1
Chương 5
ĐIỀU TRỊ BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Điều trị (chữa) bệnh truyền nhiễm là một biện pháp tích cực vì có
tác dụng bao vây tiêu diệt nguồn bệnh (mỗi súc vật bệnh được coi là một
nguồn bệnh) đồng thời làm con vật hồi phục nhanh chóng và hoàn toàn
không trở thành con vật mang trùng nên hạn chế dịch lây lan. Chữa bệnh
kịp thời là một yêu cầu cấp bách của sản xuất làm giảm thiệt hại về kinh tế
cho người chăn nuôi. Việc hạn chế tác hại tiến tới tiêu diệt bệnh dịch phải
trên cơ sở kết hợp công tác phòng bệnh và chữa bệnh. Chữa bệnh cũng
chính là một phương pháp phòng bệnh dịch. Phòng bệnh là tích cực, là chủ
động, chữa bệnh có phần nào bị động nhưng có ý nghĩa tích cực, là vì chữa
cho con bệnh cũng tức là phòng cho con khỏe, nên không thể tách rời
phòng và chữa bệnh. Vậy chữa bệnh là rất cần thiết, phải kịp thời và kết
hợp phòng bệnh với chữa bệnh. Chữa bệnh truyền nhiễm cần tuân thủ các
nguyên tắc sau:
- Chữa toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp điều trị: hộ lý,
dinh dưỡng và dùng thuốc gồm các thuốc tác động tiêu diệt mầm bệnh
(chất kháng sinh đối với vi khuẩn, interferon,... đối với virut) lẫn những
thuốc tăng cường cơ năng của cơ thể (vitamin, máu, thuốc giảm đau, thuốc
hạ sốt,...).
- Chữa sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh tức xác định đúng tính
mẫn cảm của mầm bệnh, đồng thời phải tính đến khả năng xâm nhập tổ
chức ổ bệnh khi chọn những thuốc trong số các thuốc có hiệu quả tiêu diệt
mầm bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế bệnh lây lan.
- Diệt căn bệnh là chủ yếu, kết hợp chữa triệu chứng.
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của
cơ thể. Làm cho cơ thể tự chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít
bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền. Một số thuốc tuy tiêu diệt
được mầm bệnh nhưng ít nhiều có hại cho cơ thể nên ta phải chú ý ảnh
hưởng của thuốc đến cơ thể.
Cần áp dụng đồng thời nhiều phương pháp chữa bệnh. Bên cạnh
các phương pháp chữa bệnh bằng thuốc, hộ lý là một nhiệm vụ chữa bệnh
rất quan trọng, vì tạo điều kiện cho bệnh chóng khỏi, hạn chế biến chứng,
hạn chế lây lan. Nội dung hộ lý gồm: cho gia súc bệnh nghỉ ngơi, nhốt
riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng, mát, sạch sẽ, yên tĩnh),
theo dõi nhiệt độ, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những
biến chuyển của bệnh để đối phó kịp thời, cho ăn uống tốt và phù hợp với
tính chất bệnh, khi cần giúp cho gia súc ăn, trở mình,...
I. Liệu pháp miễn dịch
Trong số các liệu pháp miễn dịch có liệu pháp huyết thanh, liệu
pháp gamma-globulin miễn dịch và liệu pháp vacxin. Trong đó liệu pháp
vacxin có thể áp dụng trong điều trị một số bệnh mãn tính do nhiễm khuẩn
ký sinh nội bào và là phương pháp điều trị được áp dụng rất hạn chế. Có
thể chữa một số bệnh truyền nhiễm bằng vacxin, nhất là dùng vacxin chế
từ mầm bệnh phân lập được ở súc vật mắc bệnh, vì là kháng nguyên kích 3
thích sản sinh kháng thể đặc hiệu, các tế bào T miễn dịch (trong đó có tế
bào gây độc tế bào hay Tc), nhờ đó hoạt hóa các tế bào thực bào thực bào
và đồng thời cũng là một nguồn protein nên kích thích cơ thể làm tính
phản ứng của cơ thể biến đổi, làm tăng cường cơ năng phòng ngự của cơ
thể. Tác động kích thích thực bào và làm tăng miễn dịch tế bào (tăng hoạt
tính tế bào Tc đặc hiệu) là yếu tố quan trọng trong quá trình chống các vi
khuẩn ký sinh nội bào (Salmonella, Brucella, Mycobacterium,...). Vacxin
(thường là vacxin chết) phải tiêm nhiều lần với liều tăng dần trong da, dưới
da hoặc bắp thịt dùng chữa các bệnh kéo dài. Trong thú y, vacxin đã được
chữa một số bệnh như bệnh sẩy thai truyền nhiễm ở ngựa, bệnh viêm hệ
lâm ba truyền nhiễm, bệnh uốn ván. Tuy vậy, đây là liệu pháp ít sử dụng so
với liệu pháp huyết thanh.
-Dùng trong trường hợp đã chẩn đoán đúng bệnh.
-Dùng trong trường hợp các bệnh truyền nhiễm cấp tính. Có thể
dùng trong trường hợp bệnh mãn tính nhưng phải kết hợp với nhiều
phương pháp chữa khác.
-Dùng càng sớm càng tốt. Khi bệnh đã có triệu chứng lâm sàng rõ
rệt hoặc đã chuyển sang thể mãn tính thì tác dụng của kháng huyết thanh bị
hạn chế.
-Dùng liều cao ngay từ đầu. Nói chung liều chữa bệnh gấp đôi liều
phòng bệnh, có khi dùng liều cao gấp nhiều lần tiêm phòng. Khi dùng liều
cao nên tiêm vào nhiều điểm trên cơ thể con vật. Nếu bệnh chưa chuyển thì
có thể tiêm lần thứ hai cách lần thứ nhất sau 12 - 24 giờ. Nếu bệnh nặng có
thể dùng kết hợp kháng huyết thanh với kháng sinh.
-Đường tiêm dưới da hay bắp thịt. Khi cần thiết (bệnh nặng) có thể
tiêm tĩnh mạch để có tác dụng nhanh, nhưng phải là huyết thanh cùng loài
với gia súc bệnh cần điều trị.
- Theo dõi chặt chẽ súc vật sau khi tiêm, vì dùng kháng huyết thanh
để gây hiện tượng choáng và bệnh huyết thanh, có thể làm súc vật chết nếu
không can thiệp kịp thời.
Bệnh huyết thanh là bệnh do tiêm kháng huyết thanh thường là
kháng huyết thanh của động vật khác loài cho động vật bệnh, nhất là
những kháng huyết thanh chứa nhiều tạp chất. Bệnh này có hai biểu hiện:
choáng huyết thanh và bệnh huyết thanh chính thức (hay thực chất).
Choáng huyết thanh thường xảy ra sau khi tiêm kháng huyết thanh lần thứ
hai hoặc tiêm vào tĩnh mạch. Triệu chứng xuất hiện ngay sau tiêm. Con vật
khó thở, nổi mẩn đỏ, huyết áp giảm, thân nhiệt giảm, sau đó các cơ co giật,
con vật vật vã dãy dụa, vãi đái, vãi phân, cuối cùng là hôn mê, thở nhanh,
có thể chết ngay nếu không xử trí kịp thời. Bệnh huyết thanh chính thức ít
nguy hiểm hơn choáng huyết thanh, xảy ra từ 9 - 12 ngày sau khi tiêm.
Thoạt tiên thân nhiệt giảm, nơi tiêm sưng phù. Sau đó thân nhiệt tăng.
Hạch lâm ba sưng. Con vật nổi ban, ngứa ngáy, mạch nhanh, khớp bị sưng
Các chất tác động đến mầm bệnh có thể đưa vào cơ thể động vật và
người để điều trị bệnh được gọi chung là yếu tố hóa trị liệu hay thuốc hóa
trị liệu (chemotherapeutic agent). Các hóa dược này có tác dụng tiêu diệt
mầm bệnh đồng thời làm giúp cho cơ thể sản sinh kháng thể nhanh chóng,
làm dung giải vi khuẩn, giải phóng nội độc tố. Tuy nhiên, lượng nội độc tố
giải phóng ồ ạt khi vi khuẩn bị dung giải dưới tác động của yếu tố hóa trị
liệu có thể làm tình trạng bệnh trầm trọng.
