VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGỌC LÂN
NGƢỜI CAO TUỔI
TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH GIÀ HÓA DÂN SỐ
VÀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI
Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 62 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Có được thành quả nghiên cứu này, tác giả Xin chân thành cảm ơn:
GS. TS Nguyễn Hữu Minh, người hướng dẫn khoa học đã có những gợi
ý, nhận xét góp ý cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu!
Chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Học
viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện để tôi được tham gia khóa
đào tạo NCS!
Chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ
nghiên cứu thực tế, thông tin và kỹ thuật trong quá trình thực hiện
CHƢƠNG 2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
32
2.1 Các khái niệm cơ bản
32
2.2 Cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận nghiên cứu
41
2.2.1 Tiếp cận từ góc độ Lý thuyết vị thế vai trò
42
2.2.2 Từ góc độ Lý thuyết hiện đại hóa
45
CHƢƠNG 3. MỐI QUAN HỆ VỀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT GIỮA NGƢỜI
CAO TUỔI VÀ CON CHÁU TRONG GIA ĐÌNH
52
3.1 Một số nét cơ bản về đời sống vật chất của người cao tuổi hiện nay
52
71
3.3.2 Mức độ chu cấp, hỗ trợ cho cha mẹ
79
CHƢƠNG 4. MỐI QUAN HỆ VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN TÌNH CẢM
GIỮA NGƢỜI CAO TUỔI VÀ CON CHÁU TRONG GIA ĐÌNH
84
4.1 Một số hoạt động và hưởng thụ văn hóa tinh thần của người cao tuổi
84
4.2 Mức độ trò chuyện, lắng nghe tâm sự giữa NCT và con cháu
87
4.3 Con cái lắng nghe, tâm sự với cha mẹ cao tuổi
93
4.4 Người cao tuổi trong mối quan hệ với các cháu trong gia đình
102
CHƢƠNG 5. CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI TRONG GIA ĐÌNH
127
5.3.1 Những khó khăn của gia đình hiện nay
127
5.3.2 Biến đổi xã hội và việc chăm sóc người cao tuổi hiện nay
132
KẾT LUẬN
140
TÀI LIỆU THAM KHẢO
149
Phụ lục 1. Một số bảng biểu số liệu được sử dụng trong phân tích
156
Phụ lục 2. Một số sản phẩm liên quan đến nội dung luận án đã công bố
171
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HNCT
NCT
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng
Tên bảng
Bảng 1.1
Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi, 15-64 tuổi, 60 tuổi trở lên, 65 tuổi
trở lên và chỉ số già hóa, 1989 - 2014
Dự báo xu hướng biến đổi dân số cao tuổi (% tổng dân số)
10
Tỷ lệ người cao tuổi có các nguồn thu nhập chia theo giới tính
Tỷ lệ người cao tuổi có góp phần tạo thu nhập cho gia đình
phân theo các nhóm của người cao tuổi
Mô hình hồi quy về tác động của các yếu tố đến việc trợ giúp
con cái của NCT
Mô hình hồi quy về tác động của các yếu tố đến việc trợ giúp
con cái của NCT bằng phổ biến kinh nghiệm
Cha mẹ đẻ hỗ trợ con cái về vốn, kinh nghiệm sản xuất kinh
doanh
Tỷ lệ hỗ trợ tiền bạc cho cha mẹ đẻ phân theo đặc trưng của
con cái
Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến việc hỗ trợ tiền/hiện
vật cho cha mẹ
57
63
130
Bảng 1.2
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.6
Bảng 4.7
Bảng 4.8
Trang
11
64
68
69
72
74
Biểu 5.1
Những người hiện đang chăm sóc cha mẹ cao tuổi
119
Biểu 5.2
Mô hình kim cương các chủ thể chăm sóc người cao tuổi
138
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Luật người cao tuổi Việt Nam, những người từ 60 tuổi trở lên là người
cao tuổi. Hiện nay, số người cao tuổi (NCT) đã chiếm 10,2% dân số. Kết quả phân
tích các cuộc điều tra dân số và nhà ở qua các năm cũng cho thấy, chỉ số già hóa 1 có
xu hướng ngày càng gia tăng. Năm 1989, chỉ số này là 18,2%, năm 1999 là 24,3%,
năm 2009 là 35,5% đến năm 2014, tỷ số này đã là 43,3% [43, tr.35]. Việt Nam hiện
nay đang trong xu thế “dịch chuyển mạnh mẽ về cơ cấu dân số theo độ tuổi. Số
người cao tuổi sẽ tăng nhanh khiến Việt Nam trở thành một trong những nước có
dân số già hóa nhanh nhất thế giới và làm cho tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động
giảm xuống. Đến năm 2035, tỷ số người cao tuổi phụ thuộc (tỷ số giữa số người từ
65 tuổi trở lên so với số người trong độ tuổi từ 15 - 64) sẽ tăng từ gần 10/100 hiện
nay lên gần 22/100, trong khi số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm” [39, tr.
