Đề tài: “Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và ý nghĩa của nó trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay” potx - Pdf 15



Luận văn tốt nghiệp Đề tài“Quan hệ biện chứng giữa lực
lượng sản xuất với quan hệ sản
xuất và ý nghĩa của nó trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta hiện nay”
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
1

Lời mở đầu

Từ Đại hội Đảng VI (1986) Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ cần phải
đổi mới nền kinh tế đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng Xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1992
đờng lối đó đã đợc cụ thể hoá.
Khi nghiên cứu xã hội T bản Các Mác phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản
của xã hội T bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế
độ chiếm hữu t nhân T bản chủ nghĩa, mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy

hiện trên hành tinh đã trải qua năm phơng thức sản xuất. Đó là: Cộng sản
nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội t bản chủ nghĩa. T
duy nhận thức của con ngời không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian
ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển
trong sản xuất. Lịch sử phát triển của sản xuất trong xã hội loài ngời là lịch
sử phát triển của các phơng thức sản xuất kế tiếp nhau. Phơng thức sản xuất
là sự thống nhất biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, là
cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lợng sản xuất đạt đến
một trình độ nhất định, thống nhất với quan hệ sản xuất tơng ứng với nó.
Phơng thức sản xuất vừa là hạt nhân đồng thời vừa là động lực thúc đẩy và
quy đinh mọi mặt của đời sống xã hội. Không thể thúc đẩy sự tăng trởng của
nền kinh tế nếu không hiểu biết về cách thức sản xuất và không có những biện
pháp tối u tác động nhằm hoàn thiện phơng thức sản xuất mà cụ thể chính
là hoàn thiện mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản
xuất đã đợc Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng
định rằng lực lợng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và
ngợc lại, có thể thúc đầy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Xã hội ngày càng phát triển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực
lợng sản xuất là không thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển
và là một trong những quy luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển và
tiến bộ xã hội. Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên việc nghiên cứu quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới chủ
nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến hành hôm nay. Chúng ta đã có những bài
học đắt giá, đó là sự sai lầm khi xây dựng nhiều yếu tố của quan hệ sản xuất
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1

gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của khoa học kỹ thuật. Nó là kết
quả của rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng và trực tiếp nhất là trí tuệ của
con ngời đợc nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trớc đó.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
4

Trình độ phát triển của t liệu lao động mà trong đó đặc biệt là công
cụ sản xuất là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, đồng thời
đó cũng là cơ sở xác định trình độ của sản xuất và là tiêu chuẩn đánh giá sự
khác nhau giữa các thời đại kinh tế , các chế độ chính trị xã hội.
Song nhân tố quyết định của lực lợng sản xuất phải nói tới nhân tố
ngời lao động. Lênin đã nói: Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân
loại là công nhân, là ngời lao động [V.I. Lenin Toàn tập, tập 38_ nhà xuất
bản Tiến bộ_ Matxcơva_ năm 1977_ trang 430]. Dù t liệu sản xuất có đối
tợng lao động phong phú, giàu có đến mức nào, có t liệu lao động tinh xảo
và hiện đại đến đâu chăng nữa nhng nếu tách khỏi ngời lao động thì cũng
không phát huy đợc tác dụng tích cực của nó. Trong lịch sử đã và sẽ không
tồn tại một hình thức sản xuất vật chất nào mà lại không có nhân tố con ngời.
C.Mac và Ph.Ăng-ghen đã viết: Bản thân con ngời bắt đầu đợc phân biệt
với súc vật ngay khi con ngời bắt đầu sản xuất ra những t liệu sinh hoạt
[C.Mac và Ph.Ăng-ghen tuyển tập, tập 1_ Nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm
1980_ trang 268]. Con ngời là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản
xuất xã hội. Sản xuất suy đến cùng là để tiêu dùng, không có tiêu dùng thì
cũng không có sản xuất nhất là trong điều kiện ngày nay, khi công cuộc cách
mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ thì vị trí trung tâm của con
ngời ngày càng đợc nhấn mạnh. Ngời lao động với t cách là một bộ phận
của lực lợng sản xuất xã hội phải là ngời có sức lực (sức khoẻ), kĩ năng lao
động , tri thức khoa học , tri thức công nghệ và cả tính nhân văn ( bao hàm cả

chẽ với nhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả t
liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng đợc tăng trởng, thúc đẩy tái
sản xuất mở rộng, nâng cao phúc lợi ngời lao động. Vì vậy không nên tuyệt
đối hoá bất kỳ một mặt quan hệ nào mà phải chú ý đến tính đồng bộ của cả ba
mặt quan hệ trong quan hệ sản xuất.
Nh vậy tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại
khách quan độc lập hoàn toàn với ý thức của con ngời. Mác đã chỉ ra rằng
trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con ngời có những quan hệ
nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ. Tức là những quan hệ
sản xuất này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lợng sản
xuất vật chất của họ. Vì vậy con ngời không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ
sản xuất riêng cho mình, bởi vì chúng luôn luôn là kết quả phát triển tất yếu
khách quan của một lực lợng sản xuất hiện có tơng ứng với nó.

