Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp trƣớc hết em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, văn phòng Bộ xây dựng. Thầy đã
hƣớng dẫn em ngay từ khi mới hình thành lên đề tài và trong quá trình thực
hiện chuyên đề tốt nghiệp.
Em xin cảm ơn đến toàn thể các thầy, cô giáo Trƣờng học viện chính
sách và phát triển nói chung và Khoa quy hoạch phát triển nói riêng đã truyền
đạt những thông tin cần thiết và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt 4
năm học vừa qua.
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn cán bộ phòng Tài nguyên và Môi
trƣờng Quận Hà Đông, UBND Phƣờng Vạn Phúc cùng ông Nguyễn Hữu
Chỉnh- chủ tịch hiệp hội làng nghề đã cung cấp cho em các số liệu cần thiết
phục vụ cho chuyên đề tốt nghiệp.
Là một sinh viên cũng đang trong quá trình thực tập, do vậy trình độ
cũng nhƣ kinh nghiệm của em còn có những hạn chế nhất định, mặt khác do
nguồn tƣ liệu có hạn. Vì vậy trong khóa luận của mình không tránh đƣợc
những thiếu sót, kính mong nhận đƣợc sự giúp đỡ và đóng góp của các thầy,
cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Mục đích và nhiệm vụ đề tài. 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của khóa luận. 2
5. Kết cấu của khóa luận 3
CHƢƠNG 1: NHỮNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ NHỮNG
NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA
LÀNG NGHỀ 4
1.1. Bản chất và yêu cầu đặt ra của phát triển bền vững. 4
1.1.1. Bản chất của phát triển bền vững 4
1.1.2. Sự cần thiết phải đảm bảo tính bền vững trong phát triển kinh tế xã
hội. 5
1.1.3.Những yêu cầu, tiêu chí đánh giá tính bền vững trong phát triển kinh
tế - xã hội. 8
1.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến sự phát triển bền vững của các làng
nghề Việt Nam. 13
1.2.1. Khái niệm làng nghề và đặc điểm làng nghề Việt Nam. 13
1.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến sự phát triển làng nghề 17
2.3.4. Các nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh. 52
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG LÀNG NGHỀ LỤA VẠN PHÚC – HÀ ĐÔNG ĐẾN NĂM 2020. 58
3.1. Mục tiêu và phƣơng hƣớng phát triển làng nghề lụa Vạn Phúc. 58
3.1.1. Mục tiêu 58
3.1.2. Phƣơng hƣớng 59
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề lụa Vạn
Phúc, Hà Đông. 60
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
v
3.2.1.Giải pháp đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng cho làng nghề. 60
3.2.2.Giải pháp về đổi mới thiết bị và công nghệ. 61
3.2.3.Giải pháp về phát triển thị trƣờng. 62
3.2.4.Giải pháp về đổi mới tổ chức sản xuất và phát triển nguồn nhân
lực. 63
3.2.5. Giải pháp ổn định nguyên liệu đầu vào cho sản xuất lụa. 64
3.2.6. Những giải pháp khác. 64
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 69
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
KH-KT
Khoa học kỹ thuật
HĐND, UBND
Hội đông nhân dân, Ủy ban nhân dân
GTSX
Giá trị sản xuất
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ cấu dân số làng Vạn Phúc 2014………………………… … 27
Bảng 2.2. Cơ cấu ngành nghề làng lụa Vạn Phúc 2014……………… … 27
Bảng 2.3. Số lƣợng các hộ kinh doanh và sản xuất lụa tại làng nghề …… 42
Biểu đồ2.1. Số lƣợng hộ sản xuất và kinh doanh lụa Vạn Phúc trên địa bàn
làng Vạn Phúc- Hà Đông- Hà Nội……………………………… … …… 43
Biểu đồ 2.2. Giá bán bình quân mỗi mét sản phẩm…………………………44
dụng và kết hợp giữa thiết bị, công nghệ truyền thống với thiết bị công nghệ
hiện đại ở các làng nghề còn hạn chế. Thu nhập của ngƣời lao động trong làng
nghề còn thấp, việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho ngƣời lao động còn gặp
nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các vấn đề về xã hội và ô nhiễm môi trƣờng
chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, việc khai thác và sử dụng nguyên, nhiên vật
liệu vẫn còn chƣa hợp lý….ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng cuộc sống của
ngƣời dân. Xuất phát từ vấn đề trên tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “ Giải
pháp phát triển bền vững làng nghề lụa Vạn Phúc – Hà Đông ” làm bài
luận tốt nghiệp của mình.