XXX].
Hiện nay, đa số người cao tuổi đang sống ở nông thôn cùng con cháu trong các
gia đình và phụ thuộc vào con cái trưởng thành cũng như các thành viên khác về
chăm sóc và các nhu cầu vật chất. Tuy vậy, tỷ lệ người cao tuổi sống cùng con cháu
đánh giá thực trạng đời sống, những mối quan hệ của người cao tuổi với các thế hệ
trong gia đình, về đời sống vật chất, tinh thần và sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau và
những vấn đề đang đặt ra hiện nay.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Luận án được thực hiện nhằm mục đích đánh giá các mối quan hệ tương hỗ
trong đời sống vật chất, tình cảm cũng như mối quan hệ chăm sóc giữa người cao
tuổi và con cháu trong gia đình hiện nay; tìm hiểu những khó khăn mà các gia đình
đang gặp phải cũng như các yếu tố biến đổi xã hội tác động thế nào đến mối quan
hệ của người cao tuổi với các thế hệ con cháu trong gia đình.
Trên cơ sở số liệu và các thông tin thu thập được từ các cuộc điều tra khảo
sát, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là: Vận dụng các lý thuyết được áp dụng
trong nghiên cứu, trên cơ sở các số liệu, dữ kiện thu thập được để phân tích,
đánh giá một số vấn đề cơ bản liên quan đến người cao tuổi Việt Nam trong gia
đình hiện nay như: đời sống của người cao tuổi và sự chăm sóc lẫn nhau giữa
con cháu với người cao tuổi (về vật chất và tinh thần tình cảm, sức khỏe); những
vấn đề đang đặt ra trong mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia
đình Việt Nam hiện nay.
2
3. Đối tƣợng, phạm vi, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là các mối
quan hệ tương hỗ về đời sống vật chất và tinh thần giữa người cao tuổi và con cháu
trong gia đình; gia đình với việc chăm sóc người cao tuổi.
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng kết quả, các bộ số liệu điều tra,
khảo sát về gia đình có liên quan ở cấp quốc gia, các khu vực trong những năm gần
đây và phân tích kết quả từ một nghiên cứu bổ sung trong quá trình làm luận án.
Các số liệu được thu thập, phân tích so sánh từ các nghiên cứu - trừ bộ số liệu quốc
gia làm cơ sở (Điều tra gia đình Việt nam, 2006), các cuộc nghiên cứu khác hầu hết
phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học xã hội học trong phân tích các tình
huống, các hiện tượng xã hội và các dữ liệu thu thập được từ thực tiễn (các chỉ số,
chỉ báo, dữ liệu...). Hệ thống lý thuyết được lựa chọn và vận dụng trong nghiên cứu
này là lý thuyết về vị thế vai trò (để nhìn nhận đánh giá được vai trò của các thế hệ
trong mối quan hệ tương hỗ trong gia đình); lý thuyết hiện đại hóa (để phân tích
những yếu tố mới của xã hội trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa có ảnh
hưởng, tác động như thế nào đến các mối quan hệ gia đình). Ngoài ra. tiếp cận vấn
đề từ góc độ văn hóa, xã hội học gia đình sẽ giúp nhìn thấy những thay đổi về cấu
trúc, chức năng từ truyền thống sang hiện đại và các xu thế mới của sự quan tâm
chăm sóc lẫn nhau giữa các thế hệ trong gia đình.
Các biến số phụ thuộc (nhận diện các quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu
trong gia đình hiện nay về đời sống vật chất, tinh thần tình cảm, sự quan tâm chăm
sóc lẫn nhau) là kết quả của sự vận dụng hệ lý thuyết và các phương pháp nghiên
cứu trong phân tích các cứ liệu, thông tin thu thập được.
