Thực trạng môi trường và quản lý môi trường tại làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây - Pdf 25

♥MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
♥MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 1
Biểu đồ 1.1 Phân bố làng nghề trên cả nước 18
Bảng 1.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam 18
Tái chế 18
Nguồn: Việt Nam môi trường và cuộc sống 19
Bảng 1.2. Đặc trưng nước thải của một số làng nghề dệt nhuộm điển hình 22
Bảng 1.3. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch 25
và nung vôi 25
Bảng 2.1 Chất lượng môi trường không khí tại một số làng nghề trên địa bàn thành phố Hà
Đông 33
Bảng 2.2 Chất lượng môi trường nước mặt trên địa bàn thành phố Hà Đông 34
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ dòng thải quá trình dệt nhuộm tại làng nghề Vạn Phúc 40
Bảng 2.3 Chất lượng môi trường nước thải do các hộ dệt nhuộm thải ra 42
Bảng 2.4 Chất lượng môi trường không khí tại các hộ dệt nhuộm 43
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ hệ thống tổ chức QLMT làng nghề tại thành phố Hà Đông 44
Bảng 2.5 Danh mục quy hoạch các điểm công nghiệp làng nghề trên địa bàn thị xã Hà Đông
đến 2010 49
Sơ đồ 2.3 Mô hình tổ thu gom rác tự quản tại Vạn Phúc 57
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1.1 Phân bố làng nghề trên cả nước 18
Bảng 1.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam 18
Tái chế 18
Bảng 1.2. Đặc trưng nước thải của một số làng nghề dệt nhuộm điển hình 22
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
Bảng 1.3. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch 25
và nung vôi 25
Bảng 2.1 Chất lượng môi trường không khí tại một số làng nghề trên địa bàn thành phố Hà
Đông 33

tương lai, trong đó phải kể đến trước tiên là nâng cao hiệu quả QLMT. Xuất phát
từ vấn đề trên, tôi đề tài “Thực trạng môi trường và quản lý môi trường tại
làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc - thành phố Hà Đông - tỉnh Hà Tây”đã được
chọn làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp.
II. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng môi trường và quản
lý môi trường tại làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc. Trên cơ sở đó để rút ra những
thuận lợi, khó khăn đối với công tác quản lý môi trường tại làng nghề, từ đó đưa
ra các giải pháp và kiến nghị để hoạt động quản lý môi trường làng nghề đạt hiệu
quả hơn.
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu ở đây là các vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý
môi trường làng nghề.
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các vấn đề
liên quan đến quản lý môi trường làng nghề Vạn Phúc - thành phố Hà Đông -
tỉnh Hà Tây.
IV. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập tổng hợp các thông tin cần thiết có liên quan đến
quản lý môi trường làng nghề. Các thông tin có thể được thu thập từ các cơ quan
chức năng (số liệu thống kê, văn bản pháp quy…) kết hợp với việc điều tra thực
địa, phỏng vấn các hộ gia đình ở địa phương để thu thập những thông tin chi tiết
khác thông qua phương pháp sử dụng bảng hỏi. Ngoài ra, thông tin còn có thể
thu thập được qua sách báo, qua nguồn tra cứu trên mạng.
* Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp:
Trên cơ sở các kết quả có được do điều tra, thu thập tài liệu liên quan từ các
nguồn khác nhau, phân tích đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập được để
đưa ra các giải pháp và kết luận.
* Phương pháp đánh giá tác động môi trường: Dựa trên những thông tin có
sẵn và thu thập được để có những đánh giá thích hợp.

