Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững các làng nghề truyền thống tại huyện Hoài Đức,Hà Tây - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ở nước ta hiện nay có trên 2.000 làng nghề truyền thống hơn 100 năm
tuổi, hàng năm đóng góp cho xuất khẩu 600 triệu USD. Hầu hết đó là những
làng nghề thủ công truyền thống sản xuất mây, tre đan, dệt vải, thêu ren, sản
xuất đồ nội thất, sơn mài... Các làng nghề tại Việt Nam hiện nay đã góp phần
giúp kinh tế tại các làng quê ngày một phát triển hơn, giúp giải quyết việc làm
và tăng thu nhập cho nông dân trong lúc nông nhàn . Tuy nhiên, làng nghề
VN lại đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như khả năng tổ chức quản lý,
thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường, kỹ năng marketing, cơ sở
hạ tầng và kỹ thuật công nghệ. Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm tại các làng
nghề còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm không phù hợp với phong cách
hiện đại… làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nhất là thị
trường quốc tế. Hơn thế với gần 80% dân số hoạt động trong nông nghiệp và
sống ở nông thôn với mức thu nhập đầu người rất thấp cùng với việc tỷ lệ
sinh đẻ cao, đất canh tác ngày càng có xu hướng co hẹp lại tạo ra một sức ép
rất lớn cho môi trường cũng như hệ sinh thái.Ô nhiễm nguồn nước, không
khí, hóa chất công nghiệp…đang là vấn đề nghiêm trọng cần phải được giải
quyết ngay. Do vậy nghiên cứu việc phát triển bền vững các làng nghề truyền
thống gắn liền với bảo vệ môi trường ô nhiễm môi trường làng nghề hiện rất
cần được quan tâm và nghiên cứu.
Hà Tây ( cũ ) là vùng đất có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng trong cả
nước và đã giao lưu với quốc tế và huyện Hoài Đức cũng không nằm ngoại lệ
trong đó các làng nghề truyền thống đóng một vai trò rất lớn trong việc nâng
cao đời sống người dân và phát triển kinh tế địa phương.Tuy nhiên vấn đề
phát triển các làng nghề ở huyện Hoài Đức nói riêng cũng giống như những
vấn đề về phát triển làng nghề của nước ta nói chung đều vẫn còn những hạn
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chế cần được quan tâm nghiên cứu. Nằm gần thủ đô Hà Nội nên huyện Hoài

a. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
b. Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu
c. Phương pháp lập bảng tính điểm tìm mức độ quan trọng của các giải
pháp

5. KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ
Chương I :Cơ sở lý luận về phát triển bền vững các làng nghề
Chương II : Thực trạng phát triển kinh tế và môi trường ở các làng nghề
truyền thống huyện Hoài Đức
Chương III : Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững các làng nghề huyện
Hoài Đức
Kết luận và kiến nghị
Xin chân thành cảm ơn khoa Kinh tế môi trường - đô thị cùng sự giúp
đỡ của Th.s Vũ Thị Hoài Thu đã giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Về PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC
LÀNG NGHỀ
I.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI LÀNG NGHỀ
1. Khái niệm
Trong những năm gần đây, nhờ chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh
tế và phương hướng đa dạng hóa các ngành nghề của chính phủ, bộ mặt nông
thôn Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt. Các loại hình sản xuất đã bước
đầu đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, đặc biệt là sự hồi
sinh của loại hình các làng nghề sản xuất truyền thống. Chính sự hồi sinh đó
của các làng nghề đã tham gia vào xây dựng kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp
phần nâng cao thu nhập giảm đói nghèo nâng cao dân trí… cũng như đem lại
nguồn thu nhập lớn cho địa phương cũng như đất nước.
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều
có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra

• Làng nghề mới:là những làng nghề được hình thành do nhu cầu phát
triển kinh tế mà một số cổ đông các hộ tham gia chuyên sản xuất một
mặt hàng nào đó.
Tuy có sự phân chia về mặt định nghĩa của hai loại làng nghề nhưng chúng
vẫn có những đặc điểm chung của làng nghề đó là sản phẩm làng nghề
thường có tính độc đáo, độ tinh xảo cao,thể hiện được nét đặc trưng của các
vùng miền khác nhau.
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II.VAI TRÒ CỦA CÁC LÀNG NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ- XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
Trên thực tế Việt Nam có diện tích đất bình quân đầu người tương đối
thấp, hơn thế công việc của nhà nông lại mang tính thời vụ cao và chỉ làm
trong một thời gian nhất định. Do đó việc dư thừa lao động nhàn rỗi trong
thời gian dài của người dân tương đối lớn ( gần 30% quỹ sức lao động tương
đương với 9 triệu lao động ). Đồng thời thu nhập thuần nông rất thấp và chủ
yếu mới giải quyết được vấn đề lương thực.Chính vì vậy sự phát triển của các
làng nghề mang tính tất yếu để có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi của người
dân nhằm tăng thêm thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cũng như thúc
đẩy các vùng lân cận phát triển.Mặt khác nó còn tạo ra các dòng lưu thông
lưu thông hàng hóa và văn hóa giữa các vùng, miền với nhau.
Ở nước ta với trên dưới 2000 làng nghề khác nhau đã taọ việc làm cho
khoảng gần 2 triệu lao động.Tính riêng Hà Tây (cũ nay được sát nhập vào Hà
Nội) hiện có gần 100 làng nghề đã sử dụng 80.000 nhân công, chiếm hơn 7%
lượng lao động nông thôn ( Số liệu Bộ LĐTB xã hội, 2006). Bắc Ninh có 60
làng nghề sử dụng 24.000 lao động chiếm 8.5% tổng lực lượng lao động,
chiếm 74% giá trị sản lượng công nghiệp ngoài quốc doanh ( Theo Báo Nhân
Dân , 2006)
Trong vòng 10 năm qua lọai hình sản xuất làng nghề có mức tăng trưởng
(giá trị sản lượng ) vào khoảng 8% năm (VietNamNet 8-9-2006 ). Các tỉnh

đẩy nhanh vòng quay của vốn trong dân. Theo điều tra tổng số vốn nhàn rỗi
trong dân nông thôn hiện nay không dưới 6000 tỷ đồng, chủ yếu dưới hình
thức tiền mặt,vàng bạc… Lượng vốn này thường rất khó huy dộng bởi các
hình thức thu hút vốn quy mô lớn từ nhà nước do người dân phần lớn còn
mang tư tưởng e ngại và thiếu thông tin cũng như hiểu biết cần thiết.Các dự
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
án lớn của nhà nước hay các doanh nghiệp thường là rất lâu mới có khả năng
thu hồi vốn cho nhân dân do đó họ thường giữ tiền hoặc gửi ngân hàng.Chính
vì vậy các làng nghề với đặc điểm là hoạt động đơn giản và không loại trừ
( tùy từng người mà vốn huy động khác nhau ) mà mọi người từ người có vốn
lớn đến người có vốn nhỏ đều có thể tham gia.Người dân tham gia vào hoạt
động tạo ra sản phẩm tại các làng nghề không nhất thiết phải cần có nhà
xưởng to lớn mà họ có thể tận dụng được ngay nhà ở của mình để tham gia
sản xuất.Chính vì điều kiện đơn giản đấy của sản phẩm làng nghề nên việc
phát triển làng nghể tại các địa phương của Việt Nam là rất cần thiết.Chính có
sự phát triển của làng nghề cũng góp phần vào việc hạn chế và giảm thiểu các
tác động tiêu cực của việc có rất nhiều lao động nhàn rỗi hiện nay.
Đặc biệt với việc tỷ lệ chênh lệch dân giữa thành thị và nông thôn rất lớn
hiện nay thì việc các làng nghề được chú trọng sẽ góp phần giảm bớt được
lượng lao động lớn tại các địa phương di cư đến các đô thị vốn đã quá đông
đúc. Bởi khả năng tiếp nhận luồng di cư còn hạn chế của các trung tâm kinh
tế nên hầu hết người dân di cư đều chỉ làm được những công việc đơn giản
nên cũng giống như ở nông thôn họ cũng có thời gian nhàn rỗi rất lớn.Chính
vì vậy nó sẽ tạo ra rất nhiều vấn đề về xã hội như quản lý dân, an ninh trật
tự… Do đó sự phát triển của các làng nghề sẽ gián tiếp góp phần giảm bớt các
vấn đề xã hôi phát sinh bởi luồng dân cư không có việc làm ổn định di cư đến
các đô thị.
Cũng chính những điều kiện và các yếu tố trên mà các làng nghề đã và đang
trở thành một lực lượng kinh tế đáng kể có vai trò không nhỏ trong sự tồn tại

