i
Lời Cảm Ơn
Sau một thời gian học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Nha Trang,
được sự tận tâm hướng dẫn giảng dạy của thầy cô. Em đã hoàn thành khóa học của
mình đồng thời hoàn thành đồ án tốt nghiệp này. Để đạt được kết quả như ngày
hôm nay, em xin gửi lời biết ơn đến toàn thể thầy cô trường Đại học – Nha Trang đã
truyền đạt cho em kiến thức và kinh nghiệm quý báu để em có thể trưởng thành và
vững tin khi bước vào đời.
Đồng thời em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Dương Trí Thảo
và cô Đỗ Thị Thanh Vinh đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo cho em rất nhiều trong
việc tiếp cận nghiên cứu và hoàn thành đồ án này.
Nhân đây, cháu cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến ban lãnh đạo Sở
thủy sản Hà Tĩnh mà đặc biệt là Phó giám đốc Trần Văn Liễu đã tạo điều kiện, giúp
đỡ cháu nhiều trong quá trình thực tập và tiếp xúc thực tiễn.
Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn thành kính và sâu sắc tới bố mẹ và những
người trong gia đình, những người đã nuôi dưỡng, chăm sóc, động viên và tạo mọi
điều kiện cho con học tập và được như ngày hôm nay.
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Cẩm Hiếu
2.6 Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 21
2.6.1 Vị trí và vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản 21
2.6.2 Đặc điểm của ngành nuôi trồng 22
2.6.3 Hiện trạng ngành nuôi trồng thủy sản nước ta 24
2.6.4 Các chỉ tiêu phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 25
2.6.4.1 Về Kinh tế, xã hội 25
2.6.4.2 Về môi trường và nguồn lợi 28
iii
2.6.4.3 Về thể chế 30
Chương 3: Thực Trạng Phát Triển Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản Hà Tĩnh
3.1 Điều kiện tự nhiên và các đặc điểm kinh tế xã hội Hà Tĩnh 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.1.2 Địa hình 32
3.1.1.3 Khí tượng thủy văn 33
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 35
3.1.3 Đặc điểm môi trường 39
3.1.3.1 Hiện trạng môi trường nước sông 39
3.1.3.2 Môi trường trầm tích 39
3.1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội Hà Tĩnh 39
3.1.4.1 Dân số - Lao động 39
3.1.4.2 Cơ cấu GDP của tỉnh 40
3.1.4.3 Văn hóa – xã hội 42
3.1.4.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 42
3.1.4.5 Hiện trạng phát triển một số ngành 43
3.1.4.6 Cơ sở hạ tầng phục vụ NTTS 46
3.1.4.7 Những khó khăn và thuận lợi chính về điều kiện tự nhiên môi trường
và kinh tế xã hội đối với phát triển NTTS Hà Tĩnh 47
4.1.3 Định hướng phát triển NTTS Hà Tĩnh 92
4.2 Một số giải pháp cụ thể 96
Giải pháp 1: Các giải pháp về kỹ thuật 96
Giải pháp 2: Về quy hoạch và thực hiện quy hoạch 103
Giải pháp 3: Các giải pháp về chính sách 105
Giải pháp 4: Một số giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ NTTS 107
Kết luận 111
Kiến nghị 112
Tài liệu tham khảo 113
Phụ lục
v
Danh Mục Các Bảng Và Biểu Đồ
Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu phát triển NTTS bền vững
Bảng 3.1: Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo ngành kinh tế(giá hiện hành)
Bảng 3.2 : Kết quả sản xuất thủy sản Hà Tĩnh từ năm 2004 – 2006
Bảng 3.3 : Phương thức chủ yếu trong nuôi cá nước ngọt năm 2006
Bảng 3.4 : Phương thức chủ yếu trong nuôi tôm năm 2006
Bảng 3.5 : Diện tích có khả năng NTTS mặn, lợ đến năm 2015
Bảng 3.6: Diện tích có khả năng phát triển NTTS nước ngọt đến 2015
Bảng 3.7 : Diện tích NTTS nước ngọt phân theo Huyện
Bảng 3.8:Tốc độ phát triển diện tích NTTS nước ngọt phân theo Huyện
Bảng 3.9: Diễn biến sử dụng diện tích NTTS nước ngọt
Bảng 3.10: Kế hoạch và thực hiện kế hoạch diện tích NTTS nước ngọt đến 2006 theo
địa phương
Bảng 3.11: Kế hoạch và thực hiện kế hoạch diện tích NTTS nước ngọt đến 2006 theo
loại hình
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Hà Tĩnh
Hình 3.2: Biểu đồ giá trị tổng sản phẩm phân theo ngành kinh tế
Hình 3.3: Sơ đồ bộ máy hành chính quản lý thủy sản tỉnh Hà Tĩnh
Hình 3.4: Phương thức nuôi cá nước ngọt năm 2006
Hình 3.5 : Diện tích nuôi trồng của Tỉnh 2001 – 2006
Hình 3.6: Biểu đồ sản lượng nuôi trồng của Tỉnh 2001 – 2006
Hình 3.7: Năng suất nuôi trồng của Tỉnh 2001 – 2006
Hình 3.8: Lao động trong ngành NTTS 2001 - 2006 vii
Danh Mục Viết Tắt
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
BTC: Bán thâm canh
QCCT: Quảng canh cải tiến
UBND: Ủy ban nhân dân
XNK: Xuất nhập khẩu
HTX: Hợp tác xã
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
VAC: Vườn ao chuồng
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CS: Chính sách
SX: sản xuất
SL: Sản lượng
PTBV: phát triển bền vững
THCS: trung học cơ sở
DT: Diện tích
trung, ô nhiễm môi trường, rủi ro trong nuôi trồng cao… tóm lại là nuôi trồng thủy
sản còn thiếu bền vững.
Xuất phát từ thực trạng trên, em đã chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát
triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh ”. Những vấn đề được đề cập
trong đồ án này không ngoài mục đích tự trang bị thêm cho mình những kiến thức
thực tế, đồng thời đề xuất hướng và một số giải pháp góp phần phát triển bền vững
ngành NTTS Hà Tĩnh trong thời gian tới.
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu nhưng đây vẫn còn là vấn đề mới ở Việt
Nam. Hơn nữa, thời gian nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm thực tiễn thiếu thốn đồng
thời kiến thức còn hạn chế nên đồ án không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính
ix
mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bác, cô, chú,
anh, chị trong Sở thủy sản Hà Tĩnh để đồ án được hoàn thiện hơn.
Đồ án này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Dương Trí Thảo, cô Đỗ
Thị Thanh Vinh, cùng sự giúp đỡ của lãnh đạo và nhân viên trong Sở thủy sản Hà
Tĩnh đã cung cấp tài liệu, thông tin để em hoàn thành cuốn đồ án này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Nha Trang, ngày 25 tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Cẩm Hiếu
kháng sinh bị cấm, việc mở rộng tuỳ tiện diện tích nuôi đã gặm nhấm gần hết các vùng
rừng ngập mặn, che kín các cửa sông, lấp kín các đầm phá, l àm cho hệ sinh thái ven bờ bị
phá hủy mạnh, gây tổn hại lớn cho tài nguyên môi trường sinh học, sinh thái biển và
những vùng đất ngập nước ven biển vẫn đang diễn ra.
Bên cạnh đó thủy sản nước ta lại mang đặc tính của một ngành kinh tế có hoạt động
sản xuất đa dạng, chịu nhiều rủi ro về mặt thị trường và môi trường, trong bối cảnh hội 2
nhập kinh tế thế giới và gia tăng các tác động xấu từ các hoạt động của con người. Do
vậy, để ổn định mức tăng trưởng kinh tế của ngành trong thời gian dài, không có cách
nào khác là phải đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển.
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu, là vấn đề sống còn trong tiến trình phát triển
của xã hội loài người, vì vậy đã được toàn thể thế giới quan tâm và trở thành một mục
tiêu quan trọng trong các chương trình nghị sự của các địa phương, các quốc gia và
quốc tế. Đến nay đã có nhiều nghiên cứu khoa học được tiến hành nhằm xây dựng các
tiêu chí PTBV, trong đó nghiên cứu về PTBV cũng đã được triển khai trong ngành nuôi
trồng thủy sản. Tuy nhiên, nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm
chung là thao tác hóa khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, còn mang tính liệt
kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương,
vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ. Do
đó việc nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp chính trong công tác NTTS theo hướng
bền vững là yêu cầu hết sức cần thiết tại Việt Nam nói chung và trên từng địa phương
cụ thể nói riêng. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó em thực hiện đề tài: “Thực trạng và
những vấn đề đặt ra đối với sự p hát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh ”
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Phát triển bền vững là vấn đề được toàn thế giới quan tâm, được các quốc gia
trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát
triển của lịch sử kể từ khi Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới (Uỷ ban
Phân tích thực trạng phát triển ngành NTTS Hà Tĩnh dưới góc độ phát triển bền
vững (Kinh tế, xã hội, môi trường, nguồn lợi và thể chế) từ đó rút ra một số vấn đề
quan trọng đã và đang đặt ra đối với sự phát triển bền vững ngành NTTS Hà Tĩnh.