Cùng với sự phát triển vấn đề môi trường đang là một thách thức lớn. Con
người ngày càng gây ra những tác động sâu sắc hơn đến môi trường nhằm thỏa
mãn các nhu cầu đang gia tăng.Và chính con người đã phải trả giá cho những gì
mình đã gây ra. Hàng loạt vấn đề môi trường xảy ra do chất lượng môi trường bị
giảm sút như dân số toàn cầu tăng nhanh, sự nghèo đói, sự khai thác quá mức
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát thải quá mức “khí nhà kính”. Mặc dù
đã có rất nhiều nỗ lực nhằm cải thiện chất lượng môi trường, hướng tới sự phát
triển bền vững, tuy nhiên hiện trạng môi trường vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Thực trạng trên đòi hỏi các quốc gia phải nỗ lực hơn nữa, và QLMT là yêu cầu
mang tính tất yếu.
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức, và hướng đích của chủ thể
QLMT lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển
trong hệ thống môi trường và khách thể QLMT, sử dụng một cách tốt nhất mọi
tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu QLMT đã đề ra, phù hợp với luật
pháp và thông lệ hiện hành.
Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể QLMT chính là
việc tổ chức thực hiện các chức năng của QLMT nhằm phối hợp mục tiêu và các
động lực hoạt động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục
tiêu chung của hệ thống môi trường.
Việc sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống là việc sử dụng có
hiệu quả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống môi trường trong điều
kiện tương tác với các hệ thống khác, chấp nhận các rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống.
Việc tuân thủ luật pháp và các thông lệ (công ước quốc tế) hiện hành là việc
tiến hành các hoạt động phát triển theo đúng những điều mà luật pháp trong nước
và quốc tế không cấm, những công ước mà thế giới đã thỏa thuận.
Thực chất của QLMT là quản lý con người trong các hoạt động phát triển
và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống
môi trường.
*) Có nhiều chủ thể cùng tham gia hoạt động QLMT : Các chủ thể có thể bao

Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
- Thứ ba là xây dựng các công cụ có hiệu lực QLMT quốc gia và các vùng
lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và
cộng đồng dân cư.
*) Các nguyên tắc QLMT
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh
tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân
cư trong việc quản lý môi trường.
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ
tổng hợp thích hợp.
- Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được ưu tiên
hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường.
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường
gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm. Người sử dụng các
thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó.
1.2 Các công cụ QLMT
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp, các phương tiện, các phương
thức sử dụng nhằm giúp cho việc thực hiện những nội dung của QLMT môi
trường tốt hơn.
Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ
điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh vĩ
mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là các công cụ có tác động
trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định
xử phạt v.v và công cụ kinh tế. Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường. Công cụ hỗ trợ
gồm có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm
toán môi trường, quan trắc môi trường.

mọi hoạt động nhằm xác định khu vực bị ô nhiễm và các đối tượng gây ô nhiễm.
Đồng thời để bảo đảm hiệu quả quản lý, hệ thống pháp luật về môi trường
đòi hỏi phải đầy đủ và có hiệu lực thực tế.
* Các công cụ pháp lý:
- Các tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được
quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường.
Việc xây dựng các tiêu chuẩn môi trường một mặt phải dựa trên các quy được
kiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải có nhiều căn cứ khoa học, nhằm bảo đảm cho
tiêu chuẩn môi trường phù hợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi về
mặt kinh tế, xã hội. Các tiêu chuẩn môi trường là phương tiện chính để trực tiếp
điều chỉnh chất lượng môi trường phương pháp ở hầu hết các nước phát triển.
- Các loại giấy phép:
Việc cấp hoặc không cấp các loại giấy phép hoặc các loại ủy quyền khác là
một công cụ quan trọng khác để kiểm sát ô nhiễm. Các loại giấy phép nói chung
thường được gắn với các tiêu chuẩn về chất lượng nước hay không khí và có thể
còn phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể như phù hợp với những ảnh hưởng
kinh tế và môi trường, lắp đặt một nhà máy xử lý hay một thiết bị kiểm soát ô
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
nhiễm trong vòng một thời gian nhất định, hoặc sử dụng các biện pháp bảo vệ
môi trường khác.
Ưu điểm của các loại giấy phép là chúng có thể tạo ra điều kiện thuận lợi
cho việc thực thi các chương trình môi trường bằng cách ghi vào văn bản tất cả
những nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm của cơ sở đó. Những thuận lợi khác là có thể
rút hoặc tạm treo giấy phép, tùy theo nhu cầu của nền kinh tế quốc dân hay các
lợi ích xã hội khác, và thường yêu cầu phải trả lệ phí để trang trải các chi phí cho
chương trình kiểm soát ô nhiễm.
Tuy nhiên, việc sử dụng các loại giấy phép thường kéo theo sự giám sát và
thường xuyên báo cáo về phương tiện.
- Công tác kiểm soát việc sử dụng đất và nước
Kiểm soát việc sử dụng đất (như khoanh vùng, các quy định về chia nhỏ) chủ

- Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) đề ra 1972 cho rằng:
Những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng
chống ô nhiễm. Đồng thời nguyên tắc PPP “mở rộng” 1974 chủ trương rằng, các
tác nhân ngoài việc tuân thủ các chi phí tiêu chuẩn đối với việc gây ô nhiễm còn
phải bồi thường cho những người bị thiệt hại do ô nhiễm gây ra.
- Nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP) cho rằng những
người được hưởng lợi từ việc chất lượng môi trường được cải thiện cũng phải trả
một khoản tiền.
* Các công cụ kinh tế
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
- Thuế và phí môi trường: Là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường
vào giá cả sản phẩm theo nguyên tắc PPP. Thuế và phí môi trường được sử dụng
với hai mục đích: Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải
ra môi trường và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước.
- Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm".
Côta gây ô nhiễm là một loại giấy phép xả thải chất thải có thể chuyển
nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp,
v.v được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường". Công cụ này thường
được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có thể quy định quyền sở hữu
như không khí, đại dương. Công cụ giấy phép thích hợp cho việc áp dụng trong
một số điều kiện nhất định như số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường
với tư cách là người mua và người bán giấy phép phải tương đối lớn để tạo được
một thị trường mang tính cạnh tranh và năng động, chất ô nhiễm cần kiểm soát
thải ra từ nhiều nguồn nhưng gây tác động môi trường tương tự nhau, có sự
chênh lệch lớn trong chi phí giảm thải của các doanh nghiệp.
- Ký quỹ môi trường.
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây
ra ô nhiễm môi trường. Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các
doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó
đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ

Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
Đây là công cụ QLMT gián tiếp và rất cần thiết nhằm nâng cao nhận thức
và ý thức môi trường của toàn xã hội. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển như
Việt Nam hiện nay, khi ý thức của người dân về môi trường chưa cao thì tuyên
truyền, giáo dục nâng cao nhận thức là điều không thể thiếu.
1.2.5 Công cụ hỗn hợp
Trong thực tế, rất hiếm khi chỉ sử dụng riêng lẻ các công cụ để thực hiện
QLMT. Các công cụ thường bổ sung hỗ trợ cho nhau.
Công cụ hỗn hợp là sự kết hợp nhiều công cụ trong cùng nội dung quản lý.
Điều này mang lại sự chính xác và hiệu quả cao hơn.
1.3 Quản lý môi trường làng nghề
1.3.1 Giới thiệu chung về làng nghề
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm
trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam.
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu
nhập của làng.
Chính sách đổi mới kinh tế đã đem lại luồng sinh khí mới cho các ngành
nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Sau thời gian ngừng trệ, ì ạch, bế tắc,
trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, kết
hợp với cơ chế thoáng mở cửa của nền kinh tế thị trường và sự năng động cũng
như tâm huyết với nghề của những người dân, các làng nghề thủ công không
ngừng thay da đổi thịt và đã tạo nên một diện mạo mới cho nông thôn Việt Nam.
Theo số liệu gần đây nhất, hiện cả nước có 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
thành phố trong cả nước, riêng địa bàn Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800
làng. Các tỉnh có số lượng làng nghề đông bao gồm: Hà Tây có 280 làng, Thái
Bình có 187 làng, Bắc Ninh có 59 làng, Hải Dương có 65 làng, Nam Định có 90
làng, Thanh Hoá có 127 làng. , trong đó có 300 làng nghề truyền thống.

