Ứng dụng các bài tập nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho nam đội tuyển cờ vua trường trung học phổ thông ninh giang hải dương - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TRẦN THỊ CẨM CHI

ỨNG DỤNG CÁC BÀI TẬP NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƢ DUY
SÁNG TẠO CHO NAM ĐỘI TUYỂN CỜ
VUA TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG NINH GIANG - HẢI DƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TRẦN THỊ CẨM CHI

ỨNG DỤNG CÁC BÀI TẬP NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƢ DUY
SÁNG TẠO CHO NAM ĐỘI TUYỂN CỜ
VUA TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG NINH GIANG - HẢI DƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên Ngành: Sƣ phạm GDTC

Hƣớng dẫn khoa học

TS. HÀ MINH DỊU


HLV

: Huấn luyện viên

NXB

: Nhà xuất bản

STT

: Số thứ tự

TDTT

: Thể dục thể thao

THPT

: Trung học phổ thông

THCS

: Trung học cơ sở

TN

: Thực nghiệm

VĐV

Bảng 3.6

Tính thông báo của các test đánh giá năng lực tư duy
sáng tạo trên đối tượng nghiên cứu
Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của hai nhóm đối chứng
và nhóm thực nghiệm
Kết quả kiểm tra giữa thực nghiệm của hai nhóm đối
chứng và thực nghiệm
Kết quả kiểm tra cuối thực nghiệm của hai nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm

35
37
38
39


MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ.

1

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

5

1.1. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi Trung học phổ thông.

5


2.2.2. Phương pháp phỏng vấn - tọa đàm.

24

2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm.

25

2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm.

25

2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

25

2.2.6. Phương pháp toán học thống kê.

26

2.3. Tổ chức nghiên cứu.

27

2.3.1. Thời gian nghiên cứu.

27

2.3.2. Đối tượng nghiên cứu.

tượng nghiên cứu.

32

3.2.1.Lựa chọn các thành phần, các test đánh giá năng lực tư duy
sang tạo

32

3.2.2. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn nhằm
phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho nam đội tuyển cờ vua trường
THPT Ninh Giang - Hải Dương

36

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.

41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC.


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền TDTT Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, sự định hướng
đầu tư của Đảng và Nhà nước cho sự nghiệp phát triển TDTT Việt Nam nước
ta có nhiều đổi mới. Ngày 01/12/2011 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam đó ra nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh
đạo của đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020.

2013, 2014 vô địch HD Bank), Lê Quang Liêm (vô địch thế giới và Châu Á,
vô địch Aeroflot mở rộng, vô địch HD Bank 2013, huy chương vàng
Seagame)… Mới đây nhất vào ngày 6/11,tại TP.Halkidiki (Hy Lạp), cô bé
Nguyễn Lê Cẩm Hiền đó trở thành nhà vô địch thế giới nữ nhỏ tuổi nhất trong
làng cờ việt Nam khi vừa giành chức vô địch thế giới lứa tuổi U8 tại giải vô
địch cờ vua trẻ thế giới 2015.
Song bên cạnh những mặt mạnh, công tác đào tạo HLV, giáo viên,
VĐV cờ vua hiện nay ở nước ta còn nhiều tồn tại, kìm hãm sự phát triển của
chính môn thể thao này. Một trong những điều đó là việc ứng dụng các
phương pháp, phương tiện chuyên môn phù hợp, hiệu quả vào quá trình đào
tạo chưa được quan tâm, nghiên cứu đúng mức. Hầu hết các đơn vị, các HLV
đều huấn luyện theo kinh nghiệm bản thân, việc nghiên cứu, tìm tòi và ứng
dụng các phương pháp, phương tiện chuyên môn khoa học hiện đại vào quá
trình huấn luyện còn nhiều hạn chế.
Hiệu quả của quá trình đào tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song
một yếu tố đặc biệt quan trọng là việc hiểu rõ bản chất và tác động đúng đắn
đến “cấu trúc xác định thành tích của môn thể thao cờ vua”. Cờ vua với đặc
thù là môn “thể thao trí lực” với lượng vận động đặc trưng là lượng vận động
tâm lí, tác động trực tiếp vào quá trình tư duy. Vì vậy muốn nâng cao hiệu quả
quá trình đào tạo VĐV cần phải xác định chính xác cấu trúc quá trình tư duy,