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
2
2. Mục đích và nhiệm vụ đề tài.
2.1. Mục đích của đề tài.
Nghiên cứu, hệ thống hoá và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến phát triển làng nghề theo hƣớng bền vững. Đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề theo hƣớng bền vững.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài.
Hệ thống và làm rõ một số vấn đề lý luận về làng nghề và phát triển
làng nghề theo hƣớng bền vững, những nhân tố tác động đến tính bền vững
của các làng nghề.
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển theo hƣớng bền vững của làng
nghề lụa Vạn Phúc.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển bền vững
làng nghề Vạn Phúc- Hà Đông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận .
Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là: những vấn đề lý luận và thực
tiễn phát triển làng nghề của làng Vạn Phúc theo hƣớng bền vững.
Phạm vi nghiên cứu: địa bàn làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
4
CHƢƠNG 1: NHỮNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG CỦA LÀNG NGHỀ
1.1. Bản chất và yêu cầu đặt ra của phát triển bền vững.
1.1.1. Bản chất của phát triển bền vững
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển bền vững, tuỳ theo cách
tiếp cận, mục đích nghiên cứu sử dụng khác nhau mà khái niệm này đƣợc
hiểu theo nhiều cách khác nhau.Thuật ngữ Phát triển bền vững (PTBV –
Sustainable Development) lần đầu tiên đƣợc sử dụng trong bản “Chiến lƣợc
bảo tồn thế giới” do IUCN đề xuất năm 1980. Mục tiêu tổng thể của Chiến
lƣợc là “đạt đƣợc sự PTBV bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và
thuật ngữ PTBV ở đây đƣợc đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính
Ðể xây dựng một xã hội phát triển bền vững, chƣơng trình Môi trƣờng
Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc[1]:
1. Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
2. Cải thiện chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời.
3. Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất.
4. Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo đƣợc.
5. Tôn trọng khả năng chịu đựng đƣợc của Trái đất.
6. Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân.
7. Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trƣờng của mình.
8. Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát
triển và bảo vệ.
9. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu, không một quốc gia nào
đƣợc lợi hay thiệt riêng mình khi toàn cầu có một môi trƣờng trong lành hay ô
nhiễm.
1.1.2. Sự cần thiết phải đảm bảo tính bền vững trong phát triển kinh
tế xã hội.
Theo UNESCO, phát triển bền vững bao gồm ba thành phần( khía
cạnh) cơ bản :
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
6 Trong mối tƣơng tác, thỏa hiệp giữa ba thành phần chủ yếu nêu trên, mỗi
thành phần lại xuất hiện các nội dung( hệ thống cấp hai) đòi hỏi phải đáp ứng
đƣợc những yêu cầu phát triển riêng cho mỗi thành phần để cùng đạt đƣợc
mục tiêu PTBV.
* Môi trƣờng: phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng
giữa bảo vệ môi trƣờng tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên
đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với
những nguồn tài nguyên đƣợc tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những
nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế đƣợc chia sẻ một cách
bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng nhƣ phát triển của bất cứ ngành kinh
doanh , sản xuất nào cũng đƣợc dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản.