kim
loại
Tái
chế
nhựa
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
giấ
y
Miền Bắc
138 134 4 53 4 404 17 222
Miền Trung
24 42 0 23 1 121 9 77
Miền Nam
11 21 0 5 0 93 5 42
Tổng cộng
173 197 4 81 5 618 31 341
Nguồn: Việt Nam môi trường và cuộc sống
Hiện nay, do điều kiện thương mại phát triển, nhu cầu ngày càng gia tăng cả
trong nước và thế giới thì quy mô sản xuất của các làng nghề ngày càng phát
triển và được mở rộng, nhưng vẫn còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch, sản
xuất nhỏ là chủ yếu. Trong thời gian qua, các làng nghề đã tạo ra một lượng lớn
hàng hóa và đa dạng sản phẩm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nông
dân, góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế khu vực nông thôn Bên cạnh lợi ích về kinh tế, làng nghề còn là nơi lưu
giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc đặc trưng.
Quy mô của các cơ sở sản xuất ở các làng nghề rất linh động, từ hộ gia đình đến
các tổ hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tuy nhiên chủ yếu là quy mô hộ gia đình
(chiếm 80,1%). Trong mỗi tỉnh có thể có rất nhiều loại làng nghề.
Hiện nay, do điều kiện thương mại phát triển, nhu cầu ngày càng gia tăng cả
trong nước và thế giới thì quy mô sản xuất của các làng nghề ngày càng phát

dân nghi ngờ mắc, chết do ung thư cao cũng là những làng nghề, hoặc làng nằm
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
gần khu công nghiệp, kho hóa chất, bãi rác bị ô nhiễm. Trong các làng nghề, tỷ lệ
mắc bệnh nhiều nhất liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm
phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%.
Nguyên nhân của một số bệnh tật phổ biến trong nhân dân hiện nay, theo
đánh giá của Bộ Y tế là do suy thoái môi trường không khí, nước, đất, chất thải
công nghiệp và đô thị, chất thải y tế, ô nhiễm tiếng ồn
Dựa vào sự phân chia làng nghề có thể thấy các làng nghề tái chế có mức độ
ô nhiễm nghiêm trọng nhất trên cả ba mặt ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm
không khí. Riêng ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm
thường gặp phải các vấn đề về ô nhiễm nước. Đối với các làng nghề thủ công mỹ
nghệ có thể chia ra thành các nhóm: Nhóm không gây ô nhiễm: làm nón, làm
hương thắp, dệt chiếu, đan cói; Nhóm gây ô nhiễm nhẹ: đan lát mây tre, cỏ tế, đồ
gỗ, đá mỹ nghệ, sơn mài; Nhóm gây ô nhiễm nặng: gốm, sứ và chạm mạ bạc.Có
thể xem xét hiện trạng môi trường tại các làng nghề như sau.
1.3.2.1 Hiện trạng môi trường nước
Theo kết quả xét nghiệm của Viện khoa học và công nghệ môi trường
(trường Đại học Bách khoa Hà Nội) thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm. Ô
nhiễm nước có thể được chia ra thành ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất,
ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Ô nhiễm hữu cơ thường gặp ở
các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm. Nước thải của các làng nghề này có
đặc tính chung là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân huỷ sinh học. Ví dụ như nước
thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao (COD =
13.300 - 20.000mg/l; BOD
5
= 5.500 - 125.000 mg/l). Ô nhiễm hóa chất thường
gặp ở các làng nghề dệt nhuộm. Do sản xuất có sử dụng nhiều nước, hoá chất,
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46