dụng theo một cách thức tương tự. Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bảo vệ động vật hoang dã", tại Hội nghị Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin
- nhà bảo vệ môi trường Thuỷ Sĩ đã đề cập đến việc cần phải bảo vệ thiên
nhiên.
Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng
là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế giới II
(UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU). Các tổ chức này đã phối hợp chặt
chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương
trình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững. Năm
1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề "Thực trạng
bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50". Tài liệu này
được cập nhật vào năm 1954 và được coi là một trong số những tài liệu quan
trọng của "Hội nghị về môi trường con người" (1972) do Liên hiệp quốc tổ
chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và cũng được xem như là "tiền thân" của báo
cáo Brunđtland.
Thập kỷ 70, thuật ngữ xã hội bền vững tiếp tục xuất hiện trong các công trình
nghiên cứu của các học giả phương Tây, với công trình của Barry Cômmner
"Vòng tròn khép kín" (1971), Herman Daily "Kinh tế học nhà nước mạnh"
(1973) và công trình "Những con đường sử dụng năng lượng mềm: về một
nền hoà bình lâu dài" của Amory Lovins (1977). Khái niệm phát triển bền
vững tiếp tục được đề cập và bổ sung với những đóng góp quan trọng thể hiện
trong các tác phẩm của Maurice Strong (1972), và Ignacy Sachs (1975). Đặc
biệt khái niệm này được đề cập toàn diện nhất trong công trình của Laster
Brown "Xây dựng một xã hội bền vững" (1981).
Đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng
trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài
nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình
môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và

ý đặc biệt đến cuộc sống của người nghèo đồng thời phải tránh những chi phí
đáng kể và không thể bồi thường được mà thế hệ tương lai phải gánh chịu.
Khaí niệm phát triển bền vững,được đồng ý một các tổng quát, là một sự
phát triển kinh tế tồn tại được về lâu dài.Nội dung của phát triển bền vững
được biểu thị qua sơ đồ dưới đây:
Hình vẽ: Các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và
bảo vệ môi trường trong PTBV.
PHÁT
TRIỂN
BỀN
VỮNGVV
Cân đối hài hoàCC
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
Kế hoạch hoá dân số
Xoá đói giảm nghèo
Phát triển giáo dục
Tạo công ăn việc làm
Chuyển dịch cơ cấu lao động
Nâng cao phúc lợi xã hộiNN
12
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI
NGUYÊN
- Sử dụng hợp lý tài nguyên đất
- Sử dụng hợp lý tài nguyên nước
- Tăng độ che phủ rừng
- Bảo tồn đa dạng sinh học
- Tiết kiệm tài nguyên không tái
sinh: than, dầu khí, đá, đất sét, các
kim loại...
PHÁT TRIỂN KINH TẾ

phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường,
bền vững văn hoá, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô
hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler
(1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh
tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã
hội, môi trường của Worl Bank.
Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các
công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của
Phạm Xuân Nam. Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện
quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ
môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo quốc
tế về phát triển. Trong một bài viết gần đây đăng trên Tạp chí Xã hội học
(2003) của tác giả Bùi Đình Thanh với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trước
ngưỡng của thế kỷ XXI" tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển
bền vững: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn
hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. Nhìn chung các công trình nghiên cứu
này có một điểm chung là thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo
Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm rằng những thao tác này còn mang tính
liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ
địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn
chưa được làm rõ.
2. Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống
2.1 Sự cần thiết phải phát triển bền vững các làng nghề truyền thống
Sự phát triển của các làng nghề là một trong những lời giải rất chính
xác cho bài toán giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn hiện
nay.Tuy nhiên các làng nghề hiện nay vẫn mang nhiều tính tự phát và chưa có
một kế hoạch dài hạn cho tương lai.Chính vì vai trò quan trọng như vậy của

15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát triển làng nghề, phát triển ngành nghề nông thôn. Năm 2006, Chính phủ
ban hành Nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn,
trong đó nhấn mạnh chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề bao gồm: bảo
tồn phát triển làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề gắn với du lịch,
phát triển làng nghề mới, phong tặng nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân,
thương hiệu làng nghề thủ công nổi tiếng cho những đơn vị, cá nhân có công
bảo tồn, phát triển ngành nghề thủ công truyền thống, ngành nghề mới ở nông
thôn nước ta. Năm 2006, Bộ Công nghiệp đã xây dựng xong và trình Chính
phủ chiến lược phát triển tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006-2015, trong đó
đặt mục tiêu giải quyết việc làm thường xuyên cho 1,5 triệu lao động và từ
3-5 triệu lao động nông nhàn, xây dựng hệ thống sản xuất cạnh tranh và bền
vững, phát triển các sản phẩm thủ công và tăng cường năng lực cho các làng
nghề. Năm 2005, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã có đề án
Chương trình phát triển “Mỗi làng một nghề” giai đoạn 2006-2015. Mục tiêu
là nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của các địa phương về ngành nghề nông
thôn, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, thu hút và tạo ra mối
liên kết chặt chẽ hơn giữa nhiều “nhà” như: nhà nước, nhà kinh doanh, nhà
khoa học, nhà văn hoá, nhà thiết kế mỹ thuật, nhà du lịch cùng tham gia phát
triển ngành nghề, tạo ra những nghề mới, bảo tồn giá trị truyền thống, tạo ra
các bản sắc mới của làng xã trong các sản phẩm. từ đó thúc đẩy ngành nghề
nông thôn phát triển bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp,
dịch vụ và nâng cao thu nhập của người dân nông thôn. Tổng Cục Du lịch
đang hình thành “Nghiên cứu khả thi phát triển du lịch gắn với sản xuất tiểu
thủ công nghiệp dọc hành lang Đông-Tây”. Mục tiêu của dự án là kết hợp
giữa hoạt động phát triển du lịch với sản xuất hàng thủ công nghiệp thông qua
du lịch làng nghề trong khu vực dọc theo tuyến hành lang từ Myanmar, qua
16