Yếu tố đƣợc chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vƣợng chung cho tất cả mọi
ngƣời, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới
hạn cho phép của hệ sinh thái cũng nhƣ không xâm phạm những quyền cơ
bản của con ngƣời.
Khía cạnh này gồm một số nội dung sau:
Giảm dần mức tiêu phí năng lƣợng và các tài nguyên khác thông qua
công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống.
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
8
Thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi
trƣờng.
Bình đẳng cùng thế hệ trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống,
dịch vụ y tế và giáo dục.
Xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối.
Công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm
thải, tái tạo nănglƣợng đã sử dụng).
Ngoài ba khía cạnh chủ yếu nêu trên, có nhiều ngƣời còn đề cập tới
những khía cạnh khác của phát triển bền vững nhƣ chính trị, hành chính, dân
tộc, tinh thần, công nghệ, quốc tế, sản xuất, và đòi hỏi phải tính toán và cân
đối chúng trong hoạch định các chiến lƣợc và chính sách phát triển kinh tế-xã
hội cho từng quốc gia, từng địa phƣơng cụ thể.
1.1.3.Những yêu cầu, tiêu chí đánh giá tính bền vững trong phát
7. Nhóm Tiêu chí Tiến bộ đích thực (GPI)
8. Nhóm hành động liên cơ quan Hoa Kì về các tiêu chí phát triển bền
vững (I WGSDI)
9. Hệ thống tiêu chí của Costa Rica về PTBV
10. Dự án các tiêu chí Boston
11. Nhóm Đánh giá các thất bại
12. Sáng kiến thông báo toàn cầu.
Ngoài các bộ chỉ tiêu nêu trên, đất nƣớc Bhutan( một quốc gia nằm kín
trong lục địa tại Nam Á, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc) còn đề nghị một
chỉ số gọi là “Tổng hạnh phúc quốc gia”(GNS) với ý nghĩa lấy ngƣời dân làm
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
10
trọng tâm, luôn chú trọng giữ vững sự ổn định chính trị, bảo đảm môi trƣờng
hoạt động tốt, dân chúng sống hạnh phúc. Trƣớc khi Chính phủ phê duyệt bất
cứ dự án nào thì câu hỏi luôn đặt ra là tăng trƣởng kinh tế làm sao giữ ổn định
môi trƣờng, bảo tồn di sản văn hóa, bảo đảm đa dạng sinh học. Bảo đảm mỗi
cá nhân phát triển bền vững, chính là duy trì phát triển bền vững.
Chỉ số GNS đƣợc xây dựng từ 72 tiêu chí, trong đó có nhiều tiêu chí cơ
bản gồm: bảo vệ môi trƣờng; duy trì văn hóa; kinh tế xã hội phát triển ổn
định; quản trị nhà nƣớc tốt; tập trung phát triển hài hòa văn hóa- xã hội-kinh
tế; bảo đảm sức khỏe; hội nhập sinh thái, bảo vệ môi trƣờng….
Ở Việt Nam Thủ tƣớng Chính phủ ký Quyết định số 2157/QĐ-TTg
ngày 11/11/2013 ban hành Bộ chỉ tiêu đánh giá, giám sát phát triển bền vững
địa phƣơng giai đoạn 2013 – 2020.[2]
Bộ chỉ tiêu đánh giá, giám sát phát triển bền vững địa phƣơng giai
đoạn 2013 – 2020 có 43 chỉ tiêu bao gồm các nội dung sau:
I. Các chỉ tiêu chung: có 28 chỉ tiêu gồm:
- Chỉ tiêu tổng hợp: 01 chỉ tiêu đó là Chỉ số phát triển con ngƣời (HDI).
- Lĩnh vực tài nguyên môi trƣờng: có 9 chỉ tiêu:
(1) Tỷ lệ dân số đƣợc sử dụng nƣớc sạch.
(2) Tỷ lệ diện tích đất đƣợc bảo vệ, duy trì đa dạng sinh học.
(3) Diện tích đất bị thoái hóa.
(4) Tỷ lệ các đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm
công nghiệp xử lý chất thải rắn, nƣớc thải đạt tiêu chuẩn môi trƣờng.
(5) Tỷ lệ che phủ rừng.
(6) Tỷ lệ chất thải rắn thu gom, đã xử lý.
(7) Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại.
Chỉ tiêu khuyến khích sử dụng:
(8) Tỷ lệ các dự án khai thác khoáng sản đƣợc phục hồi về môi trƣờng.
(9) Số dự án xây dựng theo cơ chế phát triển sạch – CDM.
Các chỉ tiêu đặc thù vùng: Có 15 chỉ tiêu:
- Vùng trung du, miềm núi: có 01 chỉ tiêu đó là: Số vụ và diện tích rừng
bị cháy, bị chặt phá.
- Vùng đồng bằng: có 02 chỉ tiêu:
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
12
(1) Tỷ lệ diện tích gieo trồng cây hàng năm đƣợc tƣới, tiêu.
Chỉ tiêu khuyến khích sử dụng:
(2) Tỷ lệ diện tích đất ngập nƣớc vùng đồng bằng đƣợc bảo vệ và duy
trì đa dạng sinh học.
- Vùng ven biển: có 02 chỉ tiêu:
(1) Hàm lƣợng một số chất hữu cơ trong nƣớc biển vùng cửa sông, ven
biển.
(2) Diện tích rừng ngập mặn ven biển đƣợc bảo tồn, duy trì đa dạng
sinh học.
- Đô thị trực thuộc trung ƣơng: có 05 chỉ tiêu:
xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên
làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất,
bán sản phẩm theo kiểu phƣờng hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ,
có cùng tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ƣớc chế xã hội
và gia tộc. Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ
giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phƣờng nghề trong quá trình lịch sử
hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị
cƣ trú, làng xóm truyền thống của họ.
Làng nghề là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi
nhỏ cũng có một nghề phụ khác song nổi trội lên một nghề cổ truyền, tinh
xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có
phƣờng, có ông trim, ông phó cả cùng một số thợ và phó thợ, đã chuyên tâm
có quy trình công nghệ nhất định, “sinh ƣ nghệ, tử ƣ nghệ”, “nhất nghệ tinh,
nhất thân vinh”, sống chủ yếu đƣợc bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt
hàng thủ công; những mặt hàng này đã có tính chất mỹ nghệ, đã trở thành sản
phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là vùng rộng xung
quanh và với thị trƣờng đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có
thể xuất khẩu ra cả nƣớc ngoài.”[3]
Có nhà nghiên cứu cho rằng: "Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã
hội ở nông thôn, đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một
không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
14
bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn
hóa" [4].
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông
tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và
các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.
Nam đã thổi những bình, bát thủy tinh nhiều màu sắc. Dƣới thời Ngô đô hộ,
hàng nghìn thợ thủ công Việt Nam bị bắt đƣa sang Trung Quốc để xây dựng
kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh).
Vào thời kỳ Lý-Trần (thế kỷ X-XIV) ngoài việc phát triển nông nghiệp
nhƣ khai hoang vùng ven biển, củng cố đê điều thì TTCN và thƣơng nghiệp
cũng đƣợc triều đình chú trọng phát triển. Nổi bật nhất là nghề dệt ở vùng
Thăng Long, nghề gốm ở Bát Tràng, nghề đúc đồng Đại Bái, Đê Cầu, Đông
Mai (Bắc Ninh), làng rèn sắt Vân Chang (Nam Định).
Thời kỳ hậu Lê đến nhà Nguyễn, nông nghiệp phục hồi phát triển tạo
điều kiện cho nghề TTCN phát triển mạnh và rộng khắp. Thời kỳ này riêng ở
vùng đồng bằng sông Hồng có hàng trăm nghề nhƣ nghề dệt phát triển mạnh
ở Hà Nội và Hà Tây, đúc đồng ở Ngũ Xã - Hà Nội, chế tác vàng bạc ở Châu
Khê - Hải Dƣơng, chạm bạc Đồng Xâm - Thái Bình, dát vàng quỳ Kiêu Kỵ -
Hà Nội, gốm Hƣơng Canh - Vĩnh Phúc, gốm sứ Quan Cậy - Hải Dƣơng, sắt
Đa Hội - Bắc Ninh.
Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) các ngành nghề phát triển phong phú
hơn, các sản phẩm gốm, tơ lụa không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong
nƣớc mà còn đƣợc đem ra trao đổi với các thƣơng nhân nƣớc ngoài nhƣ: Bồ
Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc
Thời kỳ Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) nhiều sản
phẩm công nghiệp xâm nhập vào thị trƣờng Việt Nam, cạnh tranh và chiếm
ƣu thế về chất lƣợng và công nghệ làm cho một số nghề truyền thống bị mai
một và thất truyền. Nhƣng mặt khác lại kích thích một số ngành nghề khác
phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Cũng trong thời kỳ này,
một số nghề mới đƣợc du nhập từ Pháp và một số nƣớc khác. [3]
Đỗ Xuân Trường Lớp QHPT1A
16
Thời gian này TTCN Việt Nam có khoảng 102 phƣơng pháp công nghệ
17
lƣợng làng nghề miền Bắc phát triển hơn, chiếm gần 70% số lƣợng các làng
nghề trong cả nƣớc (2.200 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh
nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung có khoảng 200 làng nghề,
còn lại ở miền Nam hơn 400 làng nghề. Riêng tỉnh Hà Tây (cũ) có đến 258
làng, đƣợc coi là “đất trăm nghề”, nơi có những làng nghề nổi tiếng từ lâu đời
nhƣ lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh, khảm Chuyên Mỹ, dao kéo Đa Sỹ
v.v [6]… Nguyên, vật liệu cho các làng nghề chủ yếu đƣợc khai thác ở các địa
phƣơng trong nƣớc và hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy trực tiếp từ tự
nhiên. Phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng
nghề nông thôn còn lạc hậu tính cổ truyền vẫn chƣa đƣợc chọn lọc và đầu tƣ
khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lƣợng sản phẩm còn thấp, do đó chƣa đáp
ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng và giảm sức cạnh tranh. Do hạn chế về công
nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các các làng nghề vẫn sử dụng chủ yếu là lao
động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả các công đoạn nặng nhọc và
độc hại nhất. Nhiều sản phẩm đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ
thuật cao, tay nghề khéo léo.
1.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển làng
nghề
1.2.2.1. Nhu cầu và biến đổi của nhu cầu về sản phẩm của làng nghề.
Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào khả
năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và thƣờng xuyên biến
đổi của thị trƣờng. Những làng nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi
nhu cầu của thị trƣờng thƣờng có sự phát triển nhanh chóng.
Sự thay đổi nhu cầu của thị trƣờng tạo định hƣớng cho sự phát triển
của các làng nghề. Những làng nghề mà sản phẩm của nó phù hợp với nhu
cầu của xã hội, có khả năng tiêu thụ lớn thì có điều kiện phát triển.
Ngƣợc lại, có những làng nghề, ngành nghề bị mai một, giảm sút đi,
thậm chí dẫn đến tình trạng tan rã không duy trì đƣợc nhƣ nghề làm nón, đan
sản xuất tới nơi có nguồn nguyên vật liệu là một trong những yếu tố quan
trọng luôn đƣợc các đơn vị sản xuất xem xét đến.
Trƣớc đây, phần lớn các làng nghề đƣợc hình thành do có nguồn
nguyên liệu sẵn có tại địa phƣơng. Hiện nay, nguồn nguyên liệu tại chỗ của