tiêu: đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế với các phương tiện thanh
toán không dùng tiền mặt an toàn, hiệu quả, sử dụng thuận tiện, có khả năng từng bước
thay thế tiền mặt trong lưu thông; tăng cường năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán trên thị trường; góp phần thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ
quốc gia; nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, minh bạch hóa
nền kinh tế, góp phần tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thúc đẩy
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Phấn đấu đạt được môi trường thanh toán hiện đại, an toàn, hiệu quả và vững chắc về cơ
sở pháp lý ở Việt Nam vào năm 2020.
- Một số chỉ tiêu về hoạt động thanh toán đến năm 2020
- Đến cuối năm 2010 đạt mức phát hành 15 triệu thẻ, 70% các trung tâm thương mại, siêu
thị, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng tự chọn v.v... lắp đặt các thiết bị chấp nhận thanh toán

Trong giai đoạn 2001 – 2005, hoạt động thanh toán ngân hàng có sự chuyển biến
mạnh mẽ. Nhiều phương tiện thanh toán và dịch vụ thanh toán mới, hiện đại, tiện ích ra
đời, đáp ứng được nhiều loại nhu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán, với phạm vi
tiếp cận mở rộng tới các đối tượng cá nhân và dân cư. Những bước phát triển gần đây
trong lĩnh vực thanh toán ngân hàng thể hiện, như sau:
- Tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần:
Năm 1997 là 32,2%; năm 2001 là 23,7%; năm 2004 là 20,3%, năm 2005 là 19% và đến
tháng 3 năm 2006 là 18,5% ;
- Từ nền tảng thanh toán hoàn toàn thủ công (mọi giao dịch thanh toán đều dựa
trên cơ sở chứng từ giấy) chuyển dần sang phương thức xử lý bán tự động sử dụng chứng
từ điện tử, đến nay các giao dịch thanh toán được xử lý điện tử chiếm tỷ trọng khá lớn.
Thời gian xử lý hoàn tất một giao dịch được rút ngắn từ hàng tuần trước đây, nay chỉ còn
vài phút (đối với các khoản thanh toán khác hệ thống, khác địa bàn), chỉ trong vòng vài
giây hoặc tức thời (đối với các khoản thanh toán trong cùng hệ thống, hoặc cùng địa bàn);
- Dịch vụ tài khoản cá nhân của hệ thống ngân hàng thương mại phát triển khá
nhanh. Số lượng tài khoản cá nhân trong toàn hệ thống ngân hàng cuối năm 2004 tăng
gần 10 lần so với năm 2000 (từ 135 nghìn tài khoản lên tới 1 triệu 297 nghìn tài khoản).
Số lượng tài khoản cá nhân đến cuối năm 2004 là 2 triệu; năm 2005 đã tăng lên 5 triệu tài
khoản với số dư khoảng 20.000 tỷ đồng. Tốc độ tăng trung bình mỗi năm khoảng 150%
về số tài khoản và 120% về số dư. Có được kết quả như trên là do nhiều yếu tố tác động
như: môi trường pháp lý trong lĩnh vực thanh toán ngân hàng có những thay đổi theo
hướng phù hợp hơn, mạng lưới điểm giao dịch phục vụ khách hàng của các ngân hàng
được mở rộng, thanh toán điện tử liên ngân hàng được triển khai có hiệu quả,... Nhưng có
một số lý do chính trực tiếp thúc đẩy sự gia tăng tài khoản cá nhân trong thời gian qua, đó
là: các ngân hàng thương mại đã có nhiều nỗ lực trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng
kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán của khách hàng; chú trọng phát
triển đa dạng và phong phú các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, đặc biệt là các dịch
vụ ngân hàng bán lẻ với những ứng dụng công nghệ tin học tiên tiến; bắt đầu quan tâm
đến công tác tiếp thị, tuyên truyền quảng cáo, khuyến mãi cho các sản phẩm dịch vụ của
mình khi đưa ra thị trường. Một số ngân hàng còn chủ động tiếp cận với các doanh

giao dịch được thực hiện qua ngân hàng; hầu hết các doanh nghiệp cả nhà nước lẫn tư
nhân đều trả lương bằng tiền mặt. Tại các hộ kinh doanh thì 86,2% số hộ kinh doanh vẫn
chi trả hàng hoá bằng tiền mặt; 75% số hộ kinh doanh chi trả dịch vụ bằng tiền mặt; 72%
số hộ kinh doanh tư nhân nộp thuế bằng tiền mặt;
- Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, lao động ở khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Đại đa số
dân cư, công chức, viên chức thuộc khu vực chính phủ, lao động thuộc các doanh nghiệp
vừa và nhỏ chưa tiếp cận với các phương tiện và dịch vụ thanh toán;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status