TIỂU LUẬN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về CÁCH MẠNG TRƯỚC hết PHẢI có ĐẢNG CÁCH MẠNG GIÁ TRỊ và ý NGHĨA của nó TRONG CÔNG tác xây DỰNG, CHỈNH đốn ĐẢNG HIỆN NAY - Pdf 40

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG “TRƯỚC HẾT PHẢI CÓ ĐẢNG CÁCH MẠNG”.
Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
CỦA ĐẢNG TA HiỆN NAY.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta thành
một Đảng cách mạng chân chính, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, xứng đáng là bộ tham mưu, đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công
nhân Việt nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 85 năm qua, kể từ ngày
thành lập 3-2-1930 đến nay, cách mạng Việt nam đã giành được nhiều thắng lợi
vẻ vang trên con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cả lý
luận và thực tiễn cách mạng đều đã chứng tỏ rằng: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân
tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt nam. Không chỉ trong quá khứ
mà cả hiện tại và tương lai, cách mạng Việt nam đã, đang và sẽ cần có Đảng lãnh
đạo - một vấn đề mang tính quy luật, tất yếu, một điều kiện tiên quyết cho cách
mạng Việt nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì lẽ đó, vấn đề về Đảng và xây dựng
Cộng sản Việt nam là mối quan tâm xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người
đã để lại những di sản tư tưởng vô giá về Đảng và xây dựng Đảng. Một trong
những nội dung tư tưởng đó là: Cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mạng”.
Đây là một nội dung tư tưởng hết sức quan trọng. Nhận thức đúng đắn
và đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về: Cách mạng “trước hết phải có Đảng cách
mạng” giúp cho cán bộ, đảng viên thấy rõ vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với sự nghiệp cách mạng, thấy rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng
Đảng. Từ đó tích cực chăm lo xây dựng Đảng về mọi mặt, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đồng thời ra sức bảo vệ Đảng. Đặc biệt
trong tình hình hiện nay, đất nước đang ở vào thời kỳ phát triển mới, thực tiễn
đang đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ mới trong công tác xây dựng chỉnh đốn
Đảng. Trong khi đó các thế lực thù địch lại đang tìm mọi cách chống phá ta
nhằm hạ thấp, hòng tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, việc


nhận thức đúng đắn tư tưởng của Người để từ đó kiên quyết đấu tranh không
khoan nhượng với những nhận thức và hành động sai trái, với những âm mưu

các giai cấp có của, giai cấp công nhân chỉ khi được tổ chức thành một chính
đảng độc lập đối lập với tất cả các chính đảng cũ do các giai cấp có của lập
nên, thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp. Việc tổ chức như
vậy giai cấp công nhân thành một chính đảng là cần thiết để bảo đảm thắng
lợi của cách mạng xã hội và thắng lợi của mục đích cuối cùng là thủ tiêu các
giai cấp”1. Ph.Ăngghen còn chỉ rõ: “Để cho giai cấp vô sản đủ vững mạnh để
chiến thắng trong giờ phút quyết định, cần phải- và điều này Mác và tôi chủ
trương từ năm 1847 - thành lập một đảng riêng biệt khác hẳn các đảng khác
và đối lập hẳn với các đảng này, một đảng giai cấp tự giác”.2
Là người kế tục sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ăngghen, V. I. Lênin đã
phát triển sáng tạo và hoàn chỉnh học thuyết xây dựng Đảng của chủ nghĩa
Mác. Người đã sáng lập ra Đảng Bôn sê vích Nga- một Đảng kiểu mới của
giai cấp vô sản, một mẫu mực để xây dựng các Đảng mác xít của giai cấp
công nhân. Lênin luôn luôn nhấn mạnh vai trò quyết định của Đảng vô sản
đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, coi đó là đòn bẩy mạnh mẽ,
có khả năng “đảo lộn nước Nga”.
Đầu thế kỷ XX, Việt nam đứng trước cuộc khủng hoảng nghiêm trọng
về đường lối. Trước cảnh “nước mất nhà tan” do bị thực dân Pháp xâm lược,
hàng loạt cuộc đấu tranh chống giặc cứu nước, giành lại độc lập tự do cho dân
tộc đã nổ ra. Tất cả các phong trào cứu nước theo các khuynh hướng, ý thức
hệ khác nhau trước khi có Đảng Cộng sản ra đời đều thất bại, bị dìm trong bể
máu. Tiêu biểu cho ý thức hệ phong kiến là phong trào Cần Vương, dân chủ
tư sản là phong trào của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học...
1
2

C. Mác và Ph. Ănggen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 18, tr. 203.
C. Mác và Ph. Ănggen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 6, tr. 704.



phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”.3
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt nam
là vô cùng quan trọng. Để cách mạng giành thắng lợi cần có những nhân tố khách
quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, dân tộc và thời đại... nhưng nhân tố
quan trọng nhất, “trước hết”, phải có đảng cách mạng. Sau từ “trước hết” ở đây
Hồ Chí Minh dùng chữ “phải” có nghĩa là bắt buộc, tuyệt đối, không có sự lựa
chọn nào khác! Nhiệm vụ của Đảng là “để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc và giai cấp vô sản mọi nơi”.
Đảng ra đời là để lãnh đạo và tổ chức quần chúng nhân dân làm cách
mạng. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp chung của toàn thể dân
chúng chứ không phải việc riêng của một, hai người. Toàn dân ở đây là toàn
thể dân tộc Việt nam, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo...dù họ thuộc
tầng lớp, giai cấp nào nhưng có lòng yêu nước, thương nòi, căm thù bọn đế
quốc tay sai thì họ đều là thành viên của khối đại đoàn kết dân tộc, là lực
lượng của cách mạng, trong đó nòng cốt là công nông. Quan điểm tập hợp lực
lượng này của Hồ Chí Minh đã vượt xa quan điểm của các nhà cách mạng
Việt nam thời kỳ đó. Hơn ai hết Người hiểu rằng để thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ của cách mạng không có cách nào khác là phải dựa vào sức mạnh của nhân
dân. Bởi vì, theo Người, “ Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân,
trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” 4. và
“dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi” .
3
4

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 267- 268.
Hồ Chí Minh: sđd, t.4, tr. 161.


Nhân dân có tiềm năng cách mạng to lớn như vậy, là “gốc cách mệnh”


phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình,
đường lối và định phương châm cho đúng”.6
Cách mạng là một quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài. Hồ
Chí Minh cho rằng sư tử bắt thỏ cũng phải dùng hết sức thì sự nghiệp đấu
tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt nam không chỉ
đòi hỏi phải huy động toàn bộ tài lực, trí lực của dân tộc mà còn phải kiên trì,
lâu dài: “Đời này làm chưa xong đời sau nối tiếp nhau làm thì phải xong”. Sự
nghiệp đấu tranh lâu dài gian khổ đó không tránh khỏi phải hy sinh, mất mát
nên cần đến Đảng lãnh đạo, để chớp thời cơ mà đề ra đường lối thực hiện, đưa
lại thắng lợi cho cách mạng, tránh hiện tượng “chưa nên làm đã làm”, thời cơ
chưa đến nhưng lại hành động theo kiểu tự phát, không có sự tính toán kỹ
lưỡng, không có mưu trước, tính sau. Đồng thời tránh “khi nên làm lại không
làm”, thời cơ đến nhưng lại không biết chớp lấy mà hành động để nó trôi qua
nhanh chóng dẫn đến cách mạng không thể thành công. Nhân dân cần đến
Đảng để chỉ đường vạch lối cho dân, chỉ bảo cách hành động. Đảng có đường
lối đúng đắn, có phương pháp cách mạng thích hợp quyết định đến sự thắng
lợi của cách mạng. Chỉ có Đảng- Đảng cách mạng- mới bảo đảm tính triệt để
của cách mạng, mới đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người đến thắng lợi cuối cùng.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết và cần thiết phải có
Đảng để đề ra đường lối chiến lược, sách lược cho cách mạng - là những vấn
đề then chốt của cách mạng, nó quyết định sự thành bại của cách mạng. Ở
trong nước, Đảng làm nhiệm vụ vận động, giác ngộ, tổ chức dân chúng tập
hợp họ lại trong khối thống nhất để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của cách
mạng. Đảng còn có vai trò đối với quốc tế, là cầu nối giữa cuộc cách mạng
giải phóng đất nước, xây dựng xã hội mới của dân tộc với công cuộc cách
mạng của các dân tộc, các lực lượng tiến bộ trên thế giới để thực hiện mục
6


Hồ Chí Minh: sđd, t.2, tr. 268.

7
8


là Đảng cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, đấu tranh vì sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản. Đảng phải luôn tuân thủ những nguyên tắc của một
đảng kiểu mới: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy
tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển; Đảng phải có kỷ luật sắt và kỷ
luật tự giác; đảng viên phải tuân theo tôn chỉ mục đích của Đảng và hoạt động
trong tổ chức cơ sở của Đảng... Đảng là “người cầm lái”, vị trí vai trò của Đảng là
người lãnh đạo. Muốn vậy Đảng phải tiên phong về mọi mặt, cả chính trị, tư
tưởng, tổ chức...cán bộ, đảng viên của Đảng phải gương mẫu về đạo đức lối
sống...
Yếu tố tiên quyết để làm nên sự vững mạnh của Đảng là lý luận cách
mạng. Lý luận đó phải trở thành chủ nghĩa của Đảng, nó soi sáng cho mọi
hành động của Đảng, nó quyết định năng lực trí tuệ, trí thông minh và tài thao
lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng, nó làm cho sự lãnh đạo của Đảng
trở thành một khoa học và một nghệ thuật. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng
phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng
như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính
nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”9.
Nhờ có “chủ nghĩa làm cốt”- chủ nghĩa Mác-Lênin - mà Đảng trong
sáng về tư tưởng, thống nhất ý chí và hành động, đề ra và thực hiện thắng lợi
đường lối, nhiệm vụ chính trị là lãnh đạo và phục vụ nhân dân. Do vậy mà


Hồ Chí Minh: sđd, t5, tr. 249.
Hồ Chí Minh: sđd, t5, tr. 249.
Hồ Chí Minh: sđd, t6, tr.175.


vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin về sự ra đời của Đảng Cộng sản
vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt nam, dẫn đến sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt nam. Đó là sự kết hợp không những chủ nghĩa Mác-Lênin với
phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước Việt nam. Sự kết hợp
đó quyết định bản chất cách mạng và khoa học của Đảng ta, trong dó bao gồm
những thuộc tính cơ bản: bản chất giai cấp công nhân, tính chất nhân dân và
tính dân tộc. Do vậy nó trở thành một tổ chức đại biểu trung thành cho lợi ích
của giai cấp và của cả dân tộc, cho cả trước mắt lẫn lâu dài của đất nước trong
sự vận động, phát triển, tiến hoá hợp quy luật của lịch sử nhân loại.
Đảng mạnh là bởi cái nền tảng của nó vững chắc. Vì vậy, Hồ Chí Minh đặc
biệt quan tâm đến xây dựng chi bộ, các tổ chức cơ sở của Đảng và đảng viên.
Hồ Chí Minh viết: “Đảng là gì? Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên do
mỗi chúng ta lớn lên”. Do đó phải coi trọng xây dựng Đảng từ mỗi đảng viên.
Phải coi trọng công tác phát triển Đảng, phải chọn lọc đảng viên một cách hết
sức cẩn thận. Phải chăm lo giáo dục đảng viên để họ ở đâu, làm bất cứ việc gì
cũng đều phát huy được tính tiền phong gương mẫu đối với quần chúng.
“Đảng viên đi trước làng nước theo sau” phải được coi là một tiêu chí cơ bản
nhất trong việc xem xét tư cách của người đảng viên cộng sản. “Đảng không
phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của
người đảng viên”. Cái chất của người đảng viên là vào Đảng để “lãnh đạo
nhân dân” mà “lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân và phải làm cho tốt”.
Đảng viên, cán bộ phải là người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Họ
không những phải có trí, có dũng, có mưu mà còn phải biết cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư. Đó là những người vừa phải có tài lại vừa phải có đức,


13

Hồ Chí Minh: sđd, t12, tr. 438-439.


hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của
cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”14.
Theo Hồ Chí Minh: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” 15. “Công
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” 16. Uy tín, vai trò và
việc thực hiện nhiệm vụ của Đảng gắn liền với cán bộ và công tác cán bộ. Do
đó, Đảng phải biết lựa chọn cán bộ, huấn luyện họ kỹ càng, phải hiểu cán bộ,
nuôi dạy, đối đãi, sử dụng, cất nhắc, thương yêu, phê bình cán bộ. “dụng nhân
như dụng mộc”, vì việc mà dùng người, phải trọng nhân tài, trọng mỗi người
làm việc có ích cho nhân dân.
Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân. Đảng vĩ đại là ở nơi Đảng biết
tìm thấy sức mạnh từ trong nhân dân, vì nhân dân mà làm việc, đủ năng lực
dẫn dắt nhân dân biết “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Đảng ra đời và tồn
tại không có mục đích nào khác hơn là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Nhân dân là tối thượng, là sức mạnh, vì vậy, Đảng phải xây dựng mình thành
một tổ chức chính trị gắn bó máu thịt với nhân dân, phải làm đầy tớ thật trung
thành của nhân dân, nghĩa là lãnh đạo và phục vụ nhân dân. Và như vậy, mị
dân, theo đuôi quần chúng, quan liêu, dối trá, cửa quyền, hống hách với dân
hay trù dập quần chúng đều trái với tư cách của người đảng viên, làm tổn hại
đến Đảng. Hồ Chí Minh căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân
thì dân mới yêu ta, kính ta”17. Hồ Chí Minh còn nói: Đảng ta vĩ đại vì nó bao
trùm cả nước, đồng thời nó gần gụi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta.
Từ quan hệ gốc ấy Đảng sẽ giải quyết tốt các mối quan hệ khác: Đảng và
Nhà nước; Đảng với các đoàn thể nhân dân; Đảng với các giai cấp, tầng lớp trong

mất đi, mà trái lại, càng tăng lên. Đảng là người khởi xướng, lãnh đạo, tổ
chức và cũng là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của đời sống nhân dân, về
vận mệnh của đất nước, của dân tộc. Hồ Chí Minh nói: “Dân không đủ muối,
Đảng phải lo. Dân không có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng
phải lo. Các cháu bé không có trường học, Đảng phải lo. Tôi lo chuyện này
lắm: các cháu mắt choẹt, da bủng. Tất cả mọi việc, Đảng phải lo. Việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đấu tranh giành thống nhất nước
nhà, Đảng phải lo. Ngay đến cả tương, cà, mắm muối của dân, Đảng đều phải


lo”18. Để giữ vững vai trò và địa vị lãnh đạo Đảng phải tự nâng mình lên. Bởi
vì, Đảng không thể tự nhận hoặc yêu cầu nhân dân hay các tổ chức trong xã
hội thừa nhận quyền lãnh đạo của mình “mà phải tỏ ra là một bộ phận trung
thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác
hàng ngày khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng
lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng cảnh báo về những nguy cơ đối với Đảng cầm quyền; những
căn bệnh mà khi Đảng cầm quyền dễ mắc phải, nguyên nhân và tác hại của nó,
đồng thời chỉ ra cách chữa trị. Những lỗi lầm chính, đó là: trái phép, cậy thế, hủ
hoá, tư túng, chia rẽ..., những căn bệnh như bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh
hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh hữu danh vô
thực, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị, bệnh quan liêu, bệnh mệnh lệnh, tham ô, lãng
phí... Đáng tiếc là những cảnh báo của Hồ Chí Minh có từ rất sớm song có những
căn bệnh trong thời điểm hiện nay vẫn đang nảy nở với mức độ nghiêm trọng, việc
chữa trị, ngăn chặn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng “trước hết phải có Đảng
cách mạng” cho ta thấy rằng: Đảng ra đời là một tất yếu khách quan, do đòi
hỏi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng một xã hội mới
tự do, ấm no, hạnh phúc cần phải có lực lượng lãnh đạo. Chính từ đòi hỏi
khách quan ấy mà phải thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh.

tư tưởng kết hợp chặt chẽ với tổ chức, dựa vào quần chúng và tạo điều kiện
cho quần chúng tham gia có hiệu quả công tác chỉnh đốn Đảng.
Đến đây, từ trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng “trước
hết phải có Đảng cách mạng” có thể rút ra hai kết luận:
- Đảng Cộng sản Việt nam giữ vai trò lãnh đạo cách mạng Việt nam là
một tất yếu khách quan. Sự lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với
thắng lợi của cách mạng Việt nam.