Trên cơ sở Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam, chiến lược phát triển
kinh tế xã hội Hà Tĩnh và những vấn đề đặt ra ở trên, đề xuất hướng và một số giải
pháp góp phần phát triển bền vững ngành NTTS Hà Tĩnh trong thời gian tới.
1.4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh của sự phát triển bền vững đối với
NTTS trên địa bàn Hà Tĩnh gồm các doanh nghiệp, hộ gia đình.
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Bao gồm các số liệu thống kê của các cơ quan quản lý
Nhà nước ( Niên giám thống kê, số liệu thống kê của các sở, UBND Tỉnh…)
Nguồn dữ liệu sơ cấp: Bao gồm các số liệu, tài liệu, thông tin của các doanh
nghiệp, hộ gia đình ngư dân (doanh thu, chi phí…), chưa có trong các tài liệu thứ
cấp được tiến hành điều tra trực tiếp thông qua phỏng vấn.
1.4.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
Phương pháp hệ thống hóa và tổng hợp cơ sở lý thuyết.
Sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp tình hình kinh tế xã hội(điều kiện
tự nhiên, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, tài nguyên đất, tài nguyên sinh 4
vật…). Thống kê và so sánh số liệu theo thời gian. Sử dụng phần mềm Excel để xử
lý dữ liệu thu thập được.
1.5 Nội dung và kết cấu của đề tài
Tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện ở hình sau
Hình 1.1 : Sơ đồ tóm tắt nội dung và trình tự nghiên cứu
tế, xã hội ở
địa bàn
nghiên cứu
- Vị trí, địa hình
- Tài nguyên, khí hậu, đất, nước
- Tài nguyên sinh vật
- Tài nguyên có th ể P/Triển NTTS
- Kinh tế, dân số, tập quán
- Thực trạng SX T/Sản
- Cơ sở hạ tầng …
Các giải pháp CS
CS kinh tế, xã hội
CS môi trường
CS công nghệ
CS đầu tư, tín dụng
Các giải pháp quy
hoạch, quản lý
Tổ chức nuôi
Quy ho
ạch diện tích
nuôi trồng
Phân cấp quản lý
Hoàn thiện tổ chức
khuyến ngư
Phân tích và đánh giá
Những tồn tại.
Vấn đề đặt ra đối với
phát triển bền vững
ngành NTTS. 5
Đề tài gồm 4 chương
Chương 1: Tổng Quan Và Phương Pháp Nghiên Cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững ngành thủy sản.
Chương 3: Thực trạng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh.
Chương 4: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững
ngành nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh.
tương lai”.
Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng
những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự
nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố
quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng
lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự
bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ.
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả,
xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các
thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực
hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.
Như vậy, khái niệm “Phát triển bền vững” được .đề cập trong báo cáo
Brundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và
môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Nội dung 7
khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã
hội. Với ý nghĩa này, nó được xem là “tiếng chuông” hay nói cách khác là “tấm
biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại.
Theo Hội đồng Chính phủ Australia (1992) đĩnh nghĩa Phát triển bền vững là “
Sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn lợi của cộng đồng sao cho các quá trình
sinh thái mà con người phụ thuộc vào được giữ gìn, và chất lượng chung của cuộc
sống con người trong hiện tại và tương lai có thể cải thiện được”.
Hội đồng của FAO (1988 ) định nghĩa Phát triển bền vững là “ Quản lý và bảo
tồn các nguồn lợi tự nhiên và hướng tới thay đổi về kỹ thuật và thể chế nhằm đảm
bảo đạt được sự thỏa mãn các nhu cầu thường xuyên của con người cho thế hệ hôm
nay và thế hệ mai sau. Phát triển bền vững bảo tồn nguồn lợi ở đất , nước, nguồn
gen động, thực vật, là thân thiện với môi trường và không làm môi trường bị suy
PT
BV
Mục tiêu
Kinh tế
Kinh tế
MÔI TRƯỜNG
Đời sống 8
2.2 Bối cảnh toàn cầu sự phát triển ngành thủy sản và những vấn đề đặt ra.
Từ trong thần thoại
Những chú cá, con sò hay ông lão, chàng trai đánh cá không phải là nhân vật
hiếm gặp trong truyện cổ tích của nhiều nước, nhiều dân tộc trên thế giới. Điều đó
là hoàn toàn dễ hiểu, bởi hoạt động săn bắt - trong đó có săn bắt cá và các loài thủy
sinh - chính là những bước đầu tiên chuyển từ cuộc sống leo trèo trên cây xuống
mặt đất, kiếm sống nhờ lao động, giúp cho loài vượn người tiến hóa thành con
người thông minh sau này. Bởi thế, không ít dân tộc có những câu chuyện kể về
tiếng hát mê hồn của các nàng tiên cá, những chú cá vàng tốt bụng hay viên ngọc
trai thần kỳ.
Song, đem cả lịch sử hình thành của một dân tộc, một quốc gia gắn với những
huyền thoại về nghề sông nước, với các loài thủy tộc, thì có lẽ chỉ có một Việt Nam.
Đó là câu chuyện về năm mươi người con của Mẹ Âu Cơ đã theo Cha Lạc Long
Quân ra biển mở mang bờ cõi. Đó cũng là Chử Đồng Tử, con trai người đánh dặm,
đã trở thành một trong những vị thần hộ mệnh quốc gia, được phong vào hàng bốn
vị thánh Bất Tử của nước Nam. Từ những đề tài về công cuộc xây thành, dựng nước
của Thục phán An Dương Vương, đến cuộc chiến tranh gian khổ để giành độc lập
chủ quyền của Lê Thái Tổ đều gắn với một vị thần thủy tộc - Kim Quy - Rùa Vàng.
trong các vùng biển trên thế giới.
Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thủy sản
nước ngọt ở trong 2,860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu ha đất ngập nước, ao hồ,
ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long,
v.v… đó là nguồn thực phẩm chính hằng ngày của hầu hết ngư dân vùng nông thôn
Việt Nam.
Để hình thành một nghề cá có quản lý
Dẫu ra đời từ rất sớm, nghề cá Việt Nam cho đến những năm giữa thế kỷ trước
vẫn mang đậm dấu ấn của một loại hình hoạt động kinh tế tự nhiên theo kiểu “hái,
lượm”, tự cấp tự túc với trình độ hết sức lạc hậu. Hoạt động nghề cá được xem như
một nghề phụ trong sản xuất nông nghiệp.
Từ sau những năm 1950, đánh giá được vị trí ngày càng đáng kể và sự đóng góp
mà nghề cá có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục
và phát triển kinh tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu quan tâm
phát triển nghề cá và hình thành các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Từ đó, nghề cá - ngành Thủy sản - đã dần hình thành và phát triển như một ngành
kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày càng lớn cho đất nước. Quá trình ấy
có thể phân chia một cách tương đối thành 3 giai đoạn chủ yếu :
Giai đoạn 1954 - 1960 là thời kỳ kinh tế thủy sản bắt đầu được chăm lo phát
triển để manh nha một ngành kinh tế kỹ thuật. 10
Trong những năm 1960 - 1980, thủy sản có những giai đoạn phát triển khác
nhau với diễn biến của lịch sử đất nước. Những năm 1960 - 1975, đất nước có chiến
tranh, cán bộ và ngư dân ngành thủy sản “vững tay lưới, chắc tay súng”, hăng hái
thi đua lao động sản xuất với tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, cùng cả nước
thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đánh thắng giặc
Mỹ, giải phóng miền Nam”. Mặc dù tổ chức quản lý ngành được thành lập (Tổng
giai đoạn 2001 - 2005 : Tổng sản lượng đạt 3.43 triệu tấn, tăng 9.24% so với năm
2004. Kim ngạch xuất khẩu đạt 2.74 tỉ USD, đi qua mốc 2.5 tỉ USD, tăng 13% so
với năm 2004 và bằng 185% so với năm 2000. Tính chung năm năm 2001 - 2005,
tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 11 tỉ USD, chiếm khoảng 9%
tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt cơ cấu sản phẩm của kinh tế thủy sản
cũng được thay đổi mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng, tăng tỷ trọng sản
phẩm có giá trị cao, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu.