Các làng nghề nói chung và vùng Đồng bằng Sông Hồng nói riêng tuy có
nhiều làng nghề trong cùng khu vực địa lý, nhưng mức độ phát triển giữa các
làng nghề rất khác nhau. Một số làng nghề phát triển rất nhanh nhờ vào sự ổn
định đầu ra của sản phẩm như lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh, nhưng
cũng có những làng nghề như: cốm làng Vòng đang đứng trước nguy cơ bị
mai một. Chiến lược phát triển du lịch làng nghề đang mang tới cho làng
tranh Đông Hồ những cơ hội khôi phục lại nghề truyền thống, song cũng có
những làng nghề đã từng mai một nhưng tự hồi sinh như gốm Phù Lãng với
thương hiệu Gốm Nhung. Gốm sứ Bát Tràng vẫn duy trì được nhờ hoạt động
thương mại và du lịch … Đây cũng là đặc điểm chung của các làng nghề Việt
Nam hiện nay. Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện nay chỉ
có 32% làng nghề hoạt động tốt, 42% làng nghề hoạt động cầm chừng và
26% số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một.
Một trong những điểm yếu lớn nhất hiện nay của các làng nghề là công
tác thông tin và kỹ năng thị trường, ở các làng nghề có nhiều nghệ nhân có
đôi “bàn tay vàng”, làm ra những sản phẩm chất lượng rất tốt, nhưng ít người
được biết đến, mức độ chủ động tham gia thị trường rất hạn chế. Việt Nam đã
trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), điều này sẽ
mở ra cơ hội lớn để sản phẩm làng nghề vươn ra thế giới. Để nắm bắt được cơ
hội này, trang bị kỹ năng thị trường là điều kiện số 1 để có được thành công,
tuy nhiên phải thấy được thách thức “Ở các nước trên thế giới, nước nào cũng
có chủ trương phát triển hàng thủ công mỹ nghệ, mà họ làm việc này từ nhiều
năm nay. Muốn thắng trong cuộc cạnh tranh này, VIệt Nam làm và phải làm
mạnh mẽ để hỗ trợ làng nghề phát triển. Những cố gắng của Chính phủ, các
làng nghề, và nghệ nhân sẽ phải nhiều hơn rất nhiều để đưa sản phẩm của
mình vươn ra thế giới một cách thắng lợi, tránh rơi vào tình trạng “thua ngay
trên sân nhà”. Một số làng nghề cũng có nghiên cứu thị trường, nhưng chưa
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đồng bộ, chủ yếu là sản xuất theo đơn đặt hàng phụ thuộc nhiều vào trung

- Vùng đồng 5.824,96 ha
- Vùng bãi là 2.421,81 ha
Trong đó :
- Đất nông nghiệp: 4.217,09 ha
- Đất phi nông nghiệp: 3972,38 ha
- Đất chưa sử dụng: 57.30 ha
Toàn huyện có 19 xã, 01 thị trấn trong đó vùng đồng gồm 09 xã và 01 thị
trấn, vùng bãi sông Đáy gồm 10 xã.
1.2 Điều kiện khí hậu
Các điều kiện khí tượng tại khu vực có mối quan hệ chặt chẽ tới sự lan truyền
và khả năng tự chuyển hóa của các chất ô nhiễm phát tán. Các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp là:
Nhiệt độ và độ ẩm không khí
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhiệt độ không khí hàng năm khoảng 23,64
o
C.Tháng có nhiệt độ trung
bình thấp nhất là tháng 1 ( nhiệt độ từ 13,2
o
C – 17,1
o
C ), còn tháng có nhiệt
độ trung bình cao nhất là tháng 7 ( nhiệt độ từ 13,2
o
C - 38
o
C ).
Độ ẩm không khí
Độ ẩm trung bình hàng năm là 85,59%.Độ ẩm trung bình tháng cao