- Đảng phải luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình cũng là
một tất yếu khách quan.
Thực tiễn cách mạng Việt nam đã chứng minh tư tưởng của Hồ Chí
Minh về cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mạng”, là hoàn toàn đúng
đắn. Trước khi có Đảng ra đời, lịch sử nước ta kể từ khi thực dân Pháp xâm
lược đã ghi lại rất nhiều cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân ta chống giặc
cứu nước nhằm giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Nhưng tất cả các cuộc
đấu tranh đó đều đã thất bại do chưa có đường lối cứu nước đúng đắn, chưa
có một Đảng cách mạng đủ sức lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Ngày 32 1930 Đảng Cộng sản Việt nam ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử
nước ta. Nó chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt nam ở trong tình trạng “đen tối
như không có đường ra”, chấm dứt thời kỳ bế tắc, khủng hoảng về đường lối
cứu nước suốt hơn hai phần ba thế kỷ từ khi thực dân Pháp xâm lược. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi cách mạng tháng Tám
năm 1945 lập nên Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước công
nông đầu tiên ở Đông nam á. Cũng chính nhờ có sự lãnh đạo của Đảng mà
sức mạnh của dân tộc Việt nam được khơi dậy và nhân lên mạnh mẽ, đặc biệt
được thể hiện rõ nét trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược. Không chỉ có sức mạnh bên trong được phát huy mà với
đường lối đối ngoại đúng đắn Đảng đã kết hợp được sức mạnh dân tộc với
sức mạnh của thời đại. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vững vàng chèo lái
con thuyền cách mạng Việt nam vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, có

Đảng thực sự “cách mạng”, ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ trong thời kỳ
phát triển mới của đất nước đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh
đốn nâng cao hơn nữa sức chiến đấu, năng lực và vai trò lãnh đạo của mình.
Đây là công việc đầu tiên, quan trọng nhất trong các chương trình nghị sự của
các Đại hội Đảng gần đây.


Đại hội lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: “Điều cốt yếu để công cuộc đổi mới
giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa đi đến thành công là trong quá trình đổi
mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội. Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn,
không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình”19.
Đến Đại hội VIII, trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta nhấn mạnh
phải tăng cường vai trò lãnh đạo của mình, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ
then chốt. Đảng khẳng định: “Ngăn chặn khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh
đạo của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trình độ và hiệu quả
lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội”20.
Đại hội IX của Đảng xác định, trong những năm tới, toàn Đảng tiếp tục
thực hiện các nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là nghị quyết TW VI lần 2
(khoá VIII) và: “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước” 21, “nâng cao tính chiến
đấu, khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại, buông lỏng vai trò lãnh đạo” 22 ở các
đảng bộ, chi bộ cơ sở.
Trong bối cảnh hiện nay, chủ nghĩa đế quốc, các thế lực phản động và
những kẻ thù của chủ nghĩa xã hội đang ra sức chống phá ta về mọi mặt, trong
đó chúng tập trung mũi nhọn tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản, đặc biệt gay gắt và quyết liệt là từ sau thất bại của các Đảng Cộng sản ở
Liên xô và Đông Âu. Chúng tấn công trước hết vào nền tảng tư tưởng của
Đảng, vào nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ, vào đội
Đảng Cộng sản Việt nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.

hiện nay để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng cần tập trung làm
tốt những nội dung chủ yếu sau:
1- Nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững và tăng cường bản chất giai
cấp công nhân của Đảng.
2- Giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng, thực hiện nghiêm nguyên
tắc tập trung dân chủ.
3- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa.


4- Xây dựng Đảng trong sạch, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, chống
quan liêu, xa rời quần chúng.
Bản lĩnh chính trị tạo nên sức chiến đấu của Đảng. do đó, mỗi đảng
viên phải rèn luyện bản lĩnh chính trị, đây là một yêu cầu trong công tác xây
dựng Đảng. Bản lĩnh chính trị của Đảng đó là sự vững vàng, kiên định con
đường cách mạng đã lựa chọn trên cơ sở nắm vững và vận dụng đúng đắn,
sáng tạo các quy luật khách quan, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần độc lập tự chủ,
tự lực tự cường, trong những bước ngoặt khó khăn nhất không dao động, chán
nản hay sa vào tuyệt vọng. Đó là ý chí, niềm tin không gì lay chuyển và quyết
tâm biến những mục tiêu cách mạng thành hiện thực.
Giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng nhất thiết phải:
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ
tình huống khó khăn nào cũng không dao động, xa rời mục tiêu đó.
- Kiên định và vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát đầy đủ từ thực tiễn Việt nam. Trên
cơ sở đó xây dựng đường lối, chủ trương và các chính sách đúng đắn.
- Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tạp thể lãnh đạo, cá nhân
phụ trách, thường xuyên tự phê bình, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng.
- Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ
chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo quan
điểm giai cấp của giai cấp công nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status