Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng phân
chia quyền lực trong lịch sử - Phần 2
2. Học thuyết phân chia quyền lực trong thời kỳ cách mạng Tư sản
Trong gần 1500 năm của "đêm trường Trung cổ", tất cả các nhà nước ở Châu Âu
đều theo chính thể quân chủ chuyên chế, và không hề có sự tiếp nối tư tưởng phân
chia quyền lực từ thời kỳ cổ đại. Nhưng sự chuyên quyền của các vua, và sự
khủng hoảng của nhà nước phong kiến, cũng như sự xuất hiện và phát triển của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm thay đổi tất cả.
Bối cảnh chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản đã tạo ra nhiều
quan điểm mới về nhà nước, cũng như về vai trò của nó trong đời sống xã hội. Vị
trí trung tâm của các quan điểm này là vấn đề tổ chức và hoạt động của nhà nước:
làm sao để loại trừ sự độc đoán quyền lực trong tay một người hay một nhóm
người, làm sao để bảo vệ được quyền tự do, bình đẳng của mọi cá nhân trong xã
hội bằng pháp luật ? Và các học giả trong thời kỳ này đã tìm được câu trả lời
qua một tư tưởng cổ xưa: phân chia quyền lực nhà nước.
John Locke ( 1632 - 1704 ):
Phần hai của Hai khảo luận về chính quyền ( Two Treatises of Gorvernment ),
Khảo luận thứ hai về chính quyền hay Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích
chân chính của chính quyền dân sự - một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của
nền triết học chính trị và chính trị học nhân loại, chính là nơi Locke trực tiếp đưa
ra học thuyết của mình về nhà nước - một học thuyết đan xen các tư tưởng pháp
quyền tự nhiên, khế ước xã hội và phân chia quyền lực.
Trong những chương đầu của tác phẩm, Locke giải thích cho sự ra đời của nhà
nước là từ một bản khế ước, khi những con người ở trạng thái tự nhiên chấp thuận
kết hợp bản thân mình vào cộng đồng quốc gia, và nhường những quyền tự nhiên
của mình cho nhà nước, nhằm mong muốn có được sự bảo vệ tài sản và bản thân
mình một cách ổn định. Từ đó, ông nêu cao yêu cầu nhà nước và pháp luật thực
định phải tôn trọng những quyền tự nhiên của con người, như là sự thực hiện đúng
những cam kết trong khế ước.
Về quyền lực nhà nước, Locke cho rằng đó là "quyền làm luật có án phạt tử hình,
nhân đó có được sự ủng hộ từ một quyền lực ngoại quốc hay của bất cứ một quyền
lực nào khác trong nước.
Bên cạnh những quyền hạn ấy, Locke cũng vạch ra những ranh giới mà cơ quan
lập pháp không được phép vượt qua.
_____________
(1) John Locke: Khảo luận thứ hai về Chính quyền - Chính quyền dân sự, Nxb Tri
thức, Hà Nội, năm 2007
(2) John Locke: Sđd, tr.203
(3) John Locke: Sđd, tr.180
(4) John Locke: Sđd, tr.183
Thứ nhất, nó không thể là quyền lực độc đoán, chuyên chế đặt trên cuộc sống và
vận mệnh nhân dân. Con người trong trạng thái tự nhiên không thể xâm hại đến
tính mạng và tài sản của người khác, nếu như đó không phải là sự trừng phạt thích
đáng với những gì người đó đã gây ra cho mình, vậy nên cơ quan lập pháp - thứ
quyền lực có được từ tổng số tất cả những quyền tự nhiên được uỷ thác từ các cá
nhân trong cộng đồng, cũng không thể có quyền huỷ hoại sinh mạng của bất kỳ ai
trong xã hội một cách vô cớ. Không một luật lệ nào được coi là tốt hay là có căn
cứ nếu chống lạicái luật tự nhiên căn bản là bảo toàn loài người. Không một luật lệ
nào được coi là tốt hay là có căn cứ nếu không được thiết lập nhằm mục đích tối
thượng là vì lợi ích của nhân dân.