4.2 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu và những vấn đề đặt ra, một số phương pháp
được sử dụng trong nghiên cứu này gồm:
4.2.1 Tổng quan phân tích một số tài liệu, kết quả nghiên cứu sẵn có về người
cao tuổi và mối quan hệ với con cháu trong gia đình: các số liệu thống kê, các kết
quả nghiên cứu liên quan đến người cao tuổi trong nước và ở nước ngoài những
năm gần đây. Phân tích tài liệu sẵn có sẽ cho phép nhìn nhận, đánh giá vấn đề thực
tế hơn. Kết quả của giai đoạn này sẽ cho phép xác định những vấn đề cần đi sâu,
làm rõ để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra.
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng sẽ giúp lượng
4
hoá, đánh giá các chỉ báo cụ thể liên quan đến vai trò, những đóng góp của người
cao tuổi; đời sống của họ và thực tế việc quan tâm chăm sóc người cao tuổi của các
thế hệ hiện nay trong gia đình. Nghiên cứu định lượng trước hết được sử dụng trong
trong quá trình làm luận án, với mẫu được chọn là 300 đại diện hộ gia đình còn cha/
mẹ cao tuổi (cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ/chồng sống chung hoặc sống riêng) nhằm tìm
hiểu một số vấn đề trong quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình. Địa bàn nghiên cứu
là Phường Kinh Bắc và xã Kim Chân thuộc thành phố Bắc Ninh.
Một số kết quả phân tích số liệu khác cũng được tham khảo, so sánh trong quá
trình thực hiện đề tài luận án, như số liệu điều tra Một số vấn đề cơ bản trong chính
sách xã hội đối với người cao tuổi vùng đồng bằng sông Hồng năm 2008; Số liệu
Điều tra về phúc lợi và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Khánh Mậu, Ninh
Bình (2010); Số liệu Điều tra quốc gia về người cao tuổi (2011); Số liệu khảo sát
đánh giá 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi (2015).
4.2.3. Nghiên cứu định tính. Trong nghiên cứu người cao tuổi, sử dụng phương
pháp nghiên cứu định tính là một lợi thế. Phỏng vấn sâu người cao tuổi sẽ giúp hồi
cố những kinh nghiệm, suy nghĩ của họ về từng thời kỳ, từng giai đoạn sống mà họ
đã trải qua trong gia đình cũng như xã hội. Các công cụ khác như thảo luận nhóm
tập trung, phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ chốt, đại diện các thế hệ
con, cháu được sử dụng để thu thập thông tin... Luận án sử dụng các kết quả nghiên
cứu định tính của các cuộc điều tra khảo sát đã nêu. Tại Bắc Ninh (2013), nghiên
cứu định tính được thực hiện với 30 phỏng vấn sâu (đại diện hộ gia đình, trẻ vị
thành niên, người cao tuổi và đại diện quản lý cộng đồng); 60 lượt người tham gia
các thảo luận nhóm (2 cuộc thảo luận nhóm vị thành niên; 2 Thảo luận nhóm đại
diện hộ gia đình; 2 thảo luận nhóm người cao tuổi và 2 thảo luận nhóm cán bộ cấp
xã /phường).
Một số phương pháp khác như phân tích tổng hợp, quy nạp, phân tích hồi quy
đa biến... cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện luận án.
4.3 Khung phân tích của Luận án.
Khung phân tích lấy bối cảnh chung là sự biến đổi của yếu tố kinh tế -xã hội,
già hóa dân số tác động đến gia đình. Vì quá trình phân tích dựa trên một số bộ số
liệu có sẵn và mẫu khảo sát mới, nên một số biến độc lập được lấy theo hai tuyến:
những đặc trưng nhân khẩu xã hội của người trả lời (người cao tuổi hoặc đại diện
hộ) và những đặc trưng nhóm xã hội của gia đình. Các biến trung gian bao gồm vai
Thực
hiện
các
vai trò
Các đặc
trưng nhân
khẩu xã hội
của NTL:
Tuổi
Học vấn
Nghề nghiệp
Giới tính
Khu vực
sống
Mối
quan hệ
về đời
sống vật
chất
Mối quan
hệ về
đời sống
tinh thần
trong
gia
đình
không chỉ những người cao tuổi sống chung trong gia đình mà cả những người cao
tuổi không sống chung (cả bố mẹ đẻ và bố mẹ vợ/chồng) của các khách thể nghiên
cứu, mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu được đặt trong một tổng thể rộng
hơn các quan hệ gia đình. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung
hiểu biết về những yếu tố ảnh hưởng tới các mối quan hệ giữa người cao tuổi và con
cháu trong gia đình trong bối cảnh già hoá dân số đang gia tăng.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi về vai trò và đặc
điểm của các mối quan hệ tương hỗ trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần của
người cao tuổi với các thế hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh
biến đổi về cơ cấu và quy mô gia đình, di cư lao động cũng như những khác biệt thế
hệ trong quan niệm về giá trị, kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng chuyển từ
chăm sóc truyền thống trực tiếp sang gián tiếp, “tiền tệ hóa” sự chăm sóc ở một bộ
phận các gia đình; một bộ phận người cao tuổi có khuynh hướng chuyển từ sự “hy
sinh” sang “hưởng thụ”; có sự thay đổi trong quan niệm và hành vi về mối quan hệ
hỗ trợ của các thế hệ và về các mô hình chăm sóc người cao tuổi. Những phát hiện
này góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách xã hội đáp
ứng các yêu cầu xã hội của thời kỳ dân số già. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra một
số khuyến nghị về việc làm thế nào để các gia đình có điều kiện chăm sóc tốt hơn
đối với thế hệ người cao tuổi hiện nay, cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo về
Quan hệ vợ chồng người cao tuổi; về Người cao tuổi và vai trò trong gia đình con
cái đi làm ăn xa.