2 Ươm tơ Đông Yên- Quảng Nam 20 7,2 632 241 517 69
3 Ươm tơ Bảo Lộc - Lâm Đồng 50 7,8 1.020 780 215 466
4 Dệt nhuộm Phương La -Thái Bình
960 8 - 9,7
320-
900
72-410 14 77-139
5 Dệt đũi Nam Cao - Thái Bình - 8,2 372 212 375 260
6 Dệt nhuộm Thái Phương-Thái Bình - 6,9 312 272 205 195
TCVN 5945 - 1995 (Nước Loại B)
5,5 - 9 100 50 100
Nguồn: Việt Nam môi trường và cuộc sống
Ô nhiễm từ các làng nghề tái chế thuộc mức độ ô nhiễm nặng. Đối với các
làng nghề tái chế giấy, ô nhiễm chủ yếu từ nước thải ở các công đoạn ngâm tẩm,
nấu và nghiền nguyên liệu cũng như công đoạn xeo giấy. Lượng nước thải này
còn chứa hoá chất dư, bột giấy và có hàm lượng chất hữu cơ cao, nên hàm lượng
ôxy hoà tan tại các nguồn tiếp nhận rất thấp, gần như bằng 0. Bột giấy, xơ sợi
còn sót trong nước thải gây bồi đắp lòng mương, ao hồ. Đối với các làng nghề tái
chế nhựa, do đặc thù nguyên liệu thu gom từ nhiều nguồn và đều là nhựa phế
thải có dính nhiều tạp chất, nên trong quá trình công nghệ sử dụng rất nhiều
nước để rửa phế liệu. Lượng nước này ước tính khoảng 20 - 25m
3
/tấn nhựa phế
liệu. Thành phần của nước thải này rất phức tạp, vì chứa nhiều loại hợp chất vô
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
cơ, hữu cơ bám dính trên nhựa trong quá trình sử dụng, trong đó có cả các chất
độc hại (từ bình chứa thuốc trừ sâu, hoá chất, ), vi sinh vật gây bệnh. Tại các
làng nghề tái chế kim loại, lượng nước sử dụng không nhiều, chỉ dùng cho nước
làm mát, vệ sinh thiết bị, nhà xưởng và nước thải từ quá trình tẩy rửa và mạ kim
loại nên có hàm lượng các chất độc hại khá cao, đặc biệt là các kim loại nặng. Ô

từ khâu xay nghiền, phơi, thu gom, phân loại và từ các cơ sở dùng than để gia
nhiệt trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, ô nhiễm không khí tại các làng nghề tái
chế kim loại cũng rất nghiêm trọng. Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân
loại, gia công sơ bộ, tẩy gỉ, nấu, cán, kéo, đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò
đúc thép, hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10-15 lần. Tại các làng
nghề này, bụi thường có chứa kim loại mà chủ yếu là ô-xít sắt nồng độ lên tới
0,5mg/m
3
làm cho không khí có mùi tanh. Trong không khí tại các làng nghề này
luôn phát hiện được hơi hóa chất độc hại như Cl, HCN, HCl, H
2
SO
4
, SO
2
, CO,
NO tuy hàm lượng nhỏ nhưng có mặt thường xuyên trong không khí gây ảnh
hưởng đáng kể đến sức khỏe cộng đồng.
Các tác động chủ yếu đến môi trường từ hoạt động của các làng nghề sản
xuất vật liệu xây dựng là ô nhiễm không khí do bụi và khói lò nung. Quy trình
nung vôi, gạch ở các làng nghề chủ yếu theo phương pháp thủ công sử dụng
nhiên liệu là than. Khí thải từ các lò nung đốt than chứa bụi, các khí ô nhiễm.
Đặc biệt các lò nung thường không được thiết kế đúng quy cách, nên quá trình
cháy không hết, tạo ra các sản phẩm cháy nhiên liệu thiếu ôxy như CO, SO
2
,
Bụi phát sinh từ khâu khai thác, gia công đất nguyên liệu, vận chuyển vào lò, ra
lò và bốc dỡ sản phẩm.
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46
Bảng 1.3. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch

Ô nhiễm môi trường do tiếng ồn: Tiếng ồn lớn chỉ tập trung ở một số làng
nghề cơ khí, đúc, mộc, dệt. Tiếng ồn xuất phát từ các máy móc như máy cưa, máy
bào, máy cán sắt, máy mài, máy đột dập, máy dệt Tiếng ồn gây ảnh hưởng đến
đời sống và sức khoẻ của người dân. Tiếng ồn lớn gây khó chịu, giảm khả năng tập
trung vào công việc. Nếu tiếp xúc với tiếng động có cường độ lớn và thường xuyên
làm giảm khả năng nghe và có thể bị điếc.
Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo hộ lao động gần đây cho thấy trong các
làng nghề, tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm
30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%.
1.3.2.3 Hiện trạng môi trường đất
Phan Thị Quỳnh Lê Lớp KTMT46

Trích đoạn đến 2010 Sơ đồ 2.3 Mô hình tổ thu gom rác tự quản tại Vạn Phúc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status