Toàn huyện hiện có 51/53 làng nghề, trong đó có 11 làng nghề được
UBND tỉnh Hà Tây ( trước đây ) công nhận.
Tổng giá trị sản xuất năm 2008 là 2.330 tỷ đồng, trong đó công nghiệp –
xây dựng chiếm 55,4 % ,thương mại dịch vụ chiếm 32 %; nong nghiệp chiếm
12,6 % cơ cấu giá trị sản xuất. Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 theo
giá hiện hành là 13,7 triệu đồng/người. Các ngành nghề chủ yếu là chế biến
nông sản chiếm 37,1 %; dệt may chiếm 28,3 %; công nghiệp khác chiếm 34,6
%. Giá trị sản xuât công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tính theo thành phần
kinh tế : khối doanh nghiệp Nhà nước chiếm 3.3 %; khối doanh nghiệp tư
nhân chiếm 40,1 %; hộ gia đình chiếm 56,6 %. Do quá trình đô thị hóa, công
nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng; diện tích sản xuất nông nghiệp cuối năm
2008 giảm còn 4.076,97 ha so với 5.020,84 ha năm 2005, riêng diện tích đất
trồng lúa giảm 1.079,13 ha. Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi chiếm tỷ
trọng cao, năm 2008 số lượng gia súc, gia cầm toàn huyện gồm 411 con trâu,
bò 3.703 con, lợn 87.904 con, gia cầm 376.735 con, trong đó có một số xã
phát triển chăn nuôi như Cát Quế, Đức Thượng cũng gây ô nhiễm môi trường.
2.3. Các hoạt động chính của các làng nghề truyền thống của huyện Hoài
Đức
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nằm trong vùng Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng về phía đông của
thành phố Hà Nội, đã từ lâu, Hoài Đức đã nổi danh với những làng nghề
truyền thống đa dạng và phong phú. Hầu hết các xã trong huyện đều có làng
nghề truyền thống, trong đó có 11 làng nghề được tỉnh công nhận. Đây là điều
kiện cơ bản để Hoài Đức phát triển mạnh công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
Bên cạnh đó, với vi trí địa lý hết sức thuận lợi là nằm trong khu tam giác kinh
tế trọng điểm của khu vực phía bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), lại
có hệ thống đường giao thông thuận tiện nối liền Thủ đô Hà Nội và các tỉnh,
thành trong cả nước bằng quốc lộ 6 và quốc lộ 32 và đường cao tốc Láng -
Hòa lạc, các tỉnh lộ 70,72,79; đặc biệt, trong thời gian tới, tuyến đường vành

ĐỨC
Trong những năm gần đây nhờ đổi mới cơ chế cũng như chinh sách phát
triển được đảng cùng các cấp chính quyền quan tâm giúp đỡ mà bộ mặt của
các làng nghề cũng dần thay đổi ngày một phát triển hơn. Thật vậy các làng
nghề hiện nay đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế của huyện
cũng như cải thiện đáng kể đời sống của người dân.Có thể kể đến là sự phát
triển của các làng nghề đã tạo được tiếng vang cũng như có đóng góp lớn cho
huyện. Đó là các làng nghề chế biến nông sản ở Minh Khai, Dương Liễu, Cát
Quế, là làng nghề chuyên tạc tượng phật ở Sơn Đồng, làng dệt La Phù, hay
như làng chế biến gạo Đức Giang…
Ðến nay, xã Dương Liễu, huyện Hoài Ðức (tỉnh Hà Tây)có hơn 2.650
hộ, thì đã có khoảng 2.000 hộ tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại dịch vụ (CN, TTCN, TMDV); toàn xã có 25 công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, trong đó 18 công ty hoạt động trên lĩnh
vực sản xuất, chế biến các mặt hàng nông sản thực phẩm với 6.500 lao động,
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
riêng lao động bên ngoài đến làm thuê thường xuyên dao động từ 300 - 500
người.
Ngoài các sản phẩm truyền thống của xã như miến dong, bún khô, đỗ xanh
bóc tách, mạch nha có mặt ở khá nhiều địa phương trong cả nước và xuất
khẩu sang một số nước như Lào, Cam-pu-chia, Nga, Trung Quốc; gần đây
xuất hiện các nghề mới như dệt len, dệt chun, thêu và may công nghiệp, làm
màng mỏng.
Chỉ nói riêng về các mặt hàng nông sản thực phẩm, hằng năm người dân
Dương Liễu đã sản xuất, chế biến một khối lượng bao gồm: 60 nghìn tấn bột
sắn, 17 nghìn tấn tinh bột dong, 15 nghìn tấn mạch nha, 4.500 tấn đỗ xanh
bóc tách, 4.500 tấn miến dong, 4.000 tấn bánh, kẹo các loại.... Theo cách tính
toán của cán bộ xã thì mấy năm trở lại đây, thu nhập từ sản phẩm nông nghiệp
giảm dần, và tỷ trọng CN, TTCN và dịch vụ không ngừng tăng lên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status