Chương 4
PHÒNG CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM
I. Các phương pháp phòng bệnh truyền nhiễm
1. Nguyên tắc chung của công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm
Nguyên lý công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm là vận dụng những kiến
thức về ba pha của chu trình truyền lây mầm bệnh và các giai đoạn của quá trình sinh
dịch vào công tác thực tiễn.
Bệnh truyền nhiễm xảy ra được là do ba khâu của quá trình sinh dịch: nguồn
bệnh, các nhân tố trung gian truyền bệnh và động vật cảm thụ, và sự liên hệ giữa ba khâu
đó. Thiếu một trong ba khâu hoặc thiếu sự liên hệ giữa hai trong ba khâu đó thì dịch
không xảy ra được.
Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là xuất phát điểm của quá trình sinh
dịch. Nhân tố trung gian truyền bệnh nối liền nguồn bệnh với cơ thể cảm thụ làm cho quá
trình sinh dịch thực hiện thuận lợi. Động vật cảm thụ là yếu tố làm cho dịch biểu hiện ra,
đồng thời nó lại biến thành nguồn bệnh làm cho quá trình sinh dịch được nhân lên, được
thúc đẩy mạnh hơn.
Trên cơ sở phân tích vai trò và sự liên hệ giữa các khâu trên, công tác phòng
chống bệnh truyền nhiễm phải nhằm thực hiện cho được việc xóa bỏ một hoặc nhiều
khâu, hoặc cắt đứt sự liên hệ giữa các khâu với nhau trong quá trình sinh dịch. Chỉ cần
cắt đứt một khâu hoặc cắt đứt sự liên hệ giữa những hai khâu, cũng đủ làm cho quá trình
sinh dịch không thực hiện được. Đó là nguyên lý cơ bản của mọi biện pháp phòng chống
bệnh. Đương nhiên, chỉ giải quyết được một cách căn bản việc đó khi nhận thức của con
người được nâng cao.
Khi chưa có dịch các biện pháp phòng bệnh truyền nhiễm đều nhằm đề phòng
dịch xuất hiện. Chủ chăn nuôi, chủ động vật chuyên chở phải chấp hành các yêu cầu thực
hiện các biện pháp phòng dịch được quy định trong Pháp lệnh thú y, các Nghị định thi
hành Pháp lệnh và Điều lệ phòng chống dịch bệnh cho động vật, trong đó việc xây dựng
vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh là trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức và cơ quan quản
lý nhà nước liên quan ngành chăn nuôi. Các cá nhân và tổ chức chăn nuôi động vật phải
đăng ký xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật và phải chấp hành các quy định
của pháp luật về thú y đối với vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật. Các tổ chức, cá
truyền lây và đối với động vật mẫn cảm.
2. Đối sách đối với nguồn bệnh
2.1. Với vật mang trùng
Đối với nguồn bệnh phải tiêu diệt hoặc hạn chế nguồn bệnh gieo rắc mầm bệnh ra
ngoài. Khi chưa có dịch phát ra, nguồn bệnh chỉ có thể là những vật mang trùng. Khi đó,
đối với vật mang trùng cần phải thực hiện các biện pháp dưới đây.
