Vai trò của ODA với sự phát triển kinh tế xã hội. Thực trạng việc tiếp nhận và sử dụng ODA ở Việt Nam. Giải pháp nâng cao và sử dụng hiệu quả ODA ở nước ta - Pdf 40

Chương 1. Tổng quan về ODA
I. Khái niệm và đặc điểm của nguồn vốn ODA
1. Khái niệm
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có
nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay Viện trợ phát triển chính thức.
Năm 1972, OECD ( Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển) đã đưa ra khái niệm
ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của
giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất
25%”.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước
phát triển sang các nước đang và chậm phát triển. Liên hiệp quốc, trong một phiên
họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát triển dành
1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế và xã hội của
các nước đang phát triển .
Theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA được
định nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hiểu là hoạt động
hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song
phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ.
Một cách khái quát, chúng ta có thể hiểu ODA bao gồm các khoản viện trợ không
hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức
liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp
quốc , các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển.
2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA
- Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc
tế đối với các nước đang và chậm phát triển.
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu
đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác:
+ Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD.
+ Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả

hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ.
- ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu
trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, các nước nhận
ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả
năng trả nợ. Cần nhận thức rằng ODA có mức ưu đãi nhưng không phải vì vậy
mà nó không mang gánh nặng nợ nần cho mai sau mà nó thường được xuất
hiện sau thời gian dài. Vấn đề khó khăn là ở chỗ ODA không được đầu tư
trực tiếp cho sản xuất mà là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển y tế,
văn hoá, giáo dục,là những lĩnh vực phi sản xuất vật chất nên hiệu quả nó mang lại
là gián tiếp, có tính chất hỗ trợ cho các ngành sản xuất trong nước. Trong khi đó số
nợ nần của ODA thì lại tồn tại và trực tiếp thêm vào gánh nặng nợ nần của các
nước tiếp nhận. Vì vậy việc phối hợp sử dụng ODA với các nguồn vốn khác là cực
kỳ quan trọng nhằm tăng cường khả năng trả nợ, đồng thời vẫn đảm bảo phát triển
kinh tế, xã hội.
II.

Vai trò của ODA với sự phát triển kinh tế xã hội


II.1 Tác động tích cực.
-

-

-

-

-

quốc gia về mặt kinh tế, chính trị, xã hội.
Các khoản vay ODA làm tăng gánh nặng nợ nần cho quốc gia. Tác động của yếu tố
tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn trả tăng lên. Đặc biệt đối
với những nước sử dụng ODA không hiệu quả do xây dựng chiến lược, quy hoạch
thu hút sử dụng nguồn vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý, trình độ quản lý
thiếu kinh nghiệm…có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần, thiếu
khả năng thanh toán.
Đối với nước tài trợ


-

-

Ảnh hưởng của ODA đối với những nước này là áp lực của công chúng trong
nước. Họ cho rằng, việc chính phủ cung cấp tài trợ cho các nước khác làm giảm
thu nhập và mức sống của họ. Áp lực này càng mạnh mẽ khi nền kinh tế của nước
tài trợ gặp suy thoái hoặc khủng hoảng.
Ngoài ra, ODA có thể tạo ra nạn tham nhũng nếu quốc gia tài trợ không có chính
sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ, việc chấp nhận tài trợ có thể không phải trên cơ
sở các mục tiêu đã được xác định mà vì những lợi ích cá nhân…
Chương 2: Thực trạng việc tiếp nhận và sử dụng ODA ở Việt Nam

1.
1.1.
1.1.1.

Những mặt tích cực
ODA trong việc sử dụng với cơ sở hạ tầng
ODA làm thay đổi đáng kể bộ mặt của cơ sở hạ tầng kinh tế



Nguồn vốn ODA đầu tư cho việc phát triển ngành điện với tổng cam kết cho đến
năm 2003 là 3,7 tỷ USD, hiện chiếm 40,3% trong tổng vốn đầu tư với 7 nhà máy
điện lớn (Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2, Hàm Thuận - Đa Mi, Sông Hinh, Đa Nhim, Phả
Lại 2, Trà Nóc) có công suất thiết kế chiếm 40% tổng công suất của các nhà máy
điện ở Việt Nam xây dựng trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000. Tổng công suất phát
điện tăng thêm do đầu tư bằng nguồn vốn ODA là 3.403 MW, bằng tổng công suất
điện từ trước cho tới năm 1995. Trong ngành năng lượng điện, vốn ODA còn đầu
tư để phát triển hệ thông đường dây và mạng lưới điện phân phối điện, bao gồm
các dự án đường dây 500 KV Plâyku – Phú Lâm, đường dây 220 KV Tao Đàn –
Nhà Bè, gần 50 trạm biến áp của cả nước, cải tạo nâng cấp mạng lưới điện thành
thị và nông thôn ở trên 30 tỉnh và thành phố.