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
6

c) Quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
* Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc,
con ngời không ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản
xuất mới ngày càng tinh xảo và hiện đại. Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ,
tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng kỹ xảo của
ngời lao động cũng ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của lực
lợng sản xuất âý, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, sự phù hợp đó là
động lực làm cho lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Lực lợng sản xuất
là nội dung, là phơng thức còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó.

lợng sản xuất chủ yếu của xã hội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc
hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa khọc và
kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan
hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản
xuất là một hệ thống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan
hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới
trở thành động lực thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
* Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất:
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
làm hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Vậy thế nào là phù hợp : Có thể khái quát ở một số nội dung chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, cả ba mặt của quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất,
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Thứ hai, quan hệ sản xuất phải tạo đợc điều kiện sử dụng và kết hợp
tối u giữa t liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm thực hiện tái sản xuất mở
rộng.
Thứ ba, mở ra những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất,
tinh thần đối với ngời lao động.
Lịch sử xã hội loài ngời với các phơng thức sản xuất kế tiếp nhau
đã chứng minh quy luật kinh tế đó chi phối lịch sử phát triển của các phơng
thức sản xuất, đồng thời cũng trực tiếp tác động tới sự vận động của mỗi
phơng thức sản xuất.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
8

những khả năng phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất, nó đã tạo ra cho nhân
loại một khối lợng của cải vật chất bằng tất cả các xã hội trớc đó cộng lại.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
9

Song bản thân tính chất xã hội hoá ngày càng cao của phơng thức sản xuất t
bản chủ nghĩa gắn liền với lao động tập thể của đội ngũ giai cấp công nhân
hùng mạnh, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt với chế độ chiếm hữu t nhân t
bản chủ nghĩa. Mặc dù giai cấp t bản sử dụng mọi biện pháp nhằm củng cố,
duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu của mình, nhng tất yếu khách quan, tính chất
xã hội hoá của lực lợng sản xuất sẽ dẫn đến xung đột với quan hệ sản xuất
hiện có của nó. Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa sẽ bị thay thế bởi quan hệ
sản xuất mới, tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của lực lợng sản xuất:
quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu tiên của nó là chủ
nghĩa xã hội.
Nh vậy sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một giới hạn nhất
định sẽ bộc lộ mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất. Những
quan hệ ấy từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để bảo vệ, để phát triển các lực
lợng sản xuất thì giờ đây trở thành lực lợng kìm hãm sự phát triển ấy. Nó
đòi hỏi phải đợc thay đổi cho phù hợp (tạo ra hình thức mới). Sự thay đổi
quan hệ ấy không phải một cách tự nhiên mà bao giờ cũng đợc thực hiện
thông qua một cơ chế về mặt pháp luật, chính trị. Nó đợc thực hiện thông qua
những cuộc cải cách kinh tế, cách mạng, chính trị, pháp luật kinh tế .
2. Vận dụng nguyên lí triết học để giải quyết vấn đề:
a) Thực trạng:
* Các quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất của Việt Nam trong
lịch sử.
Không nằm ngoài quy luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và

sức vận động gần nh cỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát
triển quy mô nông trờng quốc doanh, các nhà máy, xí nghiệp lớn mà không
tính đến trình độ lực lợng sản xuất đang còn thời kỳ quá thấp kém. Chúng ta
đã tạo ra những quy mô lớn và ngộ nhận là đã có quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa và còn nói rằng: mỗi bớc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan
hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lợng sản xuất
mới. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có khả năng vợt trớc mở đờng
cho sự phát triển của lực lợng sản xuất. Thực tế nhiều năm qua đã chứng
minh quan điểm đó là sai lầm bởi quan hệ sản xuất bị thúc đẩy lên quá cao,
quá xa một cách giả tạo đã làm cho nó tách rời với trình độ thấp kém của lực
lợng sản xuất.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
11
Phải thấy rằng quan hệ sở hữu thể hiện trong việc xoá bỏ tất cả chế
độ t hữu, thiết lập công hữu về t liệu sản xuất không phải chỉ thời gian ngắn
là xong. Nhng dẫu có làm đợc thì cũng không phải là mục tiêu trớc mắt
của nớc ta khi mà chế độ công hữu này cha thể phù hợp với lực lợng sản
xuất hiện có. Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội t bản, C.Mac và
Ph.Ăng-ghen đã phát hiện ra mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất
với chế độ chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa
làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã
hội t bản. Từ đó các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu t
nhân t bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế ấy, theo quan
điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trình
lâu dài. Tuy nhiên lúc đó các ông vẫn cha chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ
công hữu. Sau đó, khi vận dụng một cách sáng tạo t tởng của C.Mac và
Ăng-ghen vào điều kiện cụ thể của nớc Nga, V.I.Lenin cũng khẳng định con
đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nớc lạc hậu cha qua t bản phải