Thứ hai, hay thực chất là nguyên tắc để ngăn chặn sự độc đoán, chuyên chế của cơ
quan lập pháp, là yêu cầu phải có những đạo luật thường trực đã ban hành và
những quan toà có hiểu biết được trao thẩm quyền khi đưa ra những quyết định có
liên quan tới các quyền của mỗi thành viên trong xã hội. Chỉ khi có những luật
được minh định, những quy tắc thường trực để ràng buộc thì con người mới biết
đâu là quyền và đâu là sở hữu của mình; "còn nếu không như thế thì hoà bình, sự
yên ổn và sở hữu của họ vẫn chỉ là trong cùng một trạng thái bất định như đã có ở
trạng thái tự nhiên"(1).
_____________
(1) John Locke: Sđd, tr.189
luôn được lưu giữ lại trong cộng đồng, đó là quyền tự bảo toàn. Đó là quyền "cứu
lấy chính mình trước cố gắng hay mưu đồ của bất kỳ ai, cho dù là các nhà lập
pháp của họ, vào bất kỳ lúc nào - khi mà những người này trở nên quá ngu xuẩn
hay quá độc ác"(3), nhằm chống lại các quyền tự do và sở hữu của con người. Khi
ấy, quyền lực phải "được chuyển giao về tay những người đã trao nó ra, để họ lại
đặt nó vào nơi mà họ nghĩ là sẽ tốt nhất cho sự an toàn và an ninh của họ"(1).
Trong chương XII: Về cơ quan lập pháp, hành pháp và quyền liên hiệp của cộng
đồng quốc gia, Locke chỉ ra trong quyền lực tối cao của cộng đồng xã hội, bên
cạnh quyền lập pháp còn có quyền hành pháp và quyền liên hiệp.
_____________
(1) John Locke: Sđd, tr. 195
(2) John Locke: Sđd, tr. 196
(3) John Locke: Sđd, tr.204
Bởi nếu như cơ quan lập pháp không cần, và cũng không nên hiện diện thường
xuyên thì việc thực hiện những đạo luật đã được làm ra lại luôn cần tồn tại một
cách thường trực, đó chính là quyền hành pháp. Và như đã trình bày ở trên, nếu
quyền lập pháp và hành pháp cùng nằm trong tay một cá nhân hay một nhóm
người nào đó thì có thể họ sẽ miễn cho bản thân việc chấp hành các đạo luật, hay
khiến cho cả quá trình làm luật và thực hiện luật đều chỉ vì lợi ích của bản thân
mình, nên hai quyền lực này cần được trao vào những bàn tay khác nhau.
Theo Locke, nếu như trong một nhà nước mà cơ quan lập pháp không tồn tại
thường xuyên, một người nào đó nắm toàn quyền hành pháp và cũng có quyền
tham dự vào cơ quan lập pháp thì con người này, theo một nghĩa có thể chấp nhận
được, chính là quyền lực tối cao, bởi lẽ ông ta nắm toàn quyền hành pháp, và bởi
lẽ không có một cơ quan lập pháp cấp trên nào có thể thông qua một đạo luật nếu
không có sự đồng ý của ông ta. Từ bản thân ông ta xuất phát ra thứ quyền cai trị
của tất cả các quan cấp dưới, và các viên quan này cũng như toàn thể dân chúng
phải tuyệt đối trung thành với ông ta, phải tuân thủ mọi ý chí của ông ta. Nhưng sự
trung thành và sự tuân thủ này chỉ là một sự chấp hành luật pháp không hơn không
kém. Hành động của ông ta là dựa theo ý chí xã hội, là thứ đã được minh định
Về quyền liên hiệp này, nhiều nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng nó không có ý
nghĩa thực tiễn trong bộ máy nhà nước. Nhưng chúng em không nghĩ như thế, nhất
là xét trong hoàn cảnh thế giới hiện nay: khi xu thế toàn cầu hoá, hợp tác quốc tế
đang ngày càng được tăng cường, ranh giới giữa các quốc gia ngày càng bị xoá
nhoà, và sau các cuộc chiến tranh "bất hợp pháp" của Mỹ ở Afghanistan năm
2001, ở Iraq năm 2003 thì theo chúng em, việc quan tâm tới quyền liên hiệp
đang là một yêu cầu quan trọng của tổ chức bộ máy nhà nước trong thời đại ngày
nay.