Trong số 4,45 tỉ USD vốn ODA mà các nhà tài trợ cam kết danh cho Việt nam đưa
ra, tháng 12 năm 2006, các nước tài trợ cũng dành ưu tiên viện trợ cho các lĩnh vực
cơ sở hạ tầng. Nhật bản, nước ở vị trí dẫn đầu với mức cam kết 890,3 triệu USD
cho biết số ưu tiên này sẽ ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng, cụ thể là tuyến
đường săt cao tốc Bắc – Nam và bảo vệ môi trường. Pháp với vốn viện trợ cam kết
lớn thứ hai trong các nhà tài trợ và đứng đầu khối EU là 370,4 triệu USD cũng cho
biết nguồn vốn ODA sẽ được sử dụng trong bốn lĩnh vực ưu tiên là giao thông đô
thị, đường sắt, môi trường (quản lý nước và rác thải), phát triển nông thôn. Ngoài
ra, các cam kết này cũng sẽ hỗ trợ các hoạt động trong lĩnh vực y tế và hiện đại hoá
ngành tài chính.
Nguồn vốn ODA dành cho năng lượng điện và giao thông chiếm tới hơn 40%
vốn ODA của Việt Nam.

1.1.2.

Ở nhiều nước trong đó có Việt Nam, thực tế đã khẳng định rằng khi cơ sở hạ tầng
nông thôn được cải thiện sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và mang lại lợi ích kinh
tế cho nông dân, cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế và giáo
dục, tăng cường trao đổi mua bán, mang lại thêm nhiều cơ hội tạo thu nhập phi
nông nghiệp và giảm áp lực lên những vùng nhạy cảm về sinh thái. Ngoài ra, mối
liên quan giữa nghèo đói và cơ Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác có
cùng tình trạng CSHT nông thôn yếu kém, tỉ lệ nghèo rõ ràng cao hơn hẳn những
nước có CSHT hoàn chỉnh gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống thủy lợi,
trạm cấp nước sạch và các chợ, v.v. được xây dựng để thúc đẩy giao lưu buôn
bán. Sự đóng góp của CSHT nông thôn trong xóa đói giảm nghèo đã được minh
chứng qua những thành quả của Pha I dự án ngành CSHT nông thôn (RISP) do
ADB tài trợ trong những năm 1998 – 2004. Các báo cáo đánh giá và kết thúc dự án
cho thấy tỉ lệ nghèo trong vùng có tiểu dự án giảm đáng kể, và một trong số nhiều
lợi ích khác chính là thu nhập hộ gia đình tăng bình quân trên 40%.
ODA góp phần xóa đói giảm nghèo

1.2.


Năm 2006: GS-TS khoa học Phạm Hồng Giang-phó ban chỉ đạo công trình trái
phiếu và ODA bộ NN&PTNT cho biết: Nguồn vốn ODA dành cho ngành nông
nghiệp được sử dụng cho phát triển lâm nghiệp, thủy lợi và nông nghiệp. Từ năm
1995 đến 2000, lượng vốn này chưa nhiều, chỉ chiếm 20% tổng vốn đầu tư của
ngành; từ năm 2000-2006 lượng vốn khá lớn, thường chiếm khoảng 35-40%.



Năm 2006, vốn ODA của ngành nông nghiệp là 876 tỷ đồng; năm 2005 là 714 tỷ
đồng, trong nhiều năm qua, lượng vốn DOA chủ yếu dành cho các công trình thủy
lợi.