quan nóng vội nh trớc đây, nghĩa là phải cải tạo và củng cố quan hệ sản
xuất nhng gắn liền với sự phát triển của lực lợng sản xuất. Đại hội VII của
Đảng cũng chỉ rõ:" phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất, thiết lập
từng bớc quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về
hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc" [Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội_ Nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm 1991_trang 9-10]
Cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất nhng bao giờ cũng phải gắn liền
với sự phát triển của lực lợng sản xuất, và đợc đảm bảo bằng sự phát triển
của lực lợng sản xuất. Đó là điều kiện cơ bản cho cuộc cách mạng quan hệ
sản xuất phát triển vững chắc. Với trình độ của mình lực lợng sản xuất yêu
cầu phải có những quan hệ sản xuất phù hợp với nó mới có thể bộc lộ hết khả
năng của mình và mới có khả năng phát triển nhanh chóng. Tơng ứng với
mỗi trình độ lực lợng sản xuất đòi hỏi một quan hệ sản xuất, một thành phần
kinh tế nhất định nh Ph.Ăng-ghen viết :" giai cấp T sản không thể biến
những t liệu sản xuất có tính chất hạn chế ấy thành những lực lợng sản xuất
mạnh mẽ đợc nếu không biến những t liệu sản xuất của cá nhân thành
những t liệu sản xuất có tính chất xã hội, mà chỉ một số đông ngời cùng làm
mới có thể s dụng đợc" [Ph.Ang-ghen Chống đuy rinh_ nhà xuất bản Sự
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
13
thật_ Hà Nội_ năm 1971_trang 455]. Kết hợp từng u thế riêng của từng thành
phần kinh tế thông qua phân cônglao động xã hội là con đờng hiệu quả nhất
để phát triển lực lợng sản xuất, qua đây ta cũng thấy rõ vấn đề cơ bản là làm
thế nào để quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất.
Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta luôn luôn

kinh tế, xã hội phát triển nhanh. Cơ cấu kinh tế có bớc chuyển dịch tích cực
Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp
và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1% [Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX_ nhà xuất bản Chính Trị Quốc
Gia_ Hà Nội_ năm 2001_ trang 149-150].
Mặt hạn chế:
Bên cạnh những u điểm trên không thể không nhắc đến một số hạn
chế vẫn còn tồn tại. Đó là việc chuyển sang cơ chế thị trờng còn có nhiều
mặt thiếu nhất quán đặc biệt trong tài chính tiền tệ, quản lý còn lỏng lẻo, đội
ngũ cán bộ cha theo kịp với yêu cầu của thị trờng mới, vai trò của Nhà nớc
trong quản lý hoạt động đời sống kinh tế xã hội còn yếu. Trong lĩnh vực kinh
doanh, nhà nớc cha tạo đợc động lực khuyến khích nâng cao năng suất.
Ngời lao động cha có động lực thờng xuyên và cha cảm thấy có sự gắn
bó đối với sản xuất kinh doanh và quá trình phát triển của doanh nghiệp. Tình
trạng lạm dụng kinh doanh còn nhiều, thị trờng vốn còn chậm phát triển, lãi
suất cha phù hợp với kinh tế thị trờng dẫn đến hạn chế đầu t.
Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Hệ thống tài chính,
ngân hàng, kế hoạch đổi mới chậm, chất lợng hoạt động hạn chế; môi trờng
đầu t, kinh doanh còn nhiều vớng mắc, cha tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho
các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh [Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX_ nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia_ Hà Nội_ năm
2001_ trang154].
b) Việc vận dụng nguyên lý quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất ở nớc ta tập trung giải quyết các vấn đề
sau:
* Phát triển lực lợng sản xuất:
Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm phát triển t liệu sản xuất:
Chúng ta đều biết rằng, từ trớc đến nay, công nghiệp hoá - hiện đại
hoá là khuynh hớng phát triển tất yếu của các nớc. Đối với nớc ta, từ một
nền kinh tế tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, nhanh chóng đạt

