TỔNG HỢP ĐỀ THI HỌC KÌ 1
MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
NĂM 2015-2016
1. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
THỐNG NHẤT A
2. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
ĐA PHÚC
3. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
HÙNG VƯƠNG
4. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
LÊ HỒNG PHONG
5. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
NGUYỄN HỮU THỌ
6. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
ĐÔNG DU
7. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
ĐỊNH THÀNH
8. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – TRƯỜNG THPT
TÂN HƯNG
9. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – SỞ GD&ĐT BẮC
NINH
10.ĐỀ THI HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2015-2016 – SỞ GD&ĐT BÀ
RỊA – VŨNG TÀU
ĐỀ THI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2015 – 2016
THPT THỐNG NHẤT A
MÔN: NGỮ VĂN 11
(Thời gian làm bài: 90 phút)
-
phải được thống nhất trong tổ chấm thi, nhưng không thay đổi tổng điểm của mỗi ý.
Khi chấm câu Làm văn: Dự tính cho điểm mỗi ý, rồi cân nhắc, đánh giá tổng quát toàn
-
bài (cả kiến thức và kĩ năng) xem học sinh đáng ở mức điểm nào (giỏi, khá, trung bình,
yếu, kém), không được đếm ý cho điểm.
-
Đọc kĩ phần Lưu ý để tính điểm trừ và điểm khống chế.
-
Khuyến khích những bài viết sáng tạo, có cảm xúc.
2.
Tính điểm toàn bài kiểm tra:
-
Chấm riêng từng câu và ghi điểm vào lề trái, trang đầu trong tờ bài làm của thí sinh.
-
Chấm riêng từng câu, tổng điểm toàn bài thi làm tròn đến 0,5 điểm. Ví dụ: 4,25 = 4,5;
4,75 = 5,0.
Cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” là một cảnh tượng xưa nay chưa
từng có là vì:
– Không gian và thời gian rất đặc biệt (nơi ngục tù bẩn thỉu, tường đầy
mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián; cảnh diễn ra vào lúc đêm 0,5 điểm
khuya trong nhà ngục tối tăm).
– Vị thế các nhân vật bị đảo ngược:
+ Người cho chữ: trong cảnh “cổ đeo gông, chân vướng xiềng…”; ngày mai
lại phải vào kinh chịu án tử hình nhưng tư thế vẫn ung dung, đường hoàng,
đĩnh đạc…
1,0 điểm
+ Người nhận chữ: Ngục quan thì tỏ vẻ khúm núm…
Tử tù thành thần tượng, ân nhân của ngục quan >< ngục quan thành người
II.
ngưỡng mộ, chịu ơn tử tù).
Làm Văn:
6,0 điểm
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, đặc điểm truyện ngắn của nhà văn Thạch Lam: sáng tạo 0,5 điểm
ra lối truyện không có cốt truyện hoặc cốt truyện đơn giản - truyện tâm
tình.
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên và ý
- Khi tàu đến:
0,5 điểm
+ Phấn chấn, tâm hồn như bị cuốn hút ngay vào đoàn tàu. Biểu hiện:
* Tiếng gọi em vội vàng, giục giã
* Hành động dắt tay em đứng dậy, nghển cổ nhìn vào trong các toa tàu.
* Quan sát kĩ lưỡng, tỉ mỉ mọi chi tiết của đoàn tàu từ dấu hiệu đầu tiên đến
dấu hiệu cuối cùng.
- Khi tàu đi qua:
+ Luyến tiếc (Liên nhìn theo mãi, lắng nghe mãi, lặng theo mơ tưởng).
+ Vừa vui vừa buồn (Vui vì như được sống trong một thế giới khác đầy ắp
ánh sáng và náo nhiệt trong giây lát, vì sống lại kí ức tuôi thơ tươi đẹp.
0,5 điểm
Buồn vì càng nhận thức rõ hơn cuộc sống tăm tối, nghèo khó của phố
huyện và sự sống mờ nhạt, vô nghĩa của chính mình "như chiếc đèn con của
chị Tích chiếu sáng một vùng đất cát".
Trạng thái tâm lí phức tạp này đã thể hiện được sự thức tỉnh của ý thức
cá nhân.
c. Ý nghĩa của chuyến tàu đêm:
- Là biểu tượng của một thế giới khác đẹp đẽ hơn, đáng sống với sự giàu 1,0 điểm
sang và rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối
tăm và quẩn quanh, bế tắc… của người dân phố huyện.
- Khát vọng, ước mơ đổi đời, thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ, tối tăm, tù
túng...
ngày. Ông nghĩ có thể ông đã kéo được 25 người khỏi dòng nước lạnh buốt của
biển Hoàng Hải. Nhưng người đàn ông sống trên hòn đảo nhỏ xíu gần hiện trường
tai nạn này không hề thấy tự hào, mà chỉ giày vò.
“Đó là địa ngục. Thật khổ sở. Có rất nhiều người và không đủ thuyền, mọi
người dưới nước hét lên cầu cứu. Phà chìm rất nhanh”, CNN dẫn lời ông Kim
hôm qua nói. Ông nhìn thấy những người kẹt bên trong chìm xuống ngay trước
mặt. Ông nghe trên tivi mới biết có bao nhiêu người bị kẹt trong phà.
Người cha của hai đứa con đã trưởng thành cảm thấy đau xót cho hàng trăm
bậc phụ huynh mất con. Ông đã không thể cứu những người khác. Ông đang cố để
đi đánh cá lại, nhưng giờ ông là một người khác, ông Kim cho biết.
(Theo báo />Câu 1: Ngữ liệu trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?
Câu 2. Nội dung chính của văn bản trên là gì?
Câu 3. Dù đã cứu được nhiều người thoát khỏi dòng nước lạnh buốt của biển
nhưng tại sao ông Kim không những không cảm thấy tự hào, mà chỉ thấy bị dày
vò?
Câu 4. Câu chuyện trên khiến mỗi con người cần phải nhìn lại chính mình! Suy
nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên? trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng.
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu 5 đến câu 8:
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường.
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa.
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.
Em vẫy tay cười đôi mắt trong.
(Lá đỏ – Nguyễn Đình Thi, Trường Sơn, 12/1974)
đường)- quê hương) (0,25đ)
Câu 7. Không khí hành quân hào hùng thần tốc được thể hiện qua hình ảnh đoàn
quân đi vội vã; bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa (0,25đ)
Thí sinh có thể liên hệ với hình ảnh trong bài thơ khác nhau, ví dụ bài Việt Bắc
(quân đi điệp điệp trùng trùng. Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan)
Câu 8.
– Hình ảnh “em gái tiền phương”: nhỏ bé giữa rừng Trường Sơn bạt ngàn, lộng gió
nhưng lại mang đến cảm giác thân thương, gần gũi vai áo bạc, quàng súng trường
– như quê hương; với dáng đứng vững vàng bên đường khi làm nhiệm vụ (0,25đ)
– Hình ảnh ấy là một biểu tượng về cuộc chiến tranh nhân dân –“em gái tiền
phương”, nữ chiến sĩ giao liên hay cô gái thanh niên xung phong. Sự có mặt của
cô gái trên đỉnh Trường Sơn nơi tuyến đầu Tổ quốc đã nhắc với mai sau về cuộc
chiến đấu toàn dân tham gia, trong đó có sự đóng góp những người con gái trẻ
trung xinh đẹp mảnh mai nhưng vô cùng dũng cảm, gan dạ. (0,25đ)
II. Phần Làm Văn (7 điểm)
GỢI Ý
1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
– Thạch Lam là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt
Nam hiện đại. Ông là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng có một gương
mặt riêng so với các nhà văn trong nhóm. Văn của Tự lực văn đoàn thường đượm
nỗi buồn lãng mạn còn văn của Thạch Lam lại chất chứa những nỗi đau hiện thực.
Nó như một thứ “hương hoàng lan” được chưng cất từ những nỗi đời.
– Truyện ngắn Hai đứa trẻ in trong tập Nắng trong vườn (1938), rất tiêu biểu cho
phong cách nghệ thuật Thạch Lam. Đó là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn.