Bộ NN&PTNT sẽ đầu tư khoảng 150-300 triệu USD vốn ODA cho nông nghiệp ở
khu vực ĐBSCL, ưu tiên cho các lĩnh vực bao gồm: thủy sản, công nghệ sau thu
hoạch, thủy lợi, phát triển nông nghiệp nông thôn và cơ sở hạ tầng. Trong đó, công
nghệ sau thu hoạch như xây mới hệ thống phơi sấy, xay xát, chế biến, kho chứa...
sẽ được đầu tư mạnh nhất để giảm thiểu tối đa tổn thất sau thu hoạch, đặc biệt với
ngành lúa gạo.
Hiệu quả mang lại: ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp
và nông thôn kết hợp xoá đói giảm nghèo. Số liệu các cuộc điều tra mức sống dân
cư trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ mức 58% vào năm 1983
xuống còn 37% năm 1998; 28,9% năm 2002 và ước dưới 10% năm 2004. Kết quả
này cho thấy Việt Nam đã vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) mà nước
ta cam kết với thế giới. Những kết quả này có sự góp phần quan trọng của ODA.
Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các dự án phát triển nông nghiệp và nông
thôn, kết hợp xoá đói giảm nghèo, trong đó nguồn vốn ODA đã giúp nông dân
nghèo tiếp cận nguồn vốn vay để tạo ra các ngành nghề phụ, hỗ trợ phát triển công
tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, thuỷ
lợi, cung cấp nước sạch, phát triển lưới điện sinh hoạt, trạ.


1.3.

ODA giúp điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Nguồn vốn ODA cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của Chính phủ để thực
hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế (ví dụ như
quỹ Miyazawa, PRGF và PRSC). Nguồn vốn ODA có ý nghĩa quan trọng trong
việc giúp Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa cũng như hội nhập với nền kinh tế thế giới. Sự hỗ trợ này nhằm tăng cường
các biện pháp cải cách hành chính và quản lý kinh tế. Một trong những biện pháp
cải cách có ý nghĩa nhất trong những năm gần đây về lĩnh vực xây dựng chính sách

án môi trường Việt Nam trong thời gian tới.
Theo Thứ trưởng Phạm Khôi Nguyên, mặc dù trong thời gian qua, Chính
phủ Việt Nam đã nỗ lực không ngừng trong công tác bảo vệ môi trường và dành
được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhanh chóng đã gây
ra tình trạng quá tải, ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường đất, nước, biển và
ven bờ, không khí.
Ts. Nguyễn Văn Tài, Phó Vụ trưởng Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi
trường cho biết: trong 10 năm qua, GDP của Việt Nam tăng gấp 2 lần nhưng mức
độ ô nhiễm tăng gấp 4 lần. Cụ thể, diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam trong 30
năm qua đã giảm tới 2/3 dẫn đến nhiều hậu quả như lũ quét, triều cường, sạt lở bờ
biển làm các loài sinh vật mất nơi cư trú và suy giảm mạnh về chủng loại và số
lượng. Phần lớn vùng hạ lưu các con sông đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm
trọng như lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai, sông Cầu, sông Nhệ - sông Đáy. Hơn
75% dân số Việt Nam sinh sống ở nông thôn và miền núi. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có hố
xí hợp vệ sinh chỉ chiếm khoảng 30% và số hộ được cung cấp nước sạch chỉ
khoảng 40%. Khoảng 50% các cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ lạc hậu của
những năm 50 – 60.
Trên cơ sở hiện trạng môi trường và những vấn đề môi trường bức xúc của
Việt Nam, Thứ trưởng Phạm Khôi Nguyên đề nghị những nội dung hợp tác cụ thể
giữa Việt Nam với Nhật Bản bao gồm những hỗ trợ hoàn thiện chính sách và
chuyển giao công nghệ nhằm xây dựng ngành công nghiệp môi trường. “Trước mắt
đề nghị tập trung giải quyết 4 vấn đề lớn là: xử lý ô nhiễm tại các khu công nghiệp;
xử lý ô nhiễm các lưu vực sông; xử lý ô nhiễm các làng nghề; tăng cường các dự
án CDM (cơ chế phát triển sạch) và trồng rừng", ông nói. Về lâu dài, Thứ trưởng
cho rằng, Việt Nam và Nhật Bản cần nghiên cứu và sớm thành lập Nhóm công tác
và Uỷ ban hỗ trợ hợp tác về môi trường Việt Nam - Nhật Bản. Uỷ ban trên sẽ gồm
đại diện các bộ, ngành liên quan của 2 nước sẽ họp thường xuyên định kỳ.Về cơ
bản, các nội dung hợp tác bảo vệ môi trường giữa Nhật Bản và Việt Nam được
ngài Kawakami TaKao, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản đề
xuất cũng gồm những nội dung trên. Đó là chính sách môi trường và ảnh hưởng