Phát hiện sớm, chủ động và tích cực. Phải có kế hoạch định kỳ phát hiện vật
mang trùng. Phát hiện động vật mang trùng rất khó. Có thể dùng phương pháp vi sinh vật
học để xét nghiệm các chất bài tiết, bài xuất,... nhưng kết quả thường không chắc chắn vì
con vật mang trùng chỉ bài xuất mầm bệnh một cách định kỳ. Có thể dùng phương pháp
huyết thanh học phát hiện kháng thể và kháng nguyên đặc hiệu trong một khoảng thời
gian nhất định. Tuy nhiên, cần chú ý rằng các phản ứng huyết thanh học phát hiện kháng
thể tuy dễ thực hiện nhưng kết quả thường khó giải thích. Phát hiện kháng nguyên đặc
hiệu thường dễ giải thích hơn nhưng việc thực hiện thường khó hơn do phản ứng thường
có độ nhạy thấp hơn và sự bài xuất mầm bệnh (kháng nguyên) từ vật sống mang trùng
không phải khi nào cũng xảy ra. Mầm bệnh có thể phát hiện một cách tương đối chắc
chắn hơn nhờ phương pháp chẩn đoán dị ứng đối với những bệnh có phản ứng dị ứng như
lao, tỵ thư, sẩy thai truyền nhiễm,... Phương pháp cho kết quả nhanh và nhạy hơn cả là
các phương pháp phân tích axit nucleic đặc hiệu mầm bệnh (PCR, RT-PCR, PCR-
RFLP,...) nhưng cũng còn nhiều trở ngại do sự bài xuất mầm bệnh từ vật mang trùng
không ổn định, xét nghiệm lại đòi hỏi tuyệt đối không được bị ô nhiễm từ những xét
nghiệm cũ trước đó và, vì vậy, thường đắt tiền. Vì vậy, phát hiện kháng nguyên bằng các
phản ứng huyết thanh học trực tiếp từ bệnh phẩm hoặc từ lứa cấy vi sinh vật mầm bệnh
đã được phân lập còn tiếp tục có thể là biện pháp được lựa chọn trong điều kiện hiện nay.
Cách ly triệt để những con vật đã phát hiện có mang trùng. Ở nhiều nước, những
con vật có phản ứng dương với bệnh lao, sẩy thai truyền nhiễm, tỵ thư được tập trung
thành đàn và nuôi riêng trong những trang trại cách ly. Nếu số lượng động vật mang
trùng ít thì có thể giết thịt. Việc cách ly con vật mang trùng với con khỏe ở nước ta còn
gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các cơ sở chăn nuôi tập trung bắt buộc phải có khu
chuồng nuôi cách ly. Nông hộ có thể vận dụng biện pháp cách ly gián tiếp như khi mua
tắc cần tuân thủ đối với dịch bệnh truyền nhiễm là một khi có con vật sốt chưa rõ nguyên
nhân phải nghi là nguồn bệnh truyền nhiễm và phải cách ly. Thà chẩn đoán nhầm một
bệnh không truyền nhiễm là bệnh truyền nhiễm còn hơn là nhầm một bệnh truyền nhiễm
là bệnh không truyền nhiễm. Tuy nhiên, phải dùng mọi biện pháp chẩn đoán đúng bệnh
thì mới đề ra biện pháp chống dịch có hiệu quả, đặc biệt là tránh gây hoang mang không
đáng có và trở ngại sinh hoạt bình thường đối với xã hội liên quan vấn đề xử lý dịch bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm. Phải sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán: lâm sàng, dịch tễ
học và chẩn đoán xét nghiệm.
- Chẩn đoán lâm sàng: Dựa vào triệu chứng lâm sàng điển hình của các bệnh động
vật đã được mô tả trước đây để đối chiếu và quy thuộc mà xác định nguyên nhân của
trường hợp bệnh lý đang tiếp cận. Phương pháp chẩn đoán này dễ nhầm lẫn vì nhiều bệnh
khác nhau có thể có triệu chứng lâm sàng giống nhau hoặc khi ở đầu vụ dịch triệu chứng
bệnh thường không điển hình.
- Chẩn đoán dịch tễ học: Tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện xuất hiện dịch. Cần
phải điều tra kỹ để tìm nguồn bệnh, nguồn lây lan, hoàn cảnh động vật mắc bệnh, lịch sử
cảm nhiễm (trước đó con bệnh đã tiếp xúc với những loại súc vật nào, chăn dắt ở đâu, đã
đi qua những địa phương nào có dịch), điều kiện vệ sinh động vật ra sao, đã tiêm phòng
chưa, tiêm vacxin gì. Ngoài ra, phải tìm hiểu những con vật có tiếp xúc với con bệnh.
Điều tra dịch tễ học kết hợp với những triệu chứng lâm sàng có thể giúp chẩn
đoán bệnh nhưng có khi chưa chắc chắn nên còn phải dùng phương pháp chẩn đoán xét
nghiệm.