_____________
(1) John Locke: Sđd, tr.201
Theo Locke, dù quyền hành pháp và quyền liên hiệp rất khác nhau, vì một thứ là
sự thực thi các đạo luật đã có ở bên trong cộng đồng quốc gia đối với những thành
viên của nó, còn một thứ là sự bảo đảm an ninh và lợi ích của các cá nhân cũng
như toàn thể cộng đồng trong mối liên quan bên ngoài với các cá nhân và cộng
đồng khác, nhưng thực chất chúng luôn thống nhất với nhau. Ông viết: "quyền
hành pháp và quyền liên hiệp của mỗi cộng đồng thực sự phân biệt với nhau,
những chúng khó mà bị chia tách và cùng lúc
đặt vào tay của những cá nhân khác nhau. Vì cả hai quyền lực này đều cần đến vũ
lực của xã hội cho việc thực thi chúng, nên hầu như phi thực tế nếu đặt vũ lực của
cộng đồng quốc gia vào những bàn tay riêng biệt và không phụ thuộc nhau, hay
đối với cơ quan hành pháp và quyền lực liên hiệp phải được đặt vào những cá
nhân có thể hành động tách rời nhau, và theo đó mà sức mạnh cưỡng bức của dân
chúng sẽ được đặt dưới những mệnh lệnh khác nhau, là điều có khuynh hướng gây
ra sự hỗn loạn và phá hoại, vào lúc này hay lúc khác"(1).
Quay lại với cơ quan lập pháp, về thời điểm nhóm họp và hoạt động của cơ quan
quyền lực tối cao này, Locke đưa ra hai phương án: thứ nhất là thời điểm này được
ấn định rõ ràng trong hiến pháp gốc, và cơ quan hành pháp chỉ phải điều hành cụ
thể việc bầu chọn và hội họp của cơ quan lập pháp theo đúng quy định; thứ hai là
cơ quan hành pháp, bằng sự cân nhắc thận trọng của mình, tiến hành tuyển cử hay
triệu tập cơ quan lập pháp, khi nhận thấy đòi hỏi phải tu chỉnh, sửa đổi những luật
ích cao nhất của nhân dân. Cũng vì mục đích này, trong một số trường hợp khác,
cơ quan hành pháp có thể giải quyết các sự vụ khác với quy định trong pháp luật,
thậm chí là đi ngược lại, bởi sự khắc nghiệt của luật pháp không phải lúc nào cũng
đúng, Locke cho ví dụ của trường hợp này là: không cho kéo sập nhà của một
người vô can để dừng ngọn lửa lại khi căn nhà bên đang cháy; do vậy, việc làm
này trái với quy định của pháp luật thực định nhưng lại phù hợp với pháp luật tối
cao, chính là lợi ích của nhân dân, như câu nói nổi tiếng của nhà luật học Lamã
Cicéron: "Salus populi suprema lex - Hạnh phúc của nhân dân là pháp luật tối
cao".
Trong những dòng cuối cùng của tác phẩm, Locke đưa ra một câu hỏi: Vậy ai sẽ là
người phán xét rằng quốc vương hay cơ quan lập pháp có hành động trái với sự uỷ
thác đã được đặt vào họ hay không ? Locke khẳng định: đó chính là nhân dân. Ông
cho rằng khi có tranh cãi giữa quốc vương với một số người dân khi pháp luật
không có quy định rõ ràng, hay khi vấn đề tranh cãi có hậu quả lớn thì người trọng
tài thích hợp nhất phải là cơ quan quyền lực của nhân dân, bởi ai sẽ là người phán
xét rằng một người được uỷ nhiệm có hành động tốt và theo đúng sự uỷ nhiệm hay
không thích hợp hơn chính người đã uỷ nhiệm ? Nhưng nếu quốc vương phản đối
cách giải quyết của cơ quan quyền lực nhân dân thì việc cáo kiện buộc phải "đưa
đến trời cao", mà ở đây có thể hiểu là việc sử dụng bạo lực và cách mạng để lật đổ
ông vua ấy đi, để thay thế cái hình thức chính quyền cũ ấy đi, bằng những con
người mới, những hình thức mới mà nhân dân cho là tốt đẹp nhất.
Tóm lại, qua tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền hay còn có tựa đề phụ là
Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích chân chính của chính quyền dân sự của
Locke, ta có thể khẳng định tư tưởng phân quyền của Locke là một bước phát triển
hơn hẳn so với các học giả thời kỳ cổ đại Hy Lạp - Lamã. Tuy vẫn còn một số
điểm hạn chế, mà chủ yếu là chưa phân tách quyền tư pháp ra độc lập với quyền
hành pháp, nhưng tư tưởng phân chia quyền lực của Locke vẫn là nền tảng đầu
tiên vững chắc cho các học giả tư sản về sau tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.