Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của luật thương mại việt nam năm 2005 và các quy định của pháp luật quốc tế - Pdf 40

đại học quốc gia hà nội
khoa luật

vũ khắc th-

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
theo quy định của luật th-ơng mại việt nam
năm 2005 và các quy định của pháp luật quốc tế
Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số

: 60 38 60

luận văn thạc sĩ luật học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Bùi Xuân Nhự

Hà nội 2009

1


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề
Trong quá trình hội nhập sâu và rộng của nền kinh tế nước ta với các
nên kinh tế thế giới hiện nay, đặc biệt là sau thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Quan hệ thương mại toàn diện giữa các tổ
chức, cá nhân Việt Nam với các tổ chức, cá nhân nước ngoài ngày càng mở
rộng, nhất là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Do
đó, hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta rất đa dạng bao gồm mua bán

cho phù hợp hơn các các quy phạm pháp luật quốc tế.
Tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn sau khi Việt Nam gia nhập WTO
trước những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế đối
ngoại và những tác động và ảnh hưởng sâu sắc của nền kinh tế thế giới, pháp
luật về HĐMBHHQT của Việt Nam đã bộc lộ những hạn chế, gây khó khăn
cho các chủ thể kinh doanh khi tham gia quan hệ MBHHQT. Thêm vào đó,
hiểu biết về luật pháp nói chung, pháp luật về HĐMBHHQT nói riêng của các
chủ thể kinh doanh còn hạn chế làm giảm hiệu quả của hoạt động MBHHQT.
Luật Thương mại năm 2005 về cơ bản đã có các quy định về hoạt động
mua bán hàng hóa và HĐMBHHQT đã được sửa đổi toàn diện cho phù hợp
với thực tiễn quan hệ kinh tế đã đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi đặt ra về
mặt pháp lý. Tuy nhiên, việc triển khai thực thi, áp dụng có hiệu quả quy định
này trong hoạt động MBHHQT mới là vấn đề quan trọng giúp cho các quy
định này thực sự đi vào cuộc sống và phát huy vai trò của mình.
Đồng thời cũng cần phải tìm hiểu và nghiên cứu trong quan hệ so sánh
với các quy định của pháp luật các nước, điều ước quốc tế, tập quán

quốc tế

về HĐMBHHQT mới mang lại nhận thức toàn diện và sâu sắc về những vấn
chế độ pháp lý của quan hệ hợp đồng.
Do vậy, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ nội dung và hoàn thiện chế độ
pháp lý nâng cao khả năng nhận thức và vận dụng pháp luật Việt Nam và pháp
luật quốc tế vào các quan hệ pháp lý về HĐMBHHQT là nhiệm vụ quan trọng
và cần thiết hiện nay nhằm ổn định các quan hệ HĐMBHHQT và đảm bảo sự

3


tham gia có hiệu quả của các chủ thể kinh doanh vào quan hệ MBHHQT hạn

3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài giới hạn trong những quy định của pháp
luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia có quan hệ thương mại song phương
với Việt Nam, một số điều ước quốc tế, tập quán quốc tế vê HĐMBHHQT
được áp dụng phổ biến hiện nay trong quan hệ MBHHQT.
4. Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phép
biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành bằng các phương pháp nghiên
cứu như:
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp quy nạp.
- Phương pháp tổng hợp, phản ánh thực tiễn và rút ra kết luận.
5. Tình hình nghiên cứu, những điểm mới và ý nghĩa thực tiễn của
đề tài
Cho đến nay, vấn đề HĐMBHHQT đã có một số công trình, bài báo,
tạp chí nghiên cứu. Các công trình này đã đề cập đến khái niệm, bản chất,
những lưu ý khi ký kết và thực hiện, những hạn chế của pháp luật Việt Nam
về HĐMBHHQT... ở những mức độ khác nhau. Điều này được thể hiện trong
các công trình của một số nhà khoa học như: Giáo trình trình pháp luật trong
hoạt động kinh tế đối ngoại - Trường Đại học Ngoại thương, 1997; Giáo trình
Luật Thương mại Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; Tư pháp
quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng, của tác giả Đỗ
Văn Đại... Tuy nhiên, những công trình này nhìn chung mới chỉ tháo gỡ, giải
quyết những vấn đề mang tính lý luận, nhiều vấn đề có tính chất tổng thể liên
quan đến thực tiễn áp dụng pháp luật và thực hiện HĐMBHHQT còn chưa

5


1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 chưa định nghĩa về HĐMBHHQT,
nhưng HĐMBHHQT trước hết là hợp đồng mang đầy đủ những đặc điểm của
hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm
2005: hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa
vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.
Đồng thời, HĐMBHHQT còn mang các đặc trưng cơ bản của hợp đồng
thương mại quốc tế. Tính quốc tế của quan hệ chính là điểm khác biệt của
HĐMBHHQT với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường. Tính quốc tế có
thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia, pháp luật quốc
tế nhưng tựu chung lại đó là các yếu tố nước ngoài liên quan đến quốc tịch,
nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể, liên quan đến nơi xác lập quan hệ hợp
đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng.
HĐMBHHQT mang những đặc trưng cơ bản của hợp đồng mua bán
tài sản, tức là có sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua, nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng
song vụ, có đền bù [28, tr. 207] Về bản chất, hợp đồng mua bán tài sản là sự
thỏa thuận giữa ít nhất là hai bên. Sự thỏa thuận này có thể bằng lời nói hoặc
bằng văn bản. Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản là người bán và người
mua. Người bán và người mua có thể là thể nhân, pháp nhân hoặc cũng có thể
là Nhà nước. Nội dung của hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ của các bên xung

7


quanh việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người
mua, xung quanh việc làm thế nào để người bán lấy được tiền và người mua
nhận được hàng… Xét về tính chất pháp lý, hợp đồng mua bán tài sản là loại
hợp đồng song vụ, có bồi hoàn và là hợp đồng ước hẹn. Những đặc trưng này

Thứ hai, hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nếu đối tượng của
hợp đồng là hàng hóa phải được giao tại một nước khác với nước mà hàng
hóa đó đang được tồn trữ hoặc sản xuất ra khi hợp đồng được ký kết.
Thứ ba, được coi là HĐMBHHQT khi:
+ Có sự vận chuyển hàng hóa là đối tượng của hợp đồng từ lãnh thổ
của quốc gia này sang lãnh thổ của quốc gia khác.
+ Tất cả các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận không
được thực hiện trên lãnh thổ của cùng một quốc gia.
+ Sự giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với
quốc gia mà ở đó các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận đã được
hoàn thành. Quan điểm trên đã được đề nghị trong dự thảo luật Roma 1956.
Công ước Viên ngày 11/04/1980 đã không chấp nhận quan điểm trong
dự thảo luật Roma và chấp thuận tiêu chuẩn thứ nhất: Hợp đồng mua bán có
tính chất quốc tế khi hai bên có trụ sở tại hai quốc gia khác nhau. Dấu hiệu
quốc tịch của các bên không phải là yếu tố để phân biệt.
+ Theo Công ước Lahay năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản
hữu hình, HĐMBHHQT là tất cả các hợp đồng mua bán trong đó các bên ký
kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển từ
nước này sang nước khác, hoặc là việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các
bên ký kết được lập ở những nước khác nhau (Điều 1 Công ước) [27, tr. 144].
Như vậy, tính chất quốc tế, theo Công ước này gồm có:
- Chủ thể ký kết là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau.
- Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng được chuyển hoặc sẽ được chuyển
từ nước này sang nước khác.
- Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được lập ở những nước
khác nhau.

9





bằng nhiều cách. Nếu như pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đưa ra
nhiều phải pháp, từ việc căn cứ vào trụ sở hay nơi cư trú thường xuyên của
các bên tại các quốc gia khác nhau đến việc áp dụng những tiêu chí tổng quát
hơn như việc hợp đồng có các mối liên hệ mật thiết với hơn một quốc gia, hay
hợp đồng đòi hỏi sự lựa chọn giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau, hay
hợp đồng có ảnh hưởng đến các lợi ích trong thương mại quốc tế. Trong quy
định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT không nhấn mạnh bất cứ tiêu chí nào trong
các tiêu chí trên, theo Bộ nguyên tắc UNIDROIT thì quan niệm về các hợp
đồng thương mại quốc tế cần được giải thích theo nghĩa rộng nhất có thể, chỉ
loại trừ những trường hợp tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan
đến một quốc gia, tức là không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào [17, tr. 32].
Đối với Việt Nam, khái niệm về HĐMBHHQT chưa được quy định
chính thức trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào. Tuy nhiên, trong Quy chế
tạm thời số 4794 TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ
Công thương) hướng dẫn việc ký kết HĐMBHHQT hay còn gọi là HĐXNK,
trong đó đưa ra ba tiêu chuẩn để hợp đồng mua bán được thừa nhận là
HĐMBHHQT, đó là:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác nhau.
Thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thông thường được di
chuyển từ nước này qua nước khác.
Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một
hoặc hai bên ký hợp đồng.
Khái niệm và cách hiểu này đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt
động MBHHQT của Việt Nam trong nhiều năm. Tuy nhiên, quy định trên khi
áp dụng vào thực tiễn hoạt động MBHHQT bộc lộ nhiều hạn chế và không
phù hợp.
Ví dụ 01: Một công ty ở Việt Nam ký hợp đồng bán hàng hóa cho một
thương nhân ở Nhật. Thương nhân này có trụ sở đặt ở Nhật nhưng vẫn mang

10. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
11. Quốc hội (2005), Luật Thương mại, Hà Nội.

12


12. Tổng cục Hải quan (1998), Thông tư 04-1998/TT-TCHQ ngày 29/8 hướng
dẫn thi hành Chương II, chương IV của Nghị định 57/1998/NĐ-CP
ngày 31/7/1998 của Chính phủ, Hà Nội.
13. Tổng cục Hải quan (1998), Thông tư 06-1998/TT-TCHQ ngày 03/9 hướng
dẫn thi hành đăng ký, quản lý sử dụng mã số doanh nghiệp tiến hành
hoạt động xuất, nhập khẩu, Hà Nội.
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC

14. Bộ luật Dân sự Pháp (2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
15. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (quyển I - VI) (1995), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
16. Bộ luật thương mại và những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản
(The commercial code anh the audit special exceptions law of Japan)
(1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004
(2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
18. Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của ICC - ICC
uniform customs and practice for documentary creadits. Revision
1993 no 500 (viết tắt là UCP 500) (2006), Bản tiếng Việt kèm theo
phụ lục Giáo trình Thanh toán quốc tế - Trường Đại học Ngoại
thương, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội.
19. Kinh nghiệm thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại, hàng hải
(2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng ngoại thương (1994), Nxb Thống kê, Hà Nội.

34. Tuyển tập các văn bản pháp luật cơ bản về thương mại của Cộng hòa Pháp
(2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. UCP 600 ICC’s New Rules on Documentary Credits, Quy tắc thực hành
thống nhất về tín dụng chứng từ (có hiệu lực từ 1/7/2007), (Song ngữ
Anh - Việt), Nxb Thống kê, Hà Nội.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status