chảy vào đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, góp phần tạo ra môi trường thuận
lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn của tư nhân, xóa đói giảm nghèo…
Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ đã thống nhất được với nhau chương
trình hành động và các cơ chế giám sát nhằm đảm bảo nguồn vốn viện trợ đạt hiệu


quả cao hơn trong bối cảnh các bên cùng nổ lực hợp tác nhằm đạt được các mục
tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) vào năm 2015. Vì lẽ đó, đôi bên đã thống
nhất quan điểm về việc cần thiết phải tăng cường khối lượng viện trợ và đồng thời
phải nâng cao hiệu quả viện trợ thì mới có thể đạt được mục tiêu đề ra. Điều này
được thể hiện thông qua số vốn cam kết đi cùng với số vốn giải ngân ngày càng
tăng trong những năm qua.
Những tiêu cực.
Đây là nguồn vốn vay nên phải có nghĩa vụ trả nợ nên sẽ dẫn tới gánh nợ nặng
cho quốc gia tong tương lai.
Các nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ
các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước
tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường
bảo hộ cho những danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ, yêu cầu có những
ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào
các lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường
gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp,
thậm chí còn không cần thiết đối với các nước nghèo.
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt
nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là các nước cung cấp ODA buộc
nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hóa, dịch vụ do
họ sản xuất. Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA
nhưng thông thường các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thỏa thuận đồng
ý của nước viện trợ dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham

cung cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội
của Việt Nam. Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm
1993 đến 2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong
đó vốn vay ưu đãi đtạ 51,6 tỷ USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn
lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếm khoảng 11,6%. Năm 2013 tổng vốn ODA đạt trên 7 tỉ
USD: Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết sáu tháng đầu năm 2013 đạt 3,834
tỉ USD (trong đó vốn vay là 3,769 tỉ USD; viện trợ không hoàn lại là 65 triệu
USD), tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong các tháng còn lại của năm 2013,
dự kiến tổng giá trị ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt khoảng 2,409 tỉ USD. Như
vậy nếu không có thay đổi lớn, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết của cả năm
2013 ước đạt trên 7 tỉ USD, tăng 19,3% so với mức của năm 2012 và cao nhất từ
trước đến nay. Tổng số ODA cam kết sau 20 năm là 78,195 tỉ USD, trong đó 66%
dành cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng và còn lại cho lĩnh vực nông thôn, xã hội, y tế, môi
trường.
Hỗ trợ phát triển (ODA) của các nước đối tác chiến lược và đối tác toàn diện cho
Việt Nam đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển cơ sở hạ tầng và trong những
ngành mũi nhọn với định hướng chiến lược lâu dài. Từ năm 2010, Việt Nam đã
nằm trong nhóm nước có thu thập trung bình thấp nhưng các nước đối tác chiến
lược và đối tác toàn diện vẫn duy trì, một số nước vẫn tăng mức ODA cho Việt
Nam. Tổng ODA cam kết cho Việt Nam 1993-2013 là 78 tỷ USD, trong đó 63 tỷ
USD đã được ký kết và 42 tỷ USD đã được giải ngân. Trong đó, vốn ODA từ Nhật
bản chiếm 30% tổng ODA vào Việt Nam. Riêng năm 2013, ODA cam kết của Nhật
Bản cho Việt Nam là 1,4 tỷ USD. Bên cạnh ODA ưu tiên cho lĩnh vực phát triển cơ
sở hạ tầng, ODA dành cho lĩnh vực trọng điểm khác mang tính chiến lược cho phát
triển lâu dài của Việt Nam từ các đối tác chiến lược cũng được gia tăng.
Trong số các nhà tài trợ ODA song phương cho Việt Nam, Nhật Bản là nhà tài trợ
lớn nhất. Hiện tổng vốn ODA Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam từ năm 1992 đến nay
đã lên tới con số 2.118 tỷ yên, tương đương với khoảng hơn 20 tỷ USD. Phía Nhật
Bản cũng thừa nhận, trong hợp tác ODA, Nhật Bản hỗ trợ cho các nước đang phát
triển trên thế giới thì hợp tác với Việt Nam có quy mô lớn nhất và Việt Nam cũng