8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận. Vận dụng các lý thuyết vị thế vai trò, lý thuyết hiện đại hóa, xã
hội học gia đình một cách thiết thực trong phân tích các mối quan hệ thế hệ trong
gia đình; nhận diện những yếu tố ảnh hưởng đến các mối quan hệ thế hệ, đến việc
chăm sóc người cao tuổi trong gia đình trong bối cảnh biến đổi xã hội và già hóa
dân số. Nghiên cứu cũng góp phần hệ thống lại những vấn đề lý luận và phương
Ở các nước phát triển, những người từ 65 tuổi trở lên được gọi là người cao
tuổi. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho tất cả các quốc gia, nhưng Liên
Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân
ra làm 3 nhóm là sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (trên 80 tuổi).
Già hóa dân số đang trở thành vấn đề lớn của các nước đang phát triển, nơi dân số
bị già đi nhanh chóng trong nửa đầu thế kỷ 21.
Trong những thập kỷ qua, cơ cấu tuổi dân số Việt Nam biến động mạnh theo
hướng: tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động
(15-59) tăng lên; và tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh. Nếu lấy
năm 1979 làm cơ sở thì trong giai đoạn 1979-2009, tổng dân số tăng 1,6 lần; dân số
trẻ em giảm gần một nửa; dân số trong độ tuổi lao động tăng 2,08 lần, còn dân số
cao tuổi tăng 2,12 lần. Như vậy, dân số cao tuổi tăng nhanh nhất so với tất cả các
nhóm dân số khác trong giai đoạn này. Đây chính là đặc điểm đầu tiên, nổi bật nhất
của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam [47, tr.16].
Dự báo của Tổng cục Thống kê (2010) cho giai đoạn 2009-2049 cho thấy, hệ
quả của xu hướng biến đổi cơ cấu tuổi dân số là chỉ số già hóa sẽ tăng lên nhanh
chóng; chỉ số già hóa sẽ vượt ngưỡng 100 vào khoảng năm 2032. Đây là thời điểm
Việt Nam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân số trẻ em.
Bảng 1.1 Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi, 15-64 tuổi, 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên
và chỉ số già hóa, 1989 - 2014
Các nhóm dân số
Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi
Tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi
Tỷ trọng dân số từ 60+
Tỷ trọng dân số từ 65+
Chỉ số già hóa
1989
39,2
10
trong khi tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh, nên “chỉ số già hoá” của dân số Việt
Nam ngày càng tăng (sau 10 năm từ 24,3% năm 1999 lên 35,5%) và năm 2014 đã là
43,3% [43, tr.35] (bảng 1.1).
Đặc điểm thứ hai của “quá trình già hóa dân số ở Việt Nam là sẽ “già ở nhóm
già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độ tuổi cao nhất (từ 80
tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn (Bảng 1.2). Số liệu từ bốn cuộc Tổng Điều tra Dân số
và Nhà ở giai đoạn 1979-2009 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm tuổi thấp nhất
(từ 60 đến 69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm cao tuổi trung bình
(70-79) và già nhất (80+) có xu hướng tăng nhanh hơn” [47, tr.18]. Sự thay đổi cơ
cấu dân số theo hướng "già hóa" tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân,
cộng đồng và xã hội. Dân số già hóa nhanh cũng sẽ gây những ảnh hưởng tương tự
như gia tăng dân số nhanh, tạo áp lực cho hệ thống hạ tầng, dịch vụ xã hội và gia
đình... trong chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi.
