Ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững - Pdf 