3
cũng như quá trình tác động đúng hướng nhằm hình thành các năng lực
chuyên biệt về cờ vua.
Qua quá trình nghiên cứu, tham khảo sơ bộ tài liệu về cờ vua và các
công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia cờ vua như: “Những vấn
đề Y sinh trong Cờ Vua” của TS Y học V.B Mankin: “Cờ vua và sự phát triển
tư duy” của PTS tâm lí Y học N.G Aleecxayep… chúng tôi nhận thấy nghiên
cứu và nâng cao năng lực tư duy có thể bằng nhều các khác nhau, đồng thời

quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, năng lực tư duy sáng tạo - đây là một trong
những năng lực tư duy quan trọng nhất đối với một VĐV cờ vua.
Hiện nay vấn đề rèn luyện và phát triển năng lực tư duy sáng tạo là chủ
đề thuộc một lĩnh vực nghiên cứu còn mới và mang tính thực tiễn cao. Nó
nhằm tìm ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng
tạo và để rèn luyện, tăng cường khả năng tư duy của một cá nhân, hay một tập
thể cộng đồng làm việc chung về một vấn đề hay một lĩnh vực nào đó. Chính
vì lẽ đó, đối với các em học sinh đội tuyển cờ vua đây là một vấn đề thiết yếu
cần được quan tâm hàng đầu.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ứng dụng các bài tập nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho nam đội
tuyển cờ vua trường Trung học phổ thông Ninh Giang - Hải Dương”.
Mục đích nghiên cứu: Qua kết quả nghiên cứu, giúp chúng tôi xác
định được phương tiện chuyên môn có hiệu quả cao nhằm phát triển năng lực
tư duy cho nam đội tuyển cờ vua trường THPT Ninh Giang - Hải Dương. Từ
đó, giúp các nhà chuyên môn bổ sung thêm các phương tiện chuyên môn có
hiệu quả trong quá trình giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng của quá
trình đào tạo môn cờ vua tại trường THPT Ninh Giang - Hải Dương.
Giả thuyết khoa học: Nếu đề tài lựa chọn được các bài tập phù hợp
với đối tượng nghiên cứu sẽ góp phần phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho
nam đội tuyển cờ vua Trường THPT Ninh Giang - Hải Dương, từ đó nâng cao
trí tuệ và trình độ chuyên môn cho nam đội tuyển cờ vua Trường THPT Ninh
Giang - Hải Dương.


5
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi Trung học phổ thông
1.1.1. Đặc điểm tâm lí

khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chính xác khả năng vận động
được nâng cao, ngoài ra do việc hoạt động của tuyến giáp trong tuyến sinh
dục ngày càng ảnh hưởng đến hoạt động thể dục thể thao. Các hoạt động đơn
điệu làm cho học sinh nhàm chán, mệt mỏi. Vì vậy cần được thay đổi nhiều
hình thức tập luyện .
Hệ cơ: Ở lứa tuổi này đang phát triển nhưng chậm hơn so với hệ xương, số
lượng sợi cơ tăng chậm nhưng chiều dài số sợi co phát triển nhanh. Đàn tính
cơ tăng không đều, do đó để củng cố và phát triển sức nhanh, sức mạnh cần
phát triển sức bền và sức mạnh bền. Áp dụng các bài tập cần tăng dần lượng
vận động, tránh tăng lượng vận động một cách đột ngột, dễ dẫn đến chấn
thương, cơ không đều chủ yếu là cơ nhỏ, dài, do đó cơ hoạt động sớm dễ dẫn
tới mệt mỏi.
Hệ tuần hoàn: Tuần hoàn phát triển toàn diện tim đập 70-80l/phút. Phản ứng
của hệ tuần hoàn tương đối rõ rệt sau vận động mạch đập và huyết áp phục
hồi tương đối nhanh chóng, cho nên cơ thể tập luyện những bài tập sức mạnh,
tốc độ hay dai sức. Ở lứa tuổi này diện tiếp xúc phổi khoảng 100 -200𝑐𝑚2 .
Dung tích phổi tăng nhanh, tần số thở 10-20l/phút, tuy nhiên cơ vẫn còn yếu.
Hệ xƣơng: Xương giảm tốc độ phát triển, sụn ở xương có độ dài nhưng
chuyển thành xương sụn cột sống đã ổn định về hình dáng, nhưng chưa được
củng cố, dễ bị cong vẹo.
Hệ máu: Ở lứa tuổi này các em hoạt động cơ bắp, cho nên hệ máu có những
thay đổi nhất định. Hàm lượng hemoglobin cũng như hàm lượng máu đều
tăng làm cho dung dịch oxi trong máu cũng tăng lên so với các hoạt động kéo
dài thì hồng cầu sẽ giảm đi và quá trình hoạt động xảy ra nhanh.


7
Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi này làm biến đổi về trạng thái , chức năng của hệ hô
hấp và sự thay đổi về chiều dài của chu kì hô hấp, tỉ lệ thở ra, hít vào, thay đổi
độ sâu và tần số hô hấp. Dung tích sống và thông khí phổi tăng tối đa.

sức khỏe. Nhưng bản thân những căng thẳng cảm xúc đó lại chính là điều
kiện cần thiết cho quá trình tư duy - sáng tạo của VĐV cờ vua. Hơn nữa, việc
không có khả năng duy trì và chịu đựng những căng thẳng cảm xúc ở mức độ
cao lại là một trong những nguyên nhân làm giảm đi khả năng chơi của VĐV
- nghĩa là làm mất đi trạng thái sung sức thể thao của VĐV cờ vua.
Đối với học sinh THPT hoạt động học tập đòi hỏi tính năng động, tính
độc lập ở mức độ cao hơn nhiều so với học sinh THCS. Đồng thời cũng đòi
hỏi phát triển tư duy sáng tạo phải cao. Thái độ học tập ở lứa tuổi này được
thúc đẩy bởi động cơ học tập mà ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn. Trong cờ
vua nếu các em có động cơ đúng đắn sẽ tích cực tập luyện,thi đấu để nâng cao
năng lực tư duy sáng tạo của bản thân.
Vì vậy, việc định mức và áp dụng lượng vận động phù hợp đối với từng
VĐV trong tập luyện và thi đấu cờ vua là một vấn đề hết sức quan trọng đối
với việc đạt được thành tích cao trong thi đấu.
Lượng vận động tâm lý trong cờ vua chính là sự căng thẳng về cảm
xúc và thần kinh do mật độ, độ khó của bài tập cờ, tình huống cờ cũng như
thời gian thực hiện bài tập, tình huống đó. Các tác nhân tâm lý (cường độ cảm
xúc, sự căng thẳng về ý chí...) có tác động mạnh thì hoặc làm tăng cường hoặc
làm giảm sút khả năng chức phận của cơ thể.
Lượng vận động tâm lý trong cờ vua nằm trong mối quan hệ biện
chứng với sức bền tâm lý. Sức bền tâm lý của VĐV cờ vua là khả năng của hệ
thống tâm thể của VĐV có thể chịu được lượng vận động cao trong tập luyện
và thi đấu, duy trì được sự cân bằng cần thiết trong hệ thống đó.
Sức bền tâm lý trong cờ vua phụ thuộc vào:


9
Trạng thái tâm lý trước vận động.
Loại hình thần kinh của VĐV.
Động cơ thi đấu của VĐV.

P t

i n

P

Trong đó:

 tn



P1 t 1  P2 t 2 ... Pn t n
t 1  t 2 ... t n

+ P: Là tổng độ lớn sự căng thẳng tâm lý.
+ Pi: Là sự căng thẳng tâm lý từng bài tập được biểu hiện

bằng điểm quy định.
+ tn: Là thời gian thực hiện bài tập.
Do đó, tổng độ lớn của sự căng thẳng tâm lý của một buổi tập cờ vua có thể phù
hợp với chỉ tiêu của lượng vận động sau: Lượng vận động nhỏ: Từ 1 - 3 điểm,
lượng vận động trung bình: Từ 4 - 6 điểm, lượng vận động lớn: Từ 7 - 10 điểm.
Các chỉ số tâm lý đặc trưng cho năng lực hoạt động cờ vua bao gồm:
Loại hình thần kinh phù hợp, có phẩm chất đạo đức tốt; Mức độ bền vững của
quá trình tâm lý,và độ bền vững này phải sâu, linh hoạt và có dung lượng trí
nhớ tốt; Năng lực tư duy của VĐV tốt (đặc biệt là tư duy sáng tạo); Có sự nỗ
lực ý chí cao, khắc khục những khó khăn và trở ngại bên trong cũng như bên
ngoài để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ tập luyện và thi đấu...
Trong các chỉ số này, đặc điểm tâm lý trội nhất đối với môn cờ vua là năng

xúc không liên quan trực tiếp tới ván đấu, sự không thành công trong các ván
đấu trước, sai làm mắc trong ván đang chơi,… Hơn nữa, những mệt mỏi về
thể chất cũng dẫn tới mệt mỏi thần kinh, tâm lý. Kết quả có thể phá vỡ việc tư
duy nước đi của VĐV và là nguyên nhân sai lầm mắc phải trong thi đấu.
Ở các môn thể thao khác, quá trình tư duy chỉ với những phản xạ đơn phục vụ

cho quá trình thiết lập các mối liên hệ nhiều thành phần tạo nên kỹ năng - kỹ
xảo thực hiện kỹ thuật bài tập, còn trong môn cờ vua đòi hỏi những phản xạ
phức tạp. Trong cờ vua, khả năng tư duy khái quát và tư duy sáng tạo có vị trí
đặc biệt quan trọng tới việc tiếp thu và hình thành khả năng thực hành của
VĐV cờ vua. Đây là khả năng quan trọng nhất để đạt được thành tích cao
trong thi đấu cờ vua.
1.2.2. Cơ sở sinh lý
Vấn đề về giá trị sinh lý của ván đấu cờ vua luôn thu hút sự quan tâm lớn
của các nhà khoa học cờ vua, bởi lẽ thiếu giá trị này, sẽ rất khó khăn trong chuẩn
hoá lượng vận động trong thi đấu và dự báo thành tích của các VĐV cờ vua.
Trong những năm 1980 - 1987, tại khoa cờ vua trường Đại học TDTT
Matxcơva đã tiến hành nghiên cứu đề tài:"Nghiên cứu quá trình quyết định


12
trong điều kiện Stress với thời gian hạn hẹp (Model Cờ Vua)". Kết quả nghiên
cứu của đề tài này và kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác đã chỉ
ra rằng, với lượng vận động thi đấu lớn và không quen thuộc sẽ dẫn tới mệt
mỏi tương đối nhanh và hậu quả của nó là ở một số VĐV cờ vua xuất hiện
các "khoảng tối" trong việc nhìn nhận các thế cờ. Nghĩa là việc định vị được
trong trí nhớ chỉ một phần nào đó của bàn cờ, nơi diễn ra các sự kiện quan
trọng hơn cả. Trong quá trình thử nghiệm đã sử dụng tổ hợp các phương pháp
về tâm - sinh lý bao gồm: Ghi các dòng điện sinh vật của não (điện não đồ),
ghi điện tâm đồ, xác định huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu, xác định tần số


trước ván

ván đấu

đấu

(l/min)

(mmHg)

DBKT

94

115/75

114

2

DBKT

83

140/90

108

3


96

6

DBKT

80

120/65

80

7

DBKT

84

130/80

100

100

8

DBKT

68


11

DBKT

90

120/70

12

CI

104

110/60

T.T

Đẳng

người

cấp

TN

VĐV

1

150

160/110

120

150/100

66

110/70

72

110/60

88

140/60

92

130/80

86

140/80

150/80


120

128

120

125/70

120/70

120/70

130/70

130/85

92

Trên đây là những đặc điểm tâm - sinh lý cơ bản trong hoạt động tập luyện và
thi đấu của môn thể thao cờ vua. Điều quan trọng đối với HLV và VĐV cờ
vua không chỉ là nắm vững những đặc điểm này mà điều quan trọng hơn là
việc áp dụng những hiểu biết này vào trong quá trình đào tạo và tự đào tạo
nhằm đạt được trạng thái sung sức thể thao trong cờ vua, cũng như các thành
tích cao nhất của bản thân trong quá trình huấn luyện VĐV cờ vua.
1.3. Cơ sở lý luận về năng lực tƣ duy (tƣ duy sáng tạo) của VĐV cờ vua
1.3.1. Cơ sở lý luận về năng lực tư duy của VĐV cờ vua
Năng lực tư duy của VĐV cờ vua là các thao tác trí tuệ về phân tích,
đánh giá, lập kế hoạch, tính toán và lựa chọn nước đi để xử lý các tình huống
nảy sinh trong tập luyện và thi đấu cờ vua.



15
Tư duy nảy sinh khi gặp “hoàn cảnh có vấn đề”. Hoàn cảnh có vấn đề mà
trong đó con người gặp những tình huống, những câu hỏi chưa giải đáp được
“Cái gì thế này”. Rõ là phải chiếu hết, một thế cờ bổ xung nào đó, 1.Th7+ chỗ
nào nhỉ... Đòn quyết định g8”. Và đó, ngay từ phút đầu tiên đã nắm bắt được
ý đồ phối hợp, đã chỉ ra được những nước cờ dự bị chính xác và thậm chí cả
nước khó trong quyết định. Hãy lưu ý tới sự căng thẳng về cảm xúc thể hiện
qua câu hỏi ngạc nhiên ngay từ thoạt đầu. Sự “ngạc nhiên” ở đây chính là sự
xuất hiện “hoàn cảnh có vấn đề”.
“Hoàn cảnh có vấn đề” thúc đẩy con người tư duy và chính trong quá trình tư
duy lại phát hiện nhiều “hoàn cảnh có vấn đề”. Cho nên “hoàn cảnh có vấn
đề” vừa là tiền đề, vừa là kết quả của quá trình tư duy và về thực chất đây
chính là các điều kiện, các yếu tố thúc đẩy quá trình tư duy sáng tạo của VĐV
trên bàn cờ. Hiểu theo một cách khác "hoàn cảnh có vấn đề" có giá trị như
động lực thúc đẩy quá trình sáng tạo của VĐV trong việc lựa chọn các tình
huống hoặc các quyết định cần phải áp dụng tại tình huống thế cờ đó - chính
vì "hoàn cảnh có vấn đề" đối với mỗi VĐV được xác định khác nhau, nên sự
lựa chọn quyết định của các VĐV tại một tình huống cờ cũng luôn khác nhau.
Và như vậy, cũng có thể nói rằng năng lực tư duy sáng tạo của mỗi VĐV
cũng khác nhau.
Tư duy phân tích được xác định bởi khả năng lựa chọn nước đi đúng trên cơ sở
một chuỗi các lập luận logic. Bằng cách tính toán các phương án cụ thể, VĐV cờ
vua đi tới một kết luận nước đi nào là hay nhất trong một thế cờ xác định. VĐV
cờ vua cần phải có khả năng phân tích lẫn khả năng linh cảm. Các nhà chơi cờ
lỗi lạc đều có khả năng phân tích và khả năng linh cảm rất phát triển.
1.3.2. Cấu trúc của năng lực tư duy sáng tạo của VĐV cờ vua
Theo quan điểm của các nhà chuyên gia tâm lý cờ vua hàng đầu của Nga như:
Kôtov (1970), Malkin (1990), B.A.Dlôtnhic (1990), Alecxâyev (1984),
B.Extrin (1995), Đàm Quốc Chính (1999) và của PGS. TS. Nguyễn Trọng



17
cơ chế hoạt động của năng lực sáng tạo (chủ yếu theo quy luật nhận thức cái
mới) cũng như các thành phần của năng lực này [1].
Trong quá trình nghiên cứu, PGS. PTS Dlôtnhic và PGS. TS. Nguyễn Trọng
Bảo đã đưa ra những quan điểm đồng nhất về đặc điểm của năng lực sáng tạo,
các thành phần của năng lực sáng tạo, cũng như cơ chế hoạt động của năng
lực này (chủ yếu theo quy luật nhận thức cái mới). Các thành phần của năng
lực tư duy sáng tạo bao gồm: Khả năng chuyển những tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo vào hoàn cảnh mới; Nhận ra cái mới trong những cái quen thuộc; Nhận ra
chức năng mới của đối tượng quen; Nhận ra cấu trúc của đối tượng quen, lựa
được cách giải quyết vấn đề tốt nhất trong nhiều cách giải quyết; Xác định
năng lực tìm kiếm và quyết định phương pháp giải quyết độc đáo; Xác định
tính kế hoạch, tỷ mỷ, tính kiên định thực hiện mục đích.
Với các thành phần của năng lực sáng tạo nếu trên, các tác giả đã đưa ra
những phương pháp chuẩn đoán năng lực sáng tạo chủ yếu là các bài thử trắc
nghiệm ngoài thi cử, khảo sát.
Chúng ta có thể nhận thức được cấu trúc thành phần của năng lực tư duy sáng
tạo như sau:
Khả năng chuyển những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào hoàn cảnh mới:
Trong hoạt động tập luyện và thi đấu cờ vua, việc trang bị các tri thức,
kỹ năng kỹ xảo cho các VĐV là cả một quá trình. Ở mỗi VĐV, khả năng vận
dụng những tri thức đó vào thực tiễn ván đấu lại
khác nhau, đối với các VĐV có đẳng cấp cao
(Kiện tướng) thì khả năng vận dụng những tri thức
vào thực tiễn ván đấu tốt hơn so với các VĐV có
đẳng cấp thấp hơn (cấp I và không đẳng cấp).
Trong nhiều tình huống cờ cụ thể, họ có thể đưa ra
cách giải quyết độc đáo nhằm đạt ưu thế, hoặc đạt




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status