Tiến tới nghề cá công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quá trình CNH, HĐH ngành thủy sản, trước hết trên lĩnh vực khai thác và chế
biến hải sản, trên thực tế đã diễn ra trước những năm 1970 qua quá trình động cơ
hóa tàu cá, ni lon hóa ngư cụ và xây dựng các cơ sở chế biến đông lạnh. Quá trình
CNH, HĐH đã khởi động, tuy chưa thực sự sâu sắc và toàn diện nhưng kết quả của
quá trình đó đã mang lại sự phát triển đáng kể cho nghề cá nước ta. Và đến năm
1981, sau khi được áp dụng cơ chế mới “tự cân đối, tự trang trải”, thực chất là bước
đầu tiếp cận cơ chế thị trường, nối liền các khâu sản xuất - lưu thông - tiêu thụ,
hướng về xuất khẩu, ngành mới thực sự tạo được đà tăng trưởng và duy trì liên tục
từ đó đến nay.
Trong khai thác hải sản, từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng
gần bờ, đã chuyển dịch theo hướng trở thành một nghề cá cơ giới.
Nghề nuôi trồng thủy sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp
tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên
tiến, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền
vững, bảo vệ môi trường, hài hóa với các ngành kinh tế khác, từng bước trở thành
một trong những ngành sản xuất hàng hóa chủ lực.
Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển rất nhanh, Việt Nam đã tiếp cận với
trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh
vực chế biến thủy sản, tạo dựng được uy tín trên thị trường thế giới. Các cơ sở sản
xuất không ngừng được gia tăng, đầu tư, đổi mới.
mình từ quá trình “tăng trưởng” sang quá trình “phát triển”. Trong đó, nhiệm vụ
hàng đầu là phải cải thiện “chất lượng của sự phát triển”, đảm bảo đáp ứng yêu cầu
“nhanh, hiệu quả, bền vững với sức cạnh tranh cao”, khi mà ngành thủy sản Việt 13
Nam đã có một quy mô đáng kể trên bản đồ thủy sản toàn cầu, trong những biến đổi
khôn lường của bức tranh kinh tế thế giới mà chúng ta đang hội nhập, trong sự hạn
chế về tài nguyên, các cảnh báo, về suy thoái môi trường, trong những đòi hỏi bức
xúc gắn liền sự phát triển của ngành với tiến trình công nghiệp hóa đất nước theo
hướng hiện đại, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và trong nông nghiệp
nói riêng, với tổ chức lại sản xuất để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của các
thành phần kinh tế, tham gia thực sự vào sự nghiệp xoá đói, giảm nghèo và làm giàu
cho đất nước, biến “huyền thoại” thành thực tiễn, đóng góp xứng đáng để xây dựng
một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh”.
2.3 Phát triển bền vững ngành thủy sản.
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế rất quan trọng đối với sự phát triển
của Việt Nam, có vai trò to lớn đối với công tác xoá đói giảm nghèo, tạo sinh kế bền
vững và việc làm ổn định cho người dân khu vực ven biển. Tuy nhiên, để ngành
thủy sản Việt Nam thực sự có bước đi bền vững đã và đang là vấn đề đặt ra đối với
ngành trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Những năm qua, ngành thủy sản đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh
tế, hàng năm sản lượng đánh bắt thủy sản trung bình đạt 1.5 triệu tấn, tạo công ăn
việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn (từ 740 ngàn lao động năm 1985 lên
đến 4 triệu người năm 2005). Thủy sản Việt Nam đã xuất đi 105 thị trường trên thế
giới, với tổng kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, năm 2005 đạt 2,740 triệu USD,
trong 5 tháng đầu năm 2006 giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 1,095 tỷ USD.
Việc nuôi trồng thủy sản đã thực sự trở thành hoạt động sản xuất có hiệu quả kinh tế
cao, đem lại thu nhập và việc làm cho đông đảo người dân vùng nông thôn, góp
lớn đến sự phục hồi, tái tạo nguồn lợi và qua đó là sự tác động đến các yếu tố môi
trường sinh thái.