việc phát huy nhân tố con ngời là vấn đề đang rất đợc coi trọng hiện nay.
Chúng ta chủ trơng tiếp tục nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện, đổi mới
nội dung, phơng pháp dạy và học, hệ thống trờng lớp và hệ thống quản lý
giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá , xã hội hoá. Chăm lo phát triển
giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo. Củng cố thành tựu
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
16
xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục
trung học cơ sở, tạo điều kiện cho những địa phơng có khả năng hoàn thành
sớm việc phổ cập giáo dục bậc trung học, phát triển đa dạng các loại hình
trờng phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đồng thời
mở rộng hợp lý quy mô giáo dục đại học.
* Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất: quan hệ sản xuất mới theo
định hớng xã hội chủ nghĩa: xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần.
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nớc ta
không còn là nền kinh tế t bản, nhng cũng cha hoàn toàn là nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Bởi vậy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải chú ý đến đặc
điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần. Trong cải
tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới, đại hội VI đã nhấn
mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba mặt: xây dựng chế độ sở hữu, chế độ quản
lý và chế độ phân phối, không chỉ nhấn mạnh việc xây dựng chế độ công hữu,
coi đó là cái duy nhất để xây dựng quan hệ sản xuất mới. Điều đó lại tiếp tục
đợc làm rõ trong Đại hội IX: Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật
đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị truờng định hớng
xã hội chủ nghĩa , cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh;
trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nớc cùng với kinh
tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
18
Kết luận

Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời là lịch sử thay đổi các phơng
thức sản xuất kế tiếp nhau, đợc bắt đầu từ sự thay đổi lực lợng sản xuất. Lực
lợng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất còn quan hệ sản xuất là hình
thức của quá trình sản xuất ấy, do đó nó thờng mang tính ổn định hơn. Song
sự ổn định đó cũng chỉ là tạm thời và sớm muộn cũng đòi hỏi phải đợc thay
đổi khi không còn phù hợp. Quan hệ sản xuất ra đời từ lực lợng sản xuất,
nhng khi ra đời nó cũng có vai trò tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất.
Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất thì nó sẽ trở thành động lực thúc đầy, định hớng và tạo điều
kiện cho lực lợng sản xuất phát triển. Ngợc lại, nêú lạc hậu hơn so với tính
chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất thì nó sẽ là xiềng xích kìm
hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Quy luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất
đợc Mác phát hiện ra đã vận động, phát triển trong thực tế Cách mạng và
trong nhận thức khoa học, là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế xã
hội, vạch ra tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào sự phát
triển của lực lợng sản xuất. Qua đó có thể thấy rõ từ sản xuất nhỏ đi lên chủ
nghĩa xã hội chúng ta vẫn phải tuân theo một cách nghiêm khắc quy luật
C.Mác đã phát hiện. Có thể kết luận rằng: Các dân tộc,các quốc gia có thể bỏ
qua hoặc rút ngắn một giai đoạn lịch sử của mình nhng không thể bỏ qua
đợc quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lợng sản xuất.
Trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, do quá nóng vội và chủ
quan duy ý chí mà chúng ta đã vấp phải một số sai lầm khi đa quan hệ sản

tế thị trờng định hớng Xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nớc ta, nhà nớc cần
đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lên một cơ chế để tạo ra sự kết
nối giữa sở hữu t nhân với sở hữu công cộng, đó chính là hình thức sở hữu cổ
phần. Có thể coi hình thức sở hữu cổ phần là quấ độ từ sở hữu t nhân lên sở
hữu công cộng.
Hiện nay, đã có nhiều sinh viên phàn nàn họ phải học quá nhiều kiến
thức nhng khi ra trờng không đợc áp dụng là bao nên thờng không hứng
thú trong học tập. Đó là một hiện tợng khá phổ biến hiện nay, song thực ra
điều đó chỉ đúng với địa vị của một ngời xác định sẽ đi làm thuê. Nếu suy
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
20
nghĩ một chút về trách nhiệm của một ngời chủ nhân tơng lai của đất nớc,
nếu coi mình là một trong những ngời có trách nhiệm tạo ra công ăn việc làm
và sử dụng lực lợng lao động để tạo ra của cải vật chất sau này thì sẽ nhận ra
những kiến thức mình đang học là vô cùng quí giá, nó vẫn còn thật nhỏ bé
trong hành trang bớc vào tơng lai. Chỉ khi có những suy nghĩ nh vậy thì
ngời sinh viên mới thực sự xác định đợc phơng hớng học tập đúng đắn
cho bản thân, chủ động nghiên cứu tìm tòi những điều hay điều mới, tạo đợc
hứng thú học tập cho mình. Thiết nghĩ đó cũng là một hớng đi đúng đắn và
tất yếu để phát triển nhanh lực lợng sản xuất hiện nay ở nớc ta.

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Văn Hữu Tài Lớp CNIK5D1
21Danh mục tài liệu tham khảo

22
T¹p chÝ TriÕt häc- sè 6 (133) th¸ng 6/2002
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status