Thuốc trị cảm nhiễm vi khuẩn (hay thuốc kháng vi khuẩn) có thể
chia thành hai nhóm là thuốc kháng sinh (antibiotics) và thuốc hóa trị liệu
tổng hợp (synthetic chemotherapeutics). Tên "chất kháng sinh -
antibiotics" được hình thành từ kết quả (Waksman, 1941) nghiên cứu tác
động qua lại của các vi sinh vật trong tự nhiên và để chỉ các yếu tố vật chất
chủ yếu tạo nên mối quan hệ kháng sinh (antibiosis, đối lập với cộng sinh -
symbiosis) giữa chúng, tức là "hiện tượng một số loại sinh vật sản sinh và
bài xuất ra môi trường những chất gây hại cho sinh vật khác nhằm giành 6
chiếm thức ăn và chỗ cư trú". Tuy nhiên, nhờ khoa học kỹ thuật phát triển,
nhiều chất kháng sinh được phân tích xác định công thức hóa học và được
chế tạo hoàn toàn bằng con đường tổng hợp hóa học nên ranh giới giữa
thuốc kháng sinh và thuốc hóa trị liệu tổng hợp không còn. Vì vậy, ta
thường có định nghĩa chất kháng sinh theo nghĩa hẹp gồm các chất có
nguồn gốc sinh học và chất kháng sinh theo nghĩa rộng bao gồm cả các
chất kháng sinh có nguồn gốc sinh học lẫn các thuốc hóa trị liệu tổng hợp,
chủ yếu để phân định chúng với các chất chống khuẩn khác (các chất sát
trùng: chất khử khuẩn, chất tẩy uế).
1. Chất kháng sinh
Thuốc kháng sinh là các chất (thường do vi sinh vật sản sinh ra:
chất kháng sinh nghĩa hẹp) có tác dụng diệt khuẩn (làm chết vi khuẩn)
nhờ có cấu trúc không gian tương tự với cấu trúc không gian của cơ chất
nào đó của quá trình chuyển hóa. Bình thường cơ chất này đều được
chuyển hóa thành sản phẩm tương ứng nhờ phản ứng sinh hóa có sự xúc
tác của một enzym hoặc một chuỗi các enzym. Mặc dù các enzym không
thay đổi thành phần hóa học sau phản ứng, nhưng trong một thời gian nhất
định của phản ứng thành phần của chúng có sự thay đổi, chúng là những
vật mang tạm thời các nhóm chức khác nhau phân cắt ra khỏi cơ chất mà
sau đó tham gia vào phản ứng với nhóm chức khác cũng trong trung tâm
hoạt động của chúng để tạo thành sản phẩm mới. Enzym có những tác
dụng xúc tác là nhờ có phân tử lượng lớn và có khu vực có cấu trúc không
gian tương thích với cấu trúc không gian (của cả hoặc chỉ một khu vực)
của cơ chất. Vùng phân tử enzym mà cơ chất gắn kết tạm thời trong quá
trình phản ứng gọi là trung tâm hoạt động của enzym. Trung tâm này tuy
chiếm một phần rất nhỏ thể tích của phân tử enzym nhưng là miền trọng
yếu của nó quyết định phản ứng có thể bắt đầu hay không (hoạt hóa hay vô
hoạt) cũng như quy định tính đặc hiệu của phản ứng. Một khi trung tâm
hoạt động của enzym không được hoạt hóa hoặc không ở trạng thái tự do
thì enzym mất luôn khả năng xúc tác phản ứng vốn có của nó. Thuộc tính
xúc tác của enzym có những cơ chế sinh hóa khác nhau nhưng trước hết
trung tâm hoạt động của chúng phải ở trạng thái tự do và được hoạt hóa.
Các chất kháng sinh tác động làm mất tính tự do của enzym. Phụ thuộc vào
tính thuận nghịch hay không của sự kết hợp chất kháng sinh với trung tâm
hoạt động của enzym mà ta có cơ chế cạnh tranh hay cơ chế che phủ. Về
bản chất, hai cơ chế này tương tự nhau. Tuy nhiên, trong cơ chế cạnh tranh
chất kháng sinh kết hợp một cách thuận nghịch với trung tâm hoạt động
của enzym tương ứng, vì vậy chúng có tác dụng khi nồng độ khá cao và dễ
bị mất tác dụng khi cơ chất chuyển hóa có nồng độ cao một cách áp đảo.
Tuy vậy, do các enzym trong cơ thể thường được thay đổi thế hệ liên tục
nên tính thuận nghịch của phản ứng kết hợp này giúp chất kháng sinh
không bị đào thải cùng với enzym bị lão hóa mà được giải phóng và duy trì
9
ngoài cấu tạo từ lipopolysaccharid (LPS) và protein nên nói chung chúng
thường ít mẫn cảm với các chất kháng sinh nhóm này.