Do đó, phát triển bền vững ngành thủy sản là sự phát triển các hoạt động của
ngành sao cho có thể tận dụng tối đa tài nguyên, nguồn lợi tự nhiên đáp ứng yêu cầu
của sự phát triển kinh tế hiện tại mà không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho sự
phát triển của các mảng hoạt động khác của con người cũng như cho hoạt động tái
sản xuất nguồn lợi của tự nhiên phục vụ cho lợi ích lâu dài trong tương lai.
Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây của FAO (cũng như các tổ chức chính phủ và
phi chính phủ khác), ngày càng có nhiều sự quan ngại về các kết quả của tăng
trưởng nghề cá đối với sự phát triển bền vững. Nhiều nghề cá đã hoạt động khai
thác quá mức và/hoặc nguồn lợi thủy sản đã bị suy kiệt, gây ra những lãng phí về
lợi ích tiềm năng của các nghề cá. 15
Sự thay đổi hệ sinh thái do con người gây ra gồm cả sự thay đổi mà nguồn gốc
là do đánh bắt thủy sản đang gây ra những tác động nguy hiểm đến phúc lợi của các
thế hệ hiện tại và tương lai. Công nghiệp đánh bắt cá đang sử dụng năng lực đánh
bắt vượt quá mức sản xuất thủy sản của hệ sinh thái, kết quả là các nguồn tài
nguyên thiên nhiên (cá và các nguồn tài nguyên tự nhiên khác như dầu khí và các
nguồn năng lượng không tái tạo khác) cũng như các nguồn nhân lực và vốn nhân
tạo không được sử dụng một cách hiệu quả (ở mức độ toàn cầu, khu vực và quốc
gia). Thêm vào đó là việc phát triển NTTS ồ ạt hiện nay đã thu hẹp quy mô các hệ
sinh thái và phá hủy các nơi sinh cư quan trọng như rừng ngập mặn, các bãi triều
lầy, các đầm phá, vùng đất ngập nước, làm cho môi trường khu vực nuôi bị ô
nhiễm, dịch bệnh có điều kiện lây lan …
Toàn cầu hóa thương mại thủy sản đã làm chệnh hướng một phần quan trọng
của việc sản xuất thủy sản từ các thị trường nội địa đến thị trường xuất khẩu và làm
gia tăng mối lo ngại về việc phân phối một cách có hiệu quả các lợi ích liên quan
Hình 2.2: Sơ đồ 5 thành phần liên quan Phát triển bền vững ngành thủy sản
Sơ đồ trên cho thấy, hai thực thể chính của Phát triển bền vững nghề cá nhằm
đạt tới là:
Môi trường trong sạch (E): trong đó bao gồm cả tài nguyên nguồn lợi.
Cuộc sống của con người (H): hạnh phúc, sức khỏe và của cải, bao gồm cả con
người, công nghệ và thể chế.
Sự phát triển bền vững được quyết định bằng mối quan hệ qua lại giữa con
người và môi trường.
Định nghĩa nói trên của FAO về phát triển bền vững là khá rộng, có thể áp dụng
cho tất cả các ngành khác nhau, tuy nhiên nó chưa đưa ra các chi tiết để xác định
các mục tiêu cụ thể, các tiêu chí cũng như các chỉ số. Vì vậy, để giải quyết các vấn
đề này, trong ngành thủy sản mà trước hết là trong khai thác thủy sản, năm 1995
FAO đã xây dựng và thông qua Bộ quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm (gọi tắt
là CoC – Code of Conduct for Responsible Fisheries).
Bộ quy tắc được tất cả các nước có nghề cá xem như là cơ sở thực tiễn để thiết
lập phát triển nghề cá bền vững. Thay vì chỉ xem xét sự hài hòa giữa môi trường và
cuộc sống con người, Bộ quy tắc chia ra thành các vấn đề thực tiễn như sau:
Phát triển bền vững nghề cá đòi hỏi phải có sự đổi mới trong quản lý tập trung
vào các kết quả đầu ra mang tính dài hạn. Cụ thể là:
Tăng cường nhận thức về các yếu tố liên quan đến quản lý nghề cá.
Thể
chế