- Chẩn đoán xét nghiệm: Nên tiến hành bằng việc phối hợp nhiều phương pháp
khác nhau (vi sinh vật học, huyết thanh học, di truyền học phân tử, sinh vật học,...).
Bệnh phẩm lấy từ động vật bệnh, nghi bệnh hoặc động vật chết phải phù hợp với
yêu cầu xác định bệnh. Cách lấy bệnh phẩm, cách bao gói và gửi bệnh phẩm phải theo
đúng yêu cầu kỹ thuật để bảo đảm không gieo rắc mầm bệnh ra ngoài, bảo đảm an toàn
cho người lấy và bảo đảm chẩn đoán chính xác. Bệnh phẩm phải được gửi đến cơ quan
xét nghiệm càng nhanh càng tốt.
Để xác định một số bệnh truyền nhiễm, cần tiến hành kết hợp các phương pháp
chẩn đoán nói trên.
b. Đối với động vật nghi lây bệnh
Phải điều tra để phát hiện những con tiếp xúc với con bệnh do nuôi chung, chăn
dắt chung hoặc tiếp xúc với sinh vật môi giới và ngoại cảnh chứa mầm bệnh. Trên
nguyên tắc, mọi súc vật có thể nhiễm bệnh (súc vật mẫn cảm) ở trong một ổ dịch đều
phải được coi là con nghi đã bị lây, vì chúng nếu không tiếp xúc với con bệnh thì cũng
tiếp xúc với ngoại cảnh chứa mầm bệnh. Những loại súc vật trên phải được cách ly với
thời gian nung bệnh dài nhất có thể vận dụng. Phải khám nghiệm lâm sàng, xét nghiệm,
tiêm phòng khẩn cấp hoặc điều trị dự phòng và tiến hành tiêu độc thích hợp.
c. Xử lý tình huống dịch bệnh động vật
Khai báo dịch khẩn cấp: Mọi người, trước hết là chủ vật nuôi, tổ chức và cá nhân
chăn nuôi động vật, người áp tải động vật trên đường vận chuyển, đều có nhiệm vụ và có
quyền khai báo dịch bằng mọi phương tiện nhanh chóng nhất với nhân viên thú y, cơ
quan thú y hoặc cơ quan chính quyền gần nhất. Nhân viên thú y và cơ quan thú y khi
được thông báo về tình hình động vật phát bệnh, chết bệnh hoặc có dấu hiệu bệnh thì phải
nhanh chóng chẩn đoán xác định bệnh, nếu xác định bệnh truyền nhiễm thuộc danh mục
bệnh phải công bố dịch thì phải hướng dẫn chủ vật nuôi, chủ sản phẩm động vật thực
hiện các biện pháp xử lý dịch bệnh như không bán, không giết mổ và không vứt động vật,
xác và sản phẩm động vật ra môi trường mà phải cách ly động vật mắc bệnh, bố trí người
chăm sóc động vật, hạn chế lưu thông động vật và sản phẩm động vật, chôn hoặc đốt xác
động vật và chất thải của động vật bệnh, vệ sinh khử trùng cơ sở (chăn nuôi, giết mổ,
phương tiện vận chuyển,...). Nhân viên thú y, cơ quan thú y tùy theo tính chất và mức độ
bệnh dịch mà báo cáo Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp để thực hiện biện pháp phòng
chống dịch bệnh đối với khu vực đó, đồng thời báo cáo cơ quan thú y cấp trên trực tiếp.