Bảng 1.2. Dự báo xu hướng biến đổi dân số cao tuổi (% tổng dân số)
Nhóm tuổi
1979 1989 1999 2009
60-64
65-69
70-74
75-79
80+
Tổng
2,28
2039
5,28
4,56
3,36
1,91
1,55
16,66
5,80
5,21
4,30
3,28
2,78
21,37
2049
7,04
6,14
4,89
3,87
4,16
26,10
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009
và Dự báo Dân số của GSO (2010)- Dẫn theo UNFPA, 2011
Hiện nay, đa số người cao tuổi đang sống cùng con cháu trong các gia đình và
phụ thuộc vào con cái trưởng thành cũng như các thành viên khác trong gia đình về
đang là nguyên nhân của những khó khăn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội, lương
hưu và đang thách thức các mô hình hỗ trợ xã hội hiện nay. Cùng với những biến
đổi trong cấu trúc gia đình, tuổi thọ con người đang tăng lên trong khi các cặp vợ
chồng có ít con hơn khiến cho người cao tuổi gặp nhiều khó khăn trong việc tìm
kiếm sự giúp đỡ và chăm sóc trong gia đình. Một số nhóm vấn đề đã được các tác
giả nước ngoài phân tích liên quan đến lĩnh vực này là:
Sự hỗ trợ giữa các thế hệ trong gia đình hiện nay là vấn đề đang thu hút
nhiều nhà nghiên cứu về già hóa dân số và tuổi già. Ở cả các nước phát triển và
đang phát triển, các nghiên cứu về chủ đề này không chỉ dừng ở mô tả sự hỗ trợ,
12
tương tác qua lại giữa các thế hệ mà còn tìm hiểu về các mạng lưới hỗ trợ, quá trình
tương tác qua lại giữa các thế hệ, tác động của di cư đối với các mạng lưới hỗ trợ
tuổi già, hướng di chuyển của các dòng tài sản và sự biến đổi trong bối cảnh chuyển
đổi kinh tế và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa già hóa, sự tương tác giữa các thế
hệ và những yếu tố kinh tế vĩ mô [63].
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thế hệ trong gia đình bắt đầu vào những
năm 1960 với sự xuất hiện của nhiều chương trình phát triển nhằm đưa thế hệ con
cháu gần gũi hơn với người cao tuổi. Sự quan tâm đến các hoạt động nhằm tăng
cường mối liên hệ giữa các thế hệ đã càng gia tăng khi quy mô của các gia đình thay
đổi. Ban đầu, các nghiên cứu về mối quan hệ gia đình chủ yếu là trong gia đình hạt
nhân. Đến những năm 1980, nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thế hệ tập trung
vào mối quan hệ giữa người cao tuổi và các thành viên trong gia đình. Sussman
(1991) cho rằng hiện đại hoá là nhân tố chính ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa các
thế hệ trong gia đình. Nghiên cứu về tác động của hiện đại hóa giúp đánh giá khả
năng của các gia đình hiện nay trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi
trong gia đình khi có mối quan ngại rằng xã hội sẽ khó khăn khi giải quyết các nhu
cầu về chăm sóc và hỗ trợ người cao tuổi do sự biến đổi chức năng gia đình, đặc
hưởng của các yếu tố như tầng lớp xã hội, giới, và loại hình gia đình. Theo đó, cha
mẹ thuộc tầng lớp lao động nhận sự giúp đỡ của con cái nhiều hơn so với cha mẹ
thuộc tầng lớp trung lưu. Con cái các gia đình trung lưu có xu hướng hỗ trợ bằng
tiền mặt hoặc quà cáp. Người cao tuổi nữ thuộc tầng lớp lao động có xu hướng sống
với con cái nhiều hơn để đổi lấy sự hỗ trợ của con cái. Sự giúp đỡ qua lại nhằm đổi
lấy sự chăm sóc của người cao tuổi thường gặp ở tầng lớp lao động hơn [78].