- Nghiên cứu, rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công và vướng mắc khi
tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA để thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn
ODA.
- Tăng cường công tác cán bộ, đầu tư đào tạo để nâng cao năng lực cho những
cán bộ thuộc bộ phận liên quan đến việc xác định nhu cầu đàm phán, kí kết
những hiệp định với đối tác nước ngoài nhằm nâng cao hơn nữa cả về số luợng
và chất lượng của nguồn vốn thu hút được.
- Mở lớp đào tạo ngắn về những kiến thức có liên quan đến ODA, tập huấn về
những quy định và thủ tục, điều kiện cung cấp ODA của các nhà tài trợ.
- Xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, cơ chế chính sách cụ thể có tính đồng
bộ cao.


-

Mô hình quản lí các mô hình đầu tư cần được giám sát hơn, quản lí chặt chẽ
hơn
Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý và nghiệp vụ chuyên môn cho đội
ngũ làm việc trong các dự án.


3. Giải pháp về quản lý và sử dụng vốn ODA
Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA cần thực hiện các giải pháp sau:
- Một là, Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan chủ quản và chủ đầu tư các
dự án ODA phải thống nhất nhận thức: nguồn vốn ODA là một bộ phậnngân sách
nhà nước, là một phần nguồn lực tài chính quốc gia và tạo gánh nặng nợ nần cho
người dân, không chỉ thế hệ hôm nay mà cả mai sau.
- Hai là, Chính phủ cũng như từng chính quyền địa phương phải hoạch định chiến
lược vận động và sử dụng vốn ODA phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã
hội. Do phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố bất định nên khó có thể dự kiến chuẩn

mô, trách nhiệm trả nợ, năng lực quản lý vốn ODA của địa phương, lĩnh vực đầu tư
của dự án, nhà tài trợ v.v…
- Sáu là, các bộ ngành trong Chính phủ và chính quyền các địa phương cần có kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác quản lý vốn
ODA theo hướng chuyên môn hóa.
- Bảy là, hoàn thiện khung pháp lý nhằm tăng cường quản lý huy động vốn vay
nước ngoài. Tiến hành rà soát các quy định của các văn bản pháp quy hiện hành để
trên cơ sở đó nghiên cứu và trình Quốc hội xây dựng một Luật hay Pháp lệnh về
quản lý vay nợ và viện trợ nước ngoài của quốc gia nhằm nâng cao tính pháp lý và
tính toàn diện trong công tác quản lý các khoản vay nợ và viện trợ nước ngoài.
Nghiên cứu và tiến hành sửa đổi một số Nghị định liên quan đến quản lý và sử
dụng ODA, tạo sự hài hoà giữa thủ tục của phía các nhà tài trợ và phía Việt Nam.
Tiến tới quản lý nguồn vốn ODA cần phải dựa vào kết quả đầu ra.
- Tám là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm toán việc sử dụng nguồn vốn vay
nước ngoài. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra tài chính và kiểm toán Nhà nước cần
tăng cường công tác chuyên môn nghiệp vụ để thẩm định, đối chiếu, so sánh, phát
hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật; kiên quyết xuất toán các
khoản chi sai mục đích, không đúng khối lượng, đơn giá, không đúng tiêu chuẩn
định mức, vượt dự toán lớn. Cần thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất, kể cả trách
nhiệm hình sự đối với nhà thầu, tư vấn giám sát trong việc xác nhận khối lượng
thanh toán không trung thực, không đúng quy định; khắc phục những vi phạm
trong công tác xác nhận khối lượng thanh toán để làm căn cứ kiểm soát chi và giải
ngân vốn ODA, vốn đối ứng cho dự án ODA.


- Chín là, đẩy mạnh việc thiết lập cơ chế trao đổi thông tin, dữ liệu trong hệ thống
quốc gia về theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA. Xây dựng các tiêu
chuẩn về trao đổi thông tin, dữ liệu theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án
ODA giữa cấp Ban QLDA, chủ dự án, cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà
nước về ODA theo hướng thích hợp từ dưới lên và phản hồi từ trên xuống; các tiêu

3.

Mối quan hệ của Việt Nam và các nước viện trợ ODA…………. 12
Giải pháp thu hút nguồn vốn ODA……………………………….13
Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA…………………….15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status