Khi được tin ở địa phương có dịch hoặc nghi có dịch thuộc danh mục bệnh phải công bố
dịch, UBND cấp xã phải báo cáo ngay cho UBND cấp huyện biết. UBND cấp huyện phải
cử ngay cán bộ thú y về tận nơi kiểm tra xác minh. Kết quả kiểm tra phải báo cáo lại cho
UBND huyện và Chi cục thú y (hoặc Chi cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú
y thủy sản, nếu bệnh dịch xảy ra ở động vật dưới nước và lưỡng cư) biết để kiểm tra xác
nhận dịch, nếu có dịch thì các cơ quan này quyết định các biện pháp cần thiết để bao vây
và dập tắt dịch, đồng thời phải báo cáo cho sở Nông nghiệp và PTNT và UBND tỉnh hay
Khi ra quyết định công bố dịch, chủ tịch UBND cấp tỉnh phải báo cáo với Bộ
trưởng Nông nghiệp và PTNT, đồng thời báo cáo lên Chính phủ. Khi có quyết định công
bố dịch, chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi có dịch có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các ngành
các cấp phối hợp với các tổ chức xã hội trong địa phương và huy động nhân lực, vật lực
theo pháp luật để thực hiện các biện pháp chống dịch. Việc xác định giới hạn vùng có
dịch và lập vành đai bảo vệ quanh vùng có dịch cũng do UBND cấp tỉnh quyết định và
thông báo cho cấp dưới và các cơ quan hữu quan.
Tùy tính chất và quy mô của dịch mà thành lập Ban chỉ đạo chống dịch cấp xã,
huyện và tỉnh, đồng thời thành lập Ban chống dịch các cấp với thành phần gồm lãnh đạo
chính quyền (phó chủ tịch tỉnh, huyện phụ trách nông nghiệp), lãnh đạo ngành nông
nghiệp (giám đốc hoặc phó giám đốc Sở, trưởng hoặc phó phòng phụ trách nông nghiệp
huyện), đại diện ngành thú y (chi cục trưởng, trạm trưởng, nhân viên thú y xã), đại diện
công an (ủy viên), đại diện quản lý thị trường (ủy viên), có thể có thêm chủ cơ sở chăn
nuôi tập trung, chủ nhiệm hợp tác xã, đại diện ngành y tế và đại diện thông tin tuyên
truyền (các ủy viên). Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, Chi cục thú y
chỉ đạo lực lượng thú y địa phương tham gia chống dịch, chịu trách nhiệm về chuyên
môn kỹ thuật thú y trong công tác chống dịch, đồng thời phải báo cáo diễn biến dịch và
kết quả chống dịch 10 ngày một lần cho UBND cấp tỉnh và Cục thú y cho đến khi hết
dịch.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Thủy sản công bố dịch, chỉ đạo và tổ
chức chống dịch trong trường hợp dịch bệnh động vật thuộc danh mục phải công bố dịch
xảy ra ở hai tỉnh trở lên. Thủ tướng Chính phủ công bố dịch, chỉ đạo và tổ chức chống
dịch khi có dịch bệnh nguy hiểm của động vật có khả năng lây sang người theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT hoặc Bộ Thủy sản.
Pháp lệnh Thú y quy định phòng chống dịch bệnh là trách nhiệm của mọi cấp,
mọi ngành và toàn dân. Ở vùng có dịch trong quyết định công bố dịch phải đặt trạm gác
có lực lượng công an và thú y hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc vận chuyển động vật;
cơ quan nhà nước về quản lý thú y phải đặt biển báo nơi có dịch; trong khu vực có dịch
phải hạn chế việc lưu thông động vật và sản phẩm động vật, vệ sinh tiêu độc khử trùng
chuồng nuôi, vật dùng cho chăn nuôi, chất thải động vật bệnh và môi trường bị ô nhiễm.
Cục thú y (hoặc tương đương đối với thủy sản) và Sở Nông nghiệp và PTNT (hoặc Sở
Thủy sản) và đã được Cục Thú y (hoặc tương đương đối với thủy sản) đồng ý. Chỉ được
công bố hết dịch động vật trên cạn khi có đủ ba điều kiện sau: 1) sau con chết, giết mổ
bắt buộc hoặc con lành bệnh cuối cùng từ 15 đến 30 ngày (dài ngắn tùy loại bệnh, theo
quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT) mà không thấy con nào bị mắc bệnh và chết với
dịch đã công bố nữa, 2) toàn bộ đàn gia súc mẫn cảm ở trong ổ dịch và vành đai bảo vệ
đã được tiêm phòng hoặc áp dụng các biện pháp phòng khác và đủ thời gian miễn dịch
đối với bệnh đó và 3) đã tổng vệ sinh tiêu độc toàn bộ ổ dịch đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú
y.