Nét phong cách này thể hiện sâu sắc ở khung cảnh phố huyện và tâm trạng của
nhân vật Liên trong tác phẩm.
2. Phân tích làm rõ ý kiến
a. Giải thích ý kiến: Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu truyện ngắn trữ tình
quẩn quanh. Những tâm hồn mới lớn như chị em Liên, chứng kiến những cảnh đó
không buồn sao được. Nhưng vì còn là những đứa trẻ nên nỗi buồn cũng chỉ “man
mác”, đọng trong đôi mắt Liên “bóng tối ngập đầy dần”. Và cái buồn của chiều
quê thấm vào tâm hồn ngây thơ của Liên.
– Liên càng buồn thấm thía hơn khi đêm về, phố huyện chìm trong bóng tối và
cuộc sống cứ lặp lại đơn điệu, buồn tẻ, bế tắc.
+ Về đêm phố huyện là sự tương tranh giữa bóng tối và ánh sáng. Màn đêm buông
xuống, bóng tối cứ lan dần từng con đường nhỏ, từng ngõ xóm, để rồi nhấn chìm
phố huyện trong bóng tối dày đặc. Ánh sáng phố huyện cũng nhiều: có ánh sáng
của thiên nhiên (ánh sao, ánh đom đóm), có ánh sáng của cuộc sống lao động
nhưng chỉ là những khe, chấm, hột…tất cả đều quá nhỏ nhoi, yếu ớt trước vũ trụ
thăm thẳm bao la ngập trong bóng tối. Nó không đủ thắp sáng phố huyện mà
dường như chỉ càng tôn lên màn tối dày đặc bao phủ phố huyện nghèo.
+ Khi đêm về cuộc sống phố huyện cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ, bế tắc.
Ngày hôm nay là sự lặp lại y nguyên những gì đã diễn ra hôm qua và sẽ lặp lại ở
ngày mai. Mẹ con chị Tí lại dọn hàng nước, gia đình bác xẩm lại xuất hiện với
tiếng đàn ế khách. Bác phở Siêu lại gánh phở đi bán…
Phố huyện như một sân khấu cuộc đời chỉ độc diễn một màn buồn tẻ, không có sự
thay đổi cả người lẫn cảnh. Đó là cuộc sống cứ “mốc lên, mòn đi, rỉ ra, mục ra”
không lối thoát (Sống mòn- Nam Cao). Nó gợi liên tưởng tới hình ảnh “chiếc ao
đời phẳng lặng” trong truyện ngắn Tỏa nhị kiều của Xuân Diệu.
Nhà văn không trực tiếp tả tâm trạng này của Liên. Nhưng cảnh vật và cuộc sống
phố huyện tăm tối, tẻ nhạt trong đêm lại được cảm nhận qua tâm trạng của Liên.
Sống trong hoàn cảnh như vậy, chị em Liên sao không khắc khoải chờ đợi một cái
gì đó dù mơ hồ, nỗi buồn dường như thấm thía hơn. Nhưng không hy vọng thì làm
sao sống nổi. Và chuyến tàu đêm đã thắp lên niềm hy vọng đó.
– Cảnh chuyến tàu khuya và tâm trạng buồn vui của Liên
+ Trong cả chuỗi thời gian dài buồn tẻ thì chuyến tàu đêm qua phố huyện là cả một
cảm thương những đau khổ thiệt thòi của những số phận nhỏ bé bị lãng quên khi
miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên, mà còn thấu hiểu đồng cảm với
những khát vọng chân chính của họ, dù nó mới chỉ là những khát khao rất đỗi bình
dị, mơ hồ.
_________________HẾT_________________
THƯỜNG THPT ĐA PHÚC
NĂM HỌC: 2015 - 2016
ĐỀ THI HỌC KÌ I - KHỐI 11
MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian: 90 phút
I. PHẦN ĐỌC HIỂU. (4,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Đất tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn.
Tháng 4/2009
(Trích: Tổ Quốc nhìn từ Biển - Nguyễn Việt Chiến)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ.
Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn thơ.
Câu 3: Xác định hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ? Nêu tác dụng?
Câu 4: Anh/chị hiểu như thế nào về câu thơ: "Các con nằm thao thức phía Trường Sơn”?
Câu 5: Từ nội dung của đoạn thơ, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 10 dòng trình
bày suy nghĩ về trách nhiệm của thanh niên với biển đảo quê hương.
II. PHẦN LÀM VĂN. (6,0 điểm)
HS chỉ trả lời: Sự trăn trở, lo lắng về tình hình biển đảo đang bị đe
dọa bởi các thế lực xâm lăng.
0,75đ
Câu trả lời chưa thật đầy đủ và rõ ý
0,5đ
Câu 3
1đ
- Hai biện pháp tu từ: Điệp từ, so sánh.....
0,5đ
- Tác dụng:
+ Điệp từ: sự trăn trở, lo âu về tình hình biển đảo
+ So sánh: Sự biết ơn với biển đảo
0,5đ
Câu 4
0,5đ
* HS có thể trả lời một trong những cách sau:
- Con dân Việt Nam ngàn đời ở mọi miền tổ quốc đều hướng về
(thao thức, lo lắng) biển đảo quê hương - chủ quyền dân tộc....
- Hoặc: Trường Sơn hướng về biển đảo, thao thức lo lắng về chủ
quyền dân tộc.....
0,5đ
HS biết triển khai một bài làm văn nghị luận có bố cục đủ 3 phần.
Diễn đạt rõ ràng, ít hoặc không mắc lỗi chính tả. Có kĩ năng phân
tích, cảm thụ thơ (đi từ đặc sắc nghệ thuật để khái quát nội dung
tư tưởng).
* Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
- Triển khai được vấn đề nghị luận
- Có những cảm nhận (nhận xét) xác đáng
- Có những lí giải hợp lí
0,5đ
- Thân bài được chia thành nhiều đoạn văn.
* Kết bài: Thâu tóm, đánh giá được vấn đề nghị luận.
Nội
dung
(5đ)
HS có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần đạt được
các nội dung cơ bản sau:
1. Trình bày ngắn gọn quá trình tha hóa của Chí Phèo
0,5đ
2. Quá trình hồi sinh của Chí Phèo (sau cuộc gặp gỡ thị Nở)
- Giới thiệu ngắn gọn về thị Nở.
- Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc và tinh tế.
0,5đ
Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về
vấn đề nghị luận
0,25đ
Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
0,25đ
ĐỀ THI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2015 - 2016
THPT HÙNG VƯƠNG - BÌNH THUẬN
MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 11
Thời gian: 90 phút
Câu 1: (2 điểm) Đọc ngữ liệu và thực hiện các yêu cầu dưới đây:
“... Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
Bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan
Bà đi gánh chè xanh ở Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn...”
(Trích Đò Lèn - Nguyễn Duy)
1. Xác định các phương thức biểu đạt trong đoạn thơ.
2. Nêu tác dụng của từ láy “thập thững” trong việc gọi lên hình ảnh người bà?
3. Sắc thái tình cảm của nhà thơ đối với bà trong đọa thơ này là gì?
4. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 5 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh chị về hình ảnh
người bà trong đoạn thơ.
chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế
thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến
nông nổi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra
thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí
Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có trời mà biết! Hắn không biết, cả
làng Vũ Đại cũng không ai biết…
(Chí Phèo – Nam Cao)
1. Hãy phân tích ngắn gọn ý nghĩa tiếng chửi của nhân vật Chí Phèo trong đoạn văn trên?
2. Qua đoạn văn trên, anh (chị) có nhận xét gì về môi trường xã hội mà Chí Phèo sống?
II. Phần làm văn: (8,0 điểm)
Câu 1 – Nghị luận xã hội: (3,0 điểm)
Viết bài văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về tâm sự của nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”.
Câu 2 – Nghị luận văn học: (5,0 điểm)
Anh (chị) hãy phân tích bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu
Trùng Đài của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.