3. Chủng loại kháng sinh và hoạt phổ kháng sinh
3.1. Phân loại kháng sinh
Kháng sinh có thể phân loại theo nhiều cách: theo nguồn gốc, theo
tính chất chữa bệnh, theo hiệu quả tác động, theo cơ chế tác động và theo
họ (theo bản chất hóa học).
Phân loại theo nguồn gốc: theo nguồn gốc các chất kháng sinh có
thể là kháng sinh lấy từ nguyên liệu vi sinh vật (kháng sinh tự nhiên),
kháng sinh sản xuất theo con đường tổng hợp hóa học hoàn toàn (kháng
sinh hóa tổng hợp) và kháng sinh bán tổng hợp. Các loại sinh vật khác
nhau (vi khuẩn gồm cả xạ khuẩn, các loại nấm men, nấm sợi, thực vật và
động vật) đều có thể sản sinh ra chất kháng sinh. Khởi đầu, khái niệm của
chất kháng sinh bắt nguồn từ sự nghiên cứu hiện tượng kháng sinh, vì vậy
yếu tố "do các sinh vật, chủ yếu là vi sinh vật, sản sinh ra" là yếu tố xác
định nghĩa hẹp của khái niệm chất kháng sinh. Nhưng do nhiều chất kháng
sinh được tổng hợp bằng con đường hóa học hoàn toàn (như
chloramphenicol) nên quan niệm chất kháng sinh thay đổi và bao gồm tất
cả các chất có thuộc tính diệt khuẩn hoặc chế khuẩn ở tầm phân tử (hay
liều thấp) một cách đặc hiệu vào một hoặc một số quá trình chuyển hóa
của vi khuẩn. Những chất kháng sinh bán tổng hợp là những chất thu từ
nguyên liệu vi sinh vật nhưng sau đó được cải biến cấu trúc hóa học bằng
con đường hóa học.
Phân loại theo tính chất chữa bệnh: các chất kháng sinh có thể chia
thành hai nhóm: các chất kháng sinh thông dụng (như penicillin,
streptomycin, ampicillin,... và các chất kháng sinh không thông dụng.
Phân loại theo hiệu quả tác động lên tế bào vi khuẩn: chất kháng
chất kháng sinh tùy thuộc chủ yếu vào bản chất hóa học được chia thành
các họ khác nhau.
- Họ aminosid: gồm streptomycin, kanamycin, gentamycin,
neomycin, framycetin, paromycin.
- Họ tetracyclin: gồm tetracyclin, oxytetracyclin, chlortetracyclin,
domycyclin, dimethylchlortetracyclin,...
- Nhóm các chloramphenicol: chloramphenicol (chlorocid,
levomycetin), thiamphenicol, synthomycin, eulevomycin,... được sản xuất
chủ yếu bằng con đường hóa tổng hợp, ngày nay chloramphenicol cấm
dùng trong thủy sản và thú y vì vấn đề dư lượng kháng sinh gây hại cho
sức khỏe người tiêu dùng (tuy vẫn sử dụng trong nhân y).
- Các sulfamid: là họ gồm nhiều hợp chất khác nhau, những chất
ban đầu có hoạt phổ rộng nhưng càng ngày càng phát hiện ra những chất
có hoạt phổ hẹp. 11
- Các nitrofuran: furagin, furazolidon,... Các chất này gần đây bị
cấm sử dụng trong thú y vì dư lượng của chúng trong thực phẩm gây tác
hại đối với sức khỏe người tiêu dùng.
- Họ beta-lactam gồm một số nhóm, như sau:
Nhóm penicillin G (benzylpenicillin) và các phân tử gần gũi là
những chất có tác dụng lên vi khuẩn Gram dương và dễ bị phân hủy bởi
enzym penicillinaza do các vi khuẩn tiết ra.
Nhóm methicillin - oxacillin và dẫn xuất là những chất có cấu trúc
phân tử gần giống các penicillin nêu trên nhưng không bị penicillinaza
phân hủy.
Ampicillin là dẫn xuất penicillin có hoạt phổ rộng, tác động lên tất
cả các vi khuẩn Gram dương. Cũng giống penicillin chất kháng sinh này
cũng bị một số penicllinaza phân hủy.