Đối với dịch trong phạm vi từ hai tỉnh trở lên, Cục Thú y (hoặc tương đương đối
với thủy sản) sau khi kiểm tra đủ điều kiện công bố hết dịch thì đề nghị Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và PTNT (hoặc Bộ Thủy sản) công bố hết dịch, hoặc đối với dịch bệnh
nguy hiểm của động vật có khả năng lây sang người thì báo cáo Bộ Nông nghiệp và
PTNT (hoặc Bộ Thủy sản) để Bộ đề nghị Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch.
3. Đối sách với đường truyền lây
3.1. Khi chưa có dịch
Mầm bệnh lây từ con vật bệnh hoặc mang trùng sang con khỏe bằng nhiều đường
thông qua các tác nhân trung gian truyền bệnh hình thành các con đường truyền lây khác
nhau. Các nhân tố trung gian truyền bệnh có vai trò quyết định trong việc làm bệnh lây
lan. Chúng có thể làm cho dịch lẻ tẻ biến thành dịch lưu hành. Các biện pháp đối với
nhân tố trung gian là giống nhau khi chưa có dịch cũng như khi có dịch và đều nhằm làm
cho chúng không mang mầm bệnh hoặc làm cho mầm bệnh bị tiêu diệt bằng cách tiêu
độc thường xuyên. Đối với những nhân tố trung gian truyền bệnh là sinh vật như động
vật chân đốt và chuột cần thực hiện các biện pháp tiêu diệt chúng hoặc ngăn cản chúng
tiếp xúc với gia súc, gia cầm.
Đối với những bệnh lây qua đường tiêu hóa, cần chú ý đến vệ sinh thức ăn, nước
uống, cấm chăn thả ở các vùng nhiễm mầm bệnh (như nhiễm nha bào nhiệt thán), ở các
bãi chăn hoặc nguồn nước bị nhiễm các chất bài tiết, bài xuất của động vật bệnh, các chất
thải của các xí nghiệp chế biến thú sản, lò giết mổ động vật. Phải giải quyết tốt nguồn
nước uống và nguồn nước tắm rửa. Phải bảo quản tốt các loại thức ăn, thực hiện tốt tiêu
dịch vẫn có thể sử dụng vào mục đích thực phẩm nhưng không được bán ra ngoài ở dạng
chưa chế biến, trong những cơ sở chăn nuôi đó có thể thu hoạch trứng, ngâm khử trùng
khoảng 1 - 2 phút trong dung dịch iốt (iodine) 0,1% rồi chế biến tại chỗ thành trứng
muối. Ở các trại chăn nuôi tập trung nên có nơi chế biến xác chết (trừ bệnh nhiệt thán,
bệnh bò điên và các bệnh nguy hiểm khác có nguy cơ lây sang người) thành mỡ công
nghiệp, bột xương, bột thịt dùng cho công nghiệp hoặc làm phân bón. Biện pháp này giúp
làm giảm lượng chất phế thải phải chôn hoặc đốt một khi có dịch do nông trại không bán
được sản phẩm động vật nên thiếu tiền đầu tư thức ăn để duy trì quy mô đàn. Nếu không
có điều kiện chế biến thì phải chôn sâu giữa hai lớp vôi, chôn xa nguồn nước, bãi chăn,
mạch nước ngầm, chuồng gia súc và nhà ở. Làm tương tự đối với chất bài xuất từ động
vật bệnh và sản phẩm phụ giết mổ tận dụng. Trong trường hợp bệnh nhiệt thán không
được mổ xác dù là với mục đích lấy bệnh phẩm nghiên cứu để tránh sự hình thành nha
bào khi vi khuẩn tiếp xúc với không khí, nhất thiết phải đốt xác, nếu không có nhiên liệu
để đốt thì phải chôn sâu 2 mét, trước khi chôn trên và dưới xác cần đổ vôi chưa tôi, mả
súc vật phải rào lại, đổ bê tông, cắm biển ghi tên bệnh. Khi chuyển xác chết đến nơi chôn
cần tránh làm rơi phân và các chất bài tiết của con vật. Dụng cụ vận chuyển, người vận
chuyển phải được tiêu độc sau khi chôn xác.
