TINH THẦN YÊU NƯỚC – MỘT TRONG NHỮNG GIÁ
TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH
Truyền thống yêu nước là một tình cảm đặc biệt của con người
với quê hương, đất nước, quốc gia, dân tộc. Theo Lênin - chủ nghĩa
yêu nước nói chung là "Một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã
được củng cố qua hàng trăm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc
biệt lập". Như vậy, chủ nghĩa yêu nước là tình cảm phổ quát của nhân
dân các quốc gia, dân tộc trên thế giới được hình thành rất sớm trong
tư tưởng nhân loại.
Đối với dân tộc Việt Nam truyền thống yêu nước là một hệ thống
những quan điểm, tư tưởng tình cảm của nhân dân đối với Tổ quốc, biểu
hiện ở tình yêu quê hương, đất nước, đồng bào, sẵn sàng cống hiến sức
lực, tài năng, trí tuệ và xả thân và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, là mộ giá trị văn hóa tinh thần quý báu, một động lực cách mạng
to lớn góp phần vào sự trường tồn và phồn vinh của dân tộc.
Truyền thống yêu nước, truyền thống dân tộc Việt Nam được hun
đúc trong suốt chiều dài lịch sử, dựng nước và giữ nước. Đúng như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi Tổ
quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó
nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước". Giáo sư Trần Văn Giàu
viết "Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam hẳn không phải là một
truyền thuyết thâm viễn cũng không phải là một tín ngưỡng huyền diệu,
2
nó là một hệ thống tư tưởng nhận thức và ứng xử đơn giản vừa đủ để cho
5
đội quân hùng mạnh, hung ác mà vó ngựa đã giày xéo nhiều lãnh thổ
nước ngoài, nhưng đến Việt Nam đã bị đánh tan tác, phải tháo chạy về
nước hay buông vũ khí cầu hòa trước sức kháng chiến của cả dân tộc
Việt Nam. thắng lợi của nhân dân Việt Nam không chỉ bảo vệ Tổ quốc,
giải phóng dân tộc mình mà còn đập tan mưu đồ, kế hoạch xâm lược
nhiều nước khác của bọn xâm lược.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào đầu công nguyên đã mở đầu cuộc
khởi nghĩa của nhân dân ta chống lại chính quyền đô hộ của nhà Hán,
cuộc đấu tranh trên đã phát triển đạt mục tiêu khôi phục nền độc lập,
"Đền nợ nước" sẽ kết hợp với "trà thù nhà".
Tiếp nối truyền thống yêu nước đó, trải qua Bà Triệu, Lý Bí, Mai
Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ… gần 10 thế kỷ sau, vào nửa
đầu thế kỷ X Ngô Quyền xuất hiện, kết tinh khí phách 1.000 năm chống
Bắc thuộc của nhân dân ta với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, được
xem như "một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng
lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu" (Ngô Thời Sĩ). Nếu Hai Bà Trưng
mở đầu cho cuộc đấu tranh trường kỳ, bền bỉ cho độc lập dân tộc thì
Ngô Quyền mở đầu thời đại độc lập tự chủ, xứng đáng là người anh
hùng "mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại
sang nữa", làm cho "chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại
được" (Lê Văn Hưu).
Trong gần 10 thế kỷ tiếp theo của chế độ phong kiến, nhiều anh
hùng được sản sinh theo yêu cầu của đất nước, của các thời đại. Lý
Thường Kiệt với bài "thơ thần" Nam Quốc Sơn Hà… ra đời vào buổi
đầu thời độc lập dân tộc. Ông đã khẳng định "Cương giới", "chủ quyền"
quốc gia, được "ghi rành rành trong sách trời", bày tỏ quyết tâm và lòng
tin tưởng vào thắng lợi đối với bất cứ kẻ thù nào "dám đến xâm phạm"
7
Sau khi đánh thắng cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn các vua
đầu triều Nguyễn đã xây dựng một quốc gia phong kiến thống nhất.
Song với một nhà nước lỗi thời lạc hậu không quan tâm tới đời sống
của nhân dân, chế độ phong kiến triều Nguyễn đã đẩy đất nước vào
thảm cảnh bị xâm chiếm, độc lập dân tộc bị kẻ thù bên ngoài tới
cưỡng đoạt. Khác với thời đại Lý, Trần, Lê, phong kiến triều Nguyễn
không còn khả năng tập hợp nhân dân để đánh thắng quân xâm lược,
mặc dù nhân dân ta chủ yếu là nông dân đã tự nguyện tạm gác mối thù
giai cấp với phong kiến địa chủ để chiến đấu dưới lá cờ triều đình để
giải quyết mâu thuẫn chủ yếu giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn
thực dân xâm lược.
Trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ngày càng
lan rộng và mạnh mẽ khắp nước thì vua quan nhà Nguyễn lại trượt dài
trên con đường nhượng bộ, đầu hàng từng bước, để cuối cùng cam tâm
làm tay sai cho thực dân trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân trong phạm
vi cả nước. Triều đình Huế với bè lũ quan lại đầu hàng phản động vì vậy
đã trở thành một đối tượng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc. Nhân dân Việt Nam sớm có ý thức được rằng muốn
giành được độc lập phải đánh đuổi thực dân Pháp và phong kiến tay sai
ngày càng câu kết chặt chẽ với nhau.
Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc chẳng đã chứng minh rằng,
nhân dân Việt Nam đã đánh thắng bao kẻ xâm lược mạnh hơn mình gấp
nhiều lần. Việc mất nước là do triều đình nhà Nguyễn yếu hèn sợ nhân
dân hơn sợ giặc, sợ hãi tước súng ống của chủ nghĩa tư bản phương Tây
đã bỏ lỡ nhiều cơ hội cùng nhân dân tấn công thực dân Pháp, khi chúng
đang gặp nhiều khó khăn ở châu Âu và cả ở Việt Nam.
22/4/1960) Người khẳng định: "Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước,
chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo
Quốc tế thứ ba".
11
Như vậy, Hồ Chí Minh tiếp nhận cái cơ bản của truyền thống dân
tộc, nổi bật là truyền thống yêu nước, để tìm sức sống cho cuộc đấu
tranh lúc đó. Người hiểu rõ trong truyền thống dân tộc có những điều
gần như "bất biến" và được kết tinh, cô đọng từ bao đời nay, có giá trị
đối với mọi thời đại, song cũng có những điểm chịu ảnh hưởng của ý
thức hệ của giai cấp thống trị, của hoàn cảnh lịch sử và nhiệm vụ cụ thể
của mỗi thời kỳ nên có thay đổi.
Trong những thế kỷ sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương
Bắc, lòng yêu nước của nhân dân ta thể hiện ở tinh thần tự chủ, đấu
tranh bất khuất để thoát khỏi ách thống trị của nước ngoài. Trong thời kỳ
phong kiến đối lập, lòng yêu nước gắn với "lòng trung quân", được thể
hiện trong lao động xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giải
phóng dân tộc. Đến thời cận đại, tinh thần yêu nước chống Pháp của
nhân dân Việt Nam đã khiến cho kẻ thù phải lo sợ, dù chúng đã bình
định về quân sự và tiến hành tổ chức bộ máy thống trị.
Tuy tiếp thu truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước của tổ tiên,
song Hồ Chí Minh sớm nhận thấy không thể đi con đường cứu nước
theo ý thức hệ phong kiến tư sản được. Năm 1905 khi phong trào Đông
Du bắt đầu sôi nổi, cụ Phan Bội Châu muốn đưa Anh và một số thanh
niên sang Nhật nhưng Anh không đi.
Nguyễn Tất Thành từ chối con đường Đông Du không phải vì đã
hiểu bản chất của Nhật Bản đang trên con đường đế quốc chủ nghĩa, mà
chỉ mới cảm thấy rằng không thể dựa vào nước ngoài để giải phóng
trình này "tưởng chừng như đơn giản và tự nhiên. Thực ra đó là chặng
đường chiến thắng biết bao khó khăn với sự lựa chọn vững chắc, tránh
được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt.
Thực tiễn trong gần 10 năm đi tìm đường cứu nước, nhất là khi
đọc sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa của Lênin (1920) Người đã "cảm động, phấn khởi… vui mừng
đến phát khóc" và đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Mặt khác
13
Luận cương của Lênin đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con
đường giải phóng dân tộc của mình, cũng như của các dân tộc bị áp bức
khác. Nó phù hợp và đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, những hoài bão
được ấp ủ từ lâu ở người này đang được trở thành hiện thực "Luận
cương những vấn đề dân tộc và thuộc địa đến với Người như một ánh
sáng kỳ diệu nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm cách
mạng mà Người hằng nung nấu".
Như vậy, Hồ Chí Minh từ tiếp thu truyền thống dân tộc, chủ yếu là
tinh thần yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm con đường
cứu nước đúng đắn cho nhân dân ta như lời của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã
khẳng định: "Đây là công lao to lớn của Người đã gắn phong trào cách
mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân ta đi
theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến
chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là con đường giải phóng duy nhất mà cách
mạng tháng Mưòi Nga đã mở ra cho nhân dân lao động và tất cả các dân
tộc bị áp bức trên toàn thế giới".
Chủ nghĩa yêu nước theo hệ tư tưởng cách mạng, khoa học của
chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời và đóng vai trò động lực tinh thần mạnh
mẽ của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
tạc, bôi nhọ, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
thì việc giáo dục tuyên truyền cho mọi tầng lớn nhân dân nói chung và
thế hệ trẻ nói riêng nhận thức sâu sắc về giá trị truyền thống yêu nước
được đúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng là một trong những nội
dung quan trọng và là vũ khí sắc bén để chống lại những luận điệu chống
phá thâm độc của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững sự "trong
sáng" và giá trị tinh thần bất diệt của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh.