TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO
Quy hoạch bảo vệ môi trường nước mặt làng nghề dệt lụa Vạn Phúc Hà
Đông đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”.
Giảng viên
Lớp
Nhóm
: ThS. Nguyễn Thị Linh Giang
: ĐH3QM1
: Nguyễn Thị Phương Anh
Võ Thị Thanh Thư
Phan Thị Hoài Thương
Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2016
MỤC LỤC
BẢNG CHÚ GIẢI
KÝ HIỆU
BVMT
QHBVMT
BOD
COD
DO
PH
10Km. Với vị trí như vậy, Vạn Phúc có những thuận lợi về giao thông đi lại và giao
lưu kinh tế, văn hóa với các khu vực xung quanh. Vạn Phúc phát triển nhiều ngành
nghề buôn bán khác nhau trong đó chủ yếu phát triển nghề dệt nhuộm. Đây cũng là
2
nghề truyền thống lâu đời gắn liền với cuộc sống mưu sinh của bao nhiêu thế hệ sống
trong làng này. Dệt nhuộm cũng là ngành truyền thống, chiếm một vị trí quan trọng
trong việc phát triển kinh tế - xã hội, sản phẩm ngành dệt nhuộm không chỉ đáp ứng
nhu cầu trong nước mà còn là mặt hàng có chỗ đứng trên thế giới. Tuy nhiên, với thiết
bị lạc hậu, công nghệ không đồng bộ, chắp vá, phần lớn nhập từ Trung Quốc, Đài
Loan hoặc tự chế tạo gia công trong nước, hoạt động sản xuất với qui mô nhỏ nên
người dân chỉ quan tâm đến lợi ích trước mặt không chú ý đến việc xử lí vì vậy mà
nước thải có chứa hóa chất như sút, jave… trong các công đoạn dệt, nhuộm, in hoa
không được xử lý, xả thải trực tiếp ra hệ thống cống, sông, ngòi, sau nhiều năm tích tụ
và không được xử lý triệt để khiến nước đổi màu, bốc mùi.
Nhận thấy tầm quan trọng của lợi ích kinh tế của làng nghề cùng với thực trạng
môi trường ô nhiễm nước báo động ở đây để phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi
trường hướng tới phát triển bền vững nên chúng tôi chọn đề tài: “Quy hoạch bảo vệ
môi trường nước mặt làng nghề dệt lụa Vạn Phúc Hà Đông đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030”.
II. CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1 Tổng quan về tình hình quy hoạch trên thế giới và Việt Nam.
Trên thế giới, cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, QHMT đã là mối quan tâm của
quốc tế. QHMT đã phát triển rất sớm tại các nước có nền khoa học phát triển như
Pháp, Mỹ, Nga.. và sau đó là các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung
Quốc. Lĩnh vực quy hoạch môi trường cũng đước các tổ chức tài chính lớn như ngân
hàng thế giới (WB) và ngân hàng phát triển châu á (ADB) quan tâm. Vấn đề quy
nhiễm của nước mặt càng ngày càng gia tăng.
1.2 Các khái niệm liên quan.
Theo Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, định nghĩa về quy hoạch bảo vệ
môi trường như sau:
Quy hoạch bảo vệ môi trường: là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát
triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải
pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững.
Theo thông tư 46/2011/TT-BTNMT Thông tưquy định về bảo vệ môi trường làng
nghề, định nghĩa về làng nghề như sau:
Làng nghề: là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum,
sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động
ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Làng nghề truyền thống: là làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời đã có trên 100
năm với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ
cho đến ngày nay.
4
Quy hoạch làng nghề: là khái niệm hay được sử dụng dùng để chỉ các hoạt động
kiểm soát hay tổ chức môi trường làng nghề. Các hoạt động này có thể bao gồm: ban
hành luật, quy định kiểm soát phát triển; đề ra các tiêu chí, lập và phê duyệt quy
hoạch; thực hiện các chương trình đầu tư phát triển làng nghề, bảo tồn làng nghề..
1.3 Văn bản pháp lý liên quan
1.3.1. Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13
Điều 8. Nguyên tắc, cấp độ, kỳ quy hoạch bảo vệ môi trường
1. Quy hoạch bảo vệ môi trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
a) Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng
quốc gia.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tổ chức xây dựng nội dung hoặc lập quy hoạch bảo vệ môi
trường trên địa bàn.
Điều 11. Tham vấn, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường
1. Tham vấn trong quá trình lập quy hoạch bảo vệ môi trường được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường lấy ý kiến các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh bằng văn bản và tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình
lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lấy ý kiến các sở, ngành, Ủy ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện)
bằng văn bản và tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình xây
dựng quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
2. Thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội đồng thẩm định liên ngành và trình
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo quy hoạch bảo
vệ môi trường cấp tỉnh sau khi lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường bằng văn bản.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 70. Bảo vệ môi trường làng nghề.
1. Làng nghề phải đáp ứng điều kiện về bảo vệ môi trường sau:
a) Có phương án bảo vệ môi trường làng nghề;
b) Có kết cấu hạ tầng bảo đảm thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất
thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
c) Có tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường.
2. Cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển tại làng nghề
do Chính phủ quy định phải đáp ứng các yêu cầu sau:
6
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư.
7. Chính phủ quy định chi tiết điều này.
7
1.3.2 Nghị định 18/2015/NĐ-CP Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh
giá môi trường chiến lược,đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi
trường
Điều 3: Lập QHBVMT
1. Quy hoạch bảo vệ môi trường được lập phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội với kỳ đầu cho giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo hai
(02) cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi
trường cấp tỉnh.
2. Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia gồm những nội dung chính sau đây:
a) Diễn biến, mục tiêu quản lý môi trường rừng, bảo tồn đa dạng sinh học;
b) Thực trạng môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông; mục tiêu và các giải pháp
bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông;
c) Thực trạng phát thải khí và chất lượng môi trường không khí; mục tiêu và giải
pháp quy hoạch đối với các hoạt động phát triển có nguồn phát thải khí lớn;
d) Thực trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường đất; mục tiêu và các giải pháp phòng
ngừa suy thoái, ô nhiễm môi trường đất, phục hồi các vùng đất đã bị ô nhiễm,
suy thoái;
đ) Thực trạng ô nhiễm môi trường nước; mục tiêu và các giải pháp quản lý nước
thải và bảo vệ môi trường nước;
e) Thực trạng thu gom, xử lý và các mục tiêu, giải pháp quản lý chất thải rắn sinh
hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại;
g) Thực trạng mạng lưới quan trắc và giám sát môi trường; mục tiêu, định hướng
quy hoạch hệ thống quan trắc và giám sát môi trường;
h) Phân vùng môi trường theo các mục tiêu phát triển, bảo vệ, bảo tồn và ứng phó
thẩm định.
Điều 4: Thẩm định QHBVMT
a) Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường
cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng được thực hiện thông qua hội đồng thẩm
định do thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan tổ chức thẩm định quy hoạch bảo
vệ môi trường quy định tại Khoản 2 Điều 11 Luật Bảo vệ môi trường thành lập.
Cơ cấu hội đồng thẩm định gồm Chủ tịch hội đồng, một (01) Phó Chủ tịch hội
đồng trong trường hợp cần thiết, hai (02) Ủy viên phản biện, một (01) Ủy viên thư
ký và một số Ủy viên, trong đó có đại diện của các cơ quan cùng cấp với cấp độ
quy hoạch từ các ngành: Tài nguyên và Môi trường; Công Thương; Xây dựng;
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Giao thông vận tải; Văn hóa, Thể thao và Du
lịch; Kế hoạch và Đầu tư và các ngành khác có liên quan;
b) Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường dưới hình thức lồng ghép vào quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
9
Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tổ chức thẩm định
đồng thời với việc thẩm định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp
tỉnh.
2. Hồ sơ đề nghị thẩm định quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia và quy hoạch
bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng quy định như sau:
a) Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia gồm văn bản đề nghị thẩm định
quy hoạch bảo vệ môi trường của cơ quan chủ trì lập quy hoạch và dự thảo quy
hoạch bảo vệ môi trường quốc gia;
b) Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng gồm
văn bản đề nghị thẩm định quy hoạch bảo vệ môi trường của cơ quan chủ trì lập
quy hoạch và dự thảo quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo
cáo riêng.
bảo vệ môi trường quốc gia, các chương trình, dự án bảo vệ môi trường ưu tiên,
các chỉ tiêu môi trường, nguồn lực, trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám
sát việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường quốcgia.
Điều 7: Công khai thông tin về QHBVMT
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường gửi quyết định phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi
trường quốc gia đến các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong
thời gian không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày ký ban hành;
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi quyết định phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi
trường cấp tỉnh đến các Sở, ban, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện
và Bộ Tài nguyên và Môi trường trong thời gian không quá năm (05) ngày làm
việc kể từ ngày ký ban hành.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức công bố quyết định phê duyệt và các nội
dung chính của quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia trên trang thông tin điện
tử của mình và các hình thức khác trong thời gian không quá ba mươi (30) ngày
làm việc kể từ ngày ký ban hành.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức công bố quyết định phê duyệt và các nội dung
chính của quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh trên trang thông tin điện tử của
mình và các hình thức khác trong thời gian không quá ba mươi (30) ngày làm việc
kể từ ngày ký ban hành.
1.3.3 Thông tư 46/2011/TT-BTNMT: Thông tư quy định về bảo vệ môi trường
làng nghề.
1.3.4 Quyết định 577/QĐ-TTg Phê duyệt đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng
nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 ngày 11/04/2013
Điều 1. Phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề đến
năm 2020 và định hướng đến năm 2030:
11
3. Triển khai xây dựng, thực hiện quy hoạch, di đời, chuyển đổi ngành nghề sản
nông thôn
12
- Lập quy hoạch và thực hiện lộ trình chuyển đổi các làng nghề sang mô hình
khu, cụm công nghiệp làng nghề hợp lý có hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu bảo vệ
môi trường. Đưa công nghệ mới, tiên tiến vào các làng nghề, đặc biệt là công nghệ
thân thiện với môi trường; hình thành các tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý
môi trường trong các làng nghề.
- Thành lập các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường trong các làng nghề và
ban hành các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ môi trường, đóng góp thuế,
phí, tài chính cho việc xử lý, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường.
1.4 Tổng quan về làng nghề Vạn Phúc.
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, cách trung
tâm Hà Nội khoảng 10km. Là một trong hơn 1.000 làng nghề truyền thống đã và đang
tồn tại ở Việt Nam, song ít có làng nào có truyền thống văn hoá lịch sử đẹp như làng
lụa Vạn Phúc.
13
1.4.1. Tổng quan về làng Vạn Phúc.
• Vị trí địa lý.
Hình 1.1:Bản đồ làng Vạn Phúc.
Làng Vạn Phúc nằm ở phía Tây Bắc thị xã Hà Đông (nay là phường Vạn Phúc),
cách trung tâm thị xã Hà Đông 1 km và cách trung tâm Hà Nội 10km, là một dải đất
hình thoi:
trình xây dựng khác.
• Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu Hà Nội, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa:
nhiệt độ trung bình trong năm vào khoảng 23,6 0C. Độ ẩm trung bình cao 82%-88%,
lượng mưa trung bình năm là 1707mm.
Những nơi cạnh sông Nhuệ do ảnh hưởng của hơi nước nên có độ ẩm cao hơn
các nơi khác vì vậy mà việc bảo quản vải không cẩn thận sẽ rất dễ bị ẩm mốc làm cho
chất lượng vải kém đi.
• Cảnh quan
Làng Vạn Phúc được thiên nhiên ưu đãi có con sông Nhuệ hiền hòa thơ mộng và
đặc biệt còn giữ được những công trình cổ kính có văn hóa và lịch sử cao như đình,
chùa, cổng làng,...Điều này giúp cho Vạn Phúc không những có điều kiện phát triển
văn hóa một cách rực rỡ còn có một số giá trị về thương mại dịch vụ lớn nhất là trong
việc thu hút khách du lịch.
1.4.2. Hiện trạng sử dụng đất.
Đường 430 đi qua trung tâm phường Vạn Phúc và chia phường làm 2 phần:
Phần phía Đông Nam chủ yếu là làng Vạn Phúc cũ và một phần là ruộng canh tác
ở phía Bắc làng.
15
Phần phía Tây Bắc là khu vực ruộng canh tác của phường, khu vực này có một số
công ty, xí nghiệp đóng trên địa bàn, và ba khu nghĩa trang: Nghĩa trang Vạn Phúc,
nghĩa trang quận Hà Đông và nghĩa trang liệt sĩ phường Vạn Phúc.
Vạn Phúc xưa bao gồm năm xóm nhỏ: xóm Ngoài, xóm Trong, xóm Giuwxa,
xóm Lê, xóm Quán. Ngày nay đổi thành Đoàn Kết, Quyết Tiến, Bạch Đằng, Hồng
Phong, Hạnh Phúc, Chiến Thắng và Độc Lập.
(triệu/hộ.Năm)
Sản xuất nông nghiệp
Dệt lụa
Kết hợp dệt và nông nghiệp
Dịch vụ và các nghề khác
Tổng cộng
415
650
300
1395
2560
3515
21500
72,35
49650
81930
4,33
26,24
8,83
60,60
100
8.542169
33.07692
24.11667
35.5914
20.000.000 đồng).
Song song với các công đoạn dệt thì công đoạn nhuộm là không thể thiếu nhưng hiện
nay công đoạn này vẫn là công đoạn thủ công rất vất vả và gây ô nhiễm.
1.4.4. Tình hình hoạt động sản xuất của làng nghề dệt lụa Vạn Phúc.
• Sản phẩm làng nghề.
Trải qua hàng nhiều thế kỷ, thương hiệu lụa Hà Đông ngày càng được phát tiển
không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước. ngày nay
trước sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, nghề dệt lụa của Vạn Phúc ngày
càng có điều kiện phát triển. Hiện nay, sản lượng lụa năm 2016 là 2,5 triệu mét lụa
các loại. Với những mặt hàng tơ tằm như: vân, sa, quế, lụa sa tanh, hoa các loại đủ
màu sắc, mẫu mã phong phú được tiêu thụ rộng rãi trong cả nước. Xét chung về làng
nghề có hai loại sản phẩm chính là lụa và sa tanh. Giá thành sản phẩm lụa dao động từ
50.000 đồng – 80.000 đồng/ mét; giá sản phẩm sa tanh từ 70.000-100.000 đồng/ mét
tùy thuộc vào chất lượng sản phẩm.
• Tình hình công nghệ sản xuất và môi trường lao động.
Trước đây, Vạn Phúc chỉ dệt bằng khung dệt thủ công với chưa đầy 100 khung
dệt, nay đã tăng lên trên 1000 khung dệt và đã được cơ giới hóa 100%. Những xưởng
dệt nhuộm xen kẽ trong khu dân cư có quy mô vừa và nhỏ (trung bình khoảng 5-6 máy
17
dệt/ hộ gia đình), hoạt động mang tính chất kinh tế hộ gia đình nên không chú trọng
đến vấn đề môi trường, ảnh hưởng của tiếng ồn trực tiếp đối với người lao động và các
thành viên trong gia đình cũng như các nhà xung quanh. Không gian sản xuất của các
hộ gia đình trong làng nghề là nhỏ so với yêu cầu sản xuất và sinh hoạt. Hầu hết các
hộ gia đình đều tận dụng đất thổ cư của mình để xây dựng nhà xưởng. Nhà xưởng
được xây dựng tạm bợ, không có khu xử lý nước thải sản xuất riêng. Toàn bộ nước
phần gây ô nhiễm môi trường là thành phần trong tơ tằm, bởi qua khâu tẩy, thải ra
25% tạp chất.
1.5. Các phương pháp nghiên cứu.
1.5.1. Đánh giá nhanh môi trường:
- Đánh giá nhanh môi trường là phương pháp thu thập thông tin về hiện trạng môi
trường dựa trên cơ sở quan sát, phỏng vấn, tính toán định tính trung bình trong trường
hợp cần thiết.
- Đánh giá nhanh môi trường giúp cho việc khám phá và chuẩn đoán các vấn đề
môi trường trong khu vực nghiên cứu, bổ trợ cho việc thiết kế giám định và thực hiện
đánh giá dự án.
- Đánh giá nhanh hỗ trợ quá trình chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ cho việc soạn thảo
các quy định và chính sách, giúp cho việc đối phó với các thảm họa, thiên tai, đánh giá
mức độ ô nhiễm môi trường do các nguồn phát thải.
Để thực hiện phương pháp này chúng tôi đã thực hiện một số kỹ thuật đánh giá
nhanh sau đây:
+ Tổng kết số liệu thứ cấp: là phương pháp tổng kết từ các số liệu thu được nhờ
tham khảo tài liệu đã được nghiên cứu của các tác giả khác. Đó là các tài liệu dự án,
tập chí khoa học, báo cáo của ban lãnh đạo địa phương. Một số tài liệu quan trọng đã
thu thập là của: ủy ban nhân dân phường vạn phúc hà đông, thư viện khoa môi trườngtrường đại học tài nguyên và môi trường hà nội.
+ Quan sát thực địa: là phương pháp kiểm tra, quan sát trên địa bàn nghiên cứu.
đây là phương pháp phổ biến đơn giản, nhằm đánh giá sơ bộ hiện trạng môi trường và
kiểm chứng lại số liệu đã thu thập được.
1.5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu.
Là phương pháp tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được và tổng hợp các mối
quan hệ của chúng từ đó đưa ra các nhận xét kết luận phục vụ cho mục đích nghiên
cứu.
19
hơi hóa chất
Nước, hóa chất, than
Giặt
Xỉ than, nước thải
Nước, hóa chất, than
Nhuộm tơ
Nước thải, xỉ than,khí đốt
than
Nước
Dịch hồ (keo)
Giặt
Mắc sợi, đánh ống,
hồ sợi dọc
Dệt lụa
Nước thải, hơi hóa chất
Nước thải, tơ vụn
Ph, COD cao
4
Giặt sau quá trình
Xà phòng , Na2CO3,,
Ph, COD, BOD5, SS, TS
tẩy chuội
H2O2, H2S và các chất
khác bám vào trong quá
trình chuội
5
Nhuộm
6
Giặt sau nhuộm
Các loại thuốc nhuộm và
các hóa chất trợ, thuốc
nhuộm axit trực tiếp
Na2CO3, CH3COOH,
NaCl
Thuốc nhuộm và hóa chất
còn dư sau quá trình
nhuộm
Ph, COD, BOD5, SS, TS,
độ mầu cao
Lượng nước thải lớn, độ
nước mặt. Tại Vạn Phúc, toàn bộ lượng nước thải sau tẩy, nhuộm chưa qua xử lý của
các hộ làm nghề và Công ty Len hòa với nước thải sinh hoạt chảy chung vào mương
dẫn qua cầu cánh Tiên đổ vào ao Độc Lập rồi xả trực tiếp xuống sông Nhuệ. Vào mùa
hè, mùi hôi thối, hắc của nước thải bốc lên nồng nặc từ các mương dẫn ảnh hưởng rất
lớn đến vệ sinh môi trường và sức khỏe người dân xung quanh. Hàm lượng ô xy hóa
học COD trong các công đoạn tẩy nhuộm vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3-8 lần; độ
màu đo được 750 Pt-Co, vượt tiêu chuẩn nhiều lần. Các chỉ tiêu của nước thải cao
chưa được xử lý thải trực tiếp ra hệ thống ao, sông. Bên cạnh những cơ sở xản xuất lụa
trong làng Vạn Phúc thì hai đơn vị khác là Công ty Cổ phần Len Hà Đông và Nhà máy
Dệt Hà Đông cũng đang ngày ngày tham gia vào quá trình hủy hoại môi trường nơi
đây. Toàn bộ số nước thải của hai đơn vị này cũng không qua xử lý trực tiếp đổ vào
kênh thoát nước của làng Vạn Phúc và dẫn thẳng ra sông Nhuệ.
Sự ô nhiễm trầm trọng đang bao trùm toàn bộ hệ thống kênh, mượng tại đây. Chỉ
trong vài giờ đồng hồ buổi sáng, con mương dẫn chủ lực của Vạn Phúc liên tục đổi
màu hết xanh, đỏ rồi lại chuyển qua những màu tím tái kinh sợ. 100% mẫu nước thải
đều có thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt làng Vạn Phúc có dấu hiệu ô
nhiễm nghiêm trọng. Vạn Phúc có khoảng 100 gia đình chuyên nhuộm lụa. Ông Đỗ
Văn Minh, chủ một xưởng nhuộm khá khang trang ở đây cho biết: “Để nhuộm 40m 2
23
lụa cần dùng 3 kg thuốc nhuộm và sẽ thải ra 20 lít nước thải có chứa nhiều loại chất
độc như BOD, COD”.
Trong khi ở làng lụa Vạn Phúc, hầu hết các xưởng nhuộm đều chưa có hệ thống
xử lý nước thải mà thứ nước thải này đổ trực tiếp ra kênh và chảy ra sông Nhuệ khiến
nước sông khu vực này ngả màu đen đặc. Các loài sinh vật như cây cỏ hay tôm cá
trong sống đều khó có cơ hội tồn tại lâu dài bởi tầng nước mặt nằm trong tình trạng ô
nhiễm báo động. Vào những ngày trời mưa, trên mặt sông lềnh bềnh những rác thải.
Dùng hóa chất thay thế thuốc nhuộm từ thiên nhiên là một trong những nguyên nhân
thải khác 2,04m3.
Bảng 2.2: Chất lượng nước thải do các hộ dệt nhuộm thải ra.
Các chỉ tiêu
Vạn Phúc
QCVN13MT:2015
pH
9,15
5,5-9
Rắn lơ lửng
123
100
DO
1,19
-
COD
11421
200
BOD
5680
50
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Hà Đông.
Hàm lượng BOD và CO trong nước thải do làng nghề Vạn Phúc thải ra cao gấp
hàng trăm lần so với tiêu chuẩn cho phép. Lượng nước thải sau sản xuất cùng nước
thải sinh hoạt chưa qua xử lí chảy hòa chung vào mương thoát nước rồi chảy ra sông