So với các nước phương Tây phát triển, ở các nước đang phát triển, cha mẹ
nhận sự hỗ trợ về tài chính và vật chất từ con cái nhiều hơn và ít hỗ trợ được cho
con cái hơn. Nhưng họ lại giúp đỡ con cái nhiều ngoài tiền bạc, ví dụ như trông coi
nhà cửa, chăm sóc và dạy dỗ các cháu. Sự giúp đỡ này giúp ích rất nhiều để người
phụ nữ trong gia đình có thể tham gia vào sản xuất nông nghiệp hoặc việc làm nơi
công sở. Vai trò của ông bà trong việc chăm sóc và dạy dỗ các cháu là không thể
phủ nhận. Một nghiên cứu cho kết quả rằng 38% người cao tuổi ở Philippines và
23% ở Đài Loan chăm sóc cháu trong số những người cao tuổi sống cùng con cháu;
32% ở Thái Lan và 70% ở Singapore. Số liệu ở các nước Bắc Âu cho thấy người bà
14
thường chăm sóc các cháu để giúp đỡ con cái họ thực hiện các nghĩa vụ gia đình và
công việc [63]. Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, người chăm sóc thường gặp
phải vấn đề khó xử vì một mặt họ muốn được giải thoát khỏi gánh nặng chăm sóc
mặt khác họ cảm thấy phải có nghĩa vụ buộc phải chăm sóc [58].
Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, hiện đang diễn ra theo một số xu hướng.
Chẳng hạn, vai trò của phụ nữ được nhấn mạnh trong chăm sóc người cao tuổi.
Không chỉ bởi họ là người tham gia vào việc chăm sóc cha mẹ cao tuổi nhiều hơn
so với nam giới mà con gái cũng giúp đỡ cha mẹ những lúc họ cần sự giúp đỡ nhiều
hơn so với con trai. Con trai chỉ chiếm 29% trong số những người giúp đỡ cha mẹ
so với 64% ở con gái. Nam giới chủ yếu chỉ đóng góp những hỗ trợ tài chính, kinh
tế và vật chất còn trách nhiệm của phụ nữ là giải quyết những nhu cầu cụ thể của
người cao tuổi [78].
xuyên hai bên qua lại hoặc liên lạc với nhau và mối quan hệ tình cảm của cha mẹ
dành cho họ. Những quan hệ tình cảm cha mẹ dành cho con cái thời kỳ trước khi
trưởng thành cũng có những tác động, ảnh hưởng đến mối quan hệ của họ ở tuổi
già. Những người hoạt động thực tiễn về gia đình biết rằng các thành viên gia đình
luôn có những hình thức giao tiếp riêng và quan niệm về quan hệ gia đình theo cách
của mình. Nghiên cứu của Whitbeck và các đồng nghiệp (2001) cho biết, các hình
thức giao tiếp này được phát triển theo thời gian và ảnh hưởng tới khả năng gia đình
trong việc đáp ứng nhu cầu của cha mẹ khi về già theo ít nhất là 2 cách: thứ nhất,
mối quan hệ và cách thức giao tiếp của cha mẹ và con cái trong quá khứ có thể ảnh
hưởng đến xu hướng con cái trưởng thành hỗ trợ, giúp đỡ cha mẹ; thứ hai, ngay cả
khi con cái sẵn sàng hỗ trợ thì nếu con cái và cha mẹ ít có liên lạc, giao tiếp với
nhau thì cũng rất khó có thể thương lượng các điều khoản hỗ trợ [83].
Mối quan hệ giữa các thế hệ chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, trong đó
quan trọng nhất là sự giao tiếp. Sebatian và Sekher chỉ ra, con gái thường dành
nhiều thời gian trò chuyện với cha mẹ già hơn so với con trai. Hơn một nửa số
người cao tuổi tham gia cung cấp thông tin cho nghiên cứu cho biết thế hệ các cháu
của họ phải đảm đương quá nhiều trách nhiệm vì vậy chúng không có đủ thời gian
để dành cho người cao tuổi [68].
Người cao tuổi có nhiều kinh nghiệm sống, họ giúp đỡ con cái công việc gia
đình và nhiều người vẫn đóng góp vào thu nhập của gia đình. Trong các nghiên cứu
về mối quan hệ giữa ông bà (thế hệ thứ nhất) và cháu (thế hệ thứ 3) của Chin-Chun
16
Yi và Ju-Ping Lin (2009), cho thấy ông bà là những người có ảnh hưởng nhất định
đối với sự phát triển của các cháu. Đặc biệt, mối quan hệ giữa các thế hệ ở thành thị
và nông thôn có những điểm khác biệt. Các cháu ở tuổi vị thành niên ở nông thôn
thường xuyên gặp gỡ với ông bà và được ông bà nội giúp đỡ rất nhiều. Mặc dù
nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa ông bà và cháu nhưng mối quan hệ
giữa bố mẹ già và con cái chính là cầu nối liên kết giữa các thế hệ. Mối quan hệ