ĐÁP ÁN ĐỀ THI
I. Đọc – hiểu: (2,0 điểm)
1. Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo: (1,0 điểm)
- Chí vừa đi vừa chửi: Lạ ở chổ Chí chửi, nhưng không ai nghe chửi. Chửi (đời, trời, cả
làng Vũ Đại). Sau khi chửi hết đối tượng này đến đối tượng khác, mà chẳng ai có phản
ứng gì, hắn đành chửi chính đứa nào đẻ ra hắn.
- Sự phản ứng của Chí với xã hội, cuộc đời...(tâm trạng bất mãn của một con người ít
nhiểu ý thức được mình đã bị xã hội phi nhân tính gạt khỏi thế giới loài người).
- Nỗi cô độc của con người đã bị tha hóa, không được làm người trong xã hội cũ.
2. Môi trường xã hội mà Chí Phèo sống: (1,0 điểm)
- Môi trường sống thiếu tình thương, đầy thành kiến…đã đẩy Chí dấn sâu vào con đường
tha hóa, lưu manh hóa.
Câu 2: (5,0 điểm)
Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ,
diễn đạt lưu loát, văn nhiều cảm xúc, gợi hình; không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần
đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:
1) Mở bài: (0,5 điểm)
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu được vấn đề cần phân tích.
2) Thân bài: (4,0 điểm)
- Vũ Như Tô là kiến trúc sư tài ba, “ngàn năm chưa dễ có một”..., là hiện thân cho niềm
khao khát, say mê sáng tạo cái đẹp.
- Là nghệ sĩ có nhân cách lớn, hoài bão lớn và có lí tưởng nghệ thuật cao cả. Tuy nhiên
lầm lạc trong suy nghĩ và hành động,…trả giá bằng cả tính mạng của mình.
- Qua bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô, nhà văn đặt vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ
thuật và đời sống; giữa khát vọng nghệ thuật muôn đời với lợi ích của nhân dân.
- Tác giả bày tỏ niềm cảm thông, trân trọng đối với người nghệ sĩ tài năng, giàu khát vọng
nhưng rơi vào bi kịch trong xã hội đương thời.
3) Kết luận: (0,5 điểm)
- Khái quát vấn đề đã phân tích.
- Liên hệ thực tế - bản thân.
SỞ GD&ĐT LONG AN
ĐỀ THI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2015 - 2016
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU THỌ
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
- Truyện ngắn trữ tình có cốt truyện đơn giản
0,5
- Thạch Lam đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía
1,0
niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn
quanh, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng.
- Biểu lộ sự trân trọng ước mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.
b/. Các mức điểm khác: Dựa vào thang điểm trên vận dụng
thích hợp.
0,5
II. Tập làm Phân tích hình tượng Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử
văn
tù” của Nguyễn Tuân.
1. Yêu cầu kỹ năng: Biết cách làm bài nghị luận văn học, vận
1,0
dụng khả năng đọc hiểu để phân tích hình tượng nhân vật
trong một tác phẩm cụ thể. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng,
diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ
pháp… văn viết có cảm xúc. Chữ viết rõ ràng, cẩn thận.
2. Yêu cầu kiến thức: (6,0 điểm) Vận dụng hiểu biết về tác giả
ĐỀ CHÍNH THỨC
Thời gian làm bài: 90 phút
(Không kể thời gian giao đề)
I. Phần đọc hiểu: (4,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo;
Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau.
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Gíao dục, 2012, trang 31)
Câu 1. Những biện pháp nghệ thuật nào đã được nhà thơ dùng để ôn lại những kỉ niệm về
tình bạn thắm thiết? (1,0 điểm)
Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ: “Bác
Dương thôi đã thôi rồi”. (1,0 điểm)
Câu 3. Nghĩa của từ “xuân” trong câu thơ: “Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân”. (0,5 điểm)
Câu 4. Đoạn thơ trên cho anh/chị suy nghĩ gì về tình bạn của học sinh thời nay? (viết thành
một đoạn văn ngắn khoảng ½ trang giấy). (1,5 điểm)
II. Phần làm văn: (6,0 điểm)