Chuồng trại phải quét vôi, nền chuồng cần chèm lửa hoặc rãi vôi bột, phân rác
phải thực hiện dọn tập trung và tiêu độc. Thức ăn thừa phải đốt hoặc chôn, cống rãnh
phải khơi thông và tiêu độc. Nguồn nước rửa, giếng nước nhiễm bẩn phải tiêu độc. Tóm
lại, phải tiêu độc toàn bộ trong ổ dịch.
2.3. Một số biện pháp kỹ thuật cụ thể đối với yếu tố trung gian truyền bệnh
Dưới đây trình bày một số biện pháp cụ thể nhằm cắt đứt yếu tố trung gian truyền
bệnh: tiêu độc và chăn nuôi khép kín.
a. Tiêu độc (tẩy uế)
Tiêu độc nhằm mục đích tiêu diệt mầm bệnh trên các yếu tố trung gian truyền
bệnh (do bị nhiễm từ các chất bài tiết của súc vật bệnh, từ xác súc vật chết bệnh, từ súc
vật mang trùng) và tiêu diệt mầm bệnh ngay trên thân thể súc vật (nhưng không được áp
dụng với vết thương và nội quan động vật). Tiêu độc chỉ có ý nghĩa thực sự khi cùng tiến
hành các biện pháp phòng chống bệnh tổng hợp, vì tiêu diệt mầm bệnh ở ngoại cảnh vẫn
o
C tiêu diệt được hầu hết các loại vi khuẩn không có nha bào trong nửa giờ, đun
sôi diệt được một số vi khuẩn có nha bào sau 15 phút.
Nước đun sôi cho thêm 1 - 2% xút (NaOH) dùng để tiêu độc dụng cụ kim khí, đồ
gỗ, đồ dùng bằng vải (như quần áo). Đun sôi 1 - 2 giờ có thể tiêu diệt được tất cả các loại
mầm bệnh. Trong phòng thí nghiệm người ta còn dùng không khí đun nóng trong các lò
hấp khô (tiêu độc dụng cụ thủy tinh, kim khí,...), dùng hơi nước dưới áp lực trong lò hấp
ướt (hấp cao áp tiệt trùng: tiêu độc môi trường nước, đồ vải, cao su,...), dùng tia tử ngoại
của đèn tử ngoại, dùng phương pháp hấp cách quãng (phương pháp tiệt trùng Pasteur),...
Tiêu độc hóa học là phương pháp được dùng rộng rãi nhất trong thú y. Các chất
hóa học dùng để tiêu độc có điểm chung là có tác dụng một cách toàn bộ, không chọn lọc
lên tế bào vi sinh vật hoặc virion của virut như làm biến chất protein (như formol,
phenol,...), làm kết tủa protein (như muối của kim loại nặng, ethanol,...), tác dụng làm tan
cấu trúc màng tế bào chất (ethanol, ether,...) hoặc tác dụng lên các chất cần thiết cho đời
sống vi khuẩn, biến các chất này thành chất trung gian có tính độc đối với chúng. Hiệu
lực tác dụng của hóa chất phụ thuộc vào tác dụng đặc trưng của chất đó và vào sức đề
kháng của từng loại mầm bệnh đối với chất đó. Hiệu lực tác dụng của hóa chất tiêu độc
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nồng độ, nhiệt độ của dung dịch đang dùng,
nhiệt độ của đối tượng tiêu độc, thời gian tác dụng của thuốc trên đối tượng đó, tính chất
vật lý và hóa học của đối tượng tiêu độc, mức độ ô nhiễm, cũng như bản chất của vi sinh
vật mầm bệnh. Vì vậy, khi dùng, phải chọn chất tiêu độc thích hợp và nắm vững phương
pháp tiêu độc thì hiệu lực tiêu độc mới cao. Các chất hóa học hoàn hảo để tiêu độc phải
đảm bảo các tính chất sau: 1) có khả năng diệt nhiều loại mầm bệnh, 2) ít độc đối với
động vật và người, 3) không làm hỏng dụng cụ, 4) dễ hòa tan trong nước, 5) dễ sử dụng
và 6) rẻ tiền. Tuy nhiên, nhiều tình huống phải lựa chọn những hóa chất tiêu độc không
đủ các tiêu chuẩn nêu trên nên phải chú ý để phòng tránh những tác động bất lợi do hóa
chất tiêu độc mang lại.
Các chất hóa học dùng dưới ba dạng: dạng dung dịch hay huyền dịch, dạng bột và
dạng khí. Dạng dung dịch là dạng dùng phổ biến để lau chùi, rửa, ngâm, phun hoặc tắm.
Những chất dùng dưới dạng này thường là các muối kim loại nặng, các chất kiềm, các
) mất tác dụng diệt
trùng. Vôi có thể dùng dưới dạng bột nhưng tác dụng chậm và kém hơn dạng sữa vôi.
- Nước tro: Thành phần chủ yếu của nước tro nóng là kali carbonat (K
2
CO
3
).
Trong nước, K
2
CO
3
sẽ cho KOH: K
2
CO
3
+ H
2
O → KOH + CO
2
.
KOH có tác dụng tiêu độc như các chất kiềm khác. Thường dùng nước tro nóng
10% cho thêm 0,5% NaOH thì có tác dụng diệt trùng mạnh hơn. Nên dùng tro mới, tro để
quá 3 tháng mất tác dụng diệt trùng.
- Axit sulfuric (H
2
SO
4
): các chất axit là những chất tiêu độc mạnh vì có khả năng
cướp nước của nguyên sinh chất tế bào, làm hòa tan và làm biến tính protein, phân giải
protein tế bào thành albumoz, pepton và axit amin. Tuy nhiên, axit không được dùng phổ
2
O → HCl + HClO (axit hypochlorid)
HClO → HCl + O
Trong nước, HClO và HCl còn tác dụng lẫn nhau để thải khí ClO. Khí ClO tác
dụng với protein vi khuẩn và tàn phá tế bào vi khuẩn, tạo nên proteinat.
Trong môi trường ẩm ướt, khí chlor có tác dụng diệt trùng cao, vì tạo thành axit
hypochlorid và axit chlorhydric. Axit hypochlorid là chất không bền, phân hủy nhanh
thành axit chlorhydric và ôxy nguyên tử có tác dụng ôxy hóa rất cao, làm phá các chất
hữu cơ.
Chlor dùng để tiêu độc chuồng trại, dụng cụ, nước bẩn. Khi dùng chlor phải có
các phương tiện bảo hộ lao động. Tiêu độc xong phải thông khí chuồng rồi mới cho động
vật vào.
- Clorur vôi (hypochlorid calci, Ca(ClO)
2
): là một dạng muối chlor được hình
thành khi sục khí chlor vào nước vôi. Thành phần thường gồm có hypochlorid calci
(Ca(ClO)
2
), chlorur calci (CaCl
2
) và vôi tôi Ca(OH)
2
, có tác dụng diệt nhiều loại vi
khuẩn, cả vi khuẩn có nha bào. Dung dịch 5% tiêu diệt nha bào nhiệt thán sau 3 giờ.
Dùng dung dịch 10 - 20% để tiêu độc chuồng trại, đất, phân, phương tiện vận chuyển
động vật. Dạng bột thường dùng tiêu độc nước tiểu, nước phân và chất bẩn dạng lỏng
khác. Có thể dùng dung dịch chlorur vôi trong.
Chlorur vôi phải chứa trên 25% chlor hoạt tính. Cần phải bảo quản tốt như đựng
trong bình kín, để nơi tối, khô ráo, xa nơi ở của người và chuồng động vật. Muốn dùng
phải xác định lượng chlor hoạt tính chứa trong chlorur vôi trước khi dùng.
đích tiêu độc nhà cửa, chuồng trại, phòng ốc,...
- Iôt (I, iodine): Tác dụng sát trùng rất mạnh, phổ tác dụng rất rộng, diệt được vi
khuẩn kháng cồn, kháng toan, nha bào nhiệt thán, virut, nấm men, mốc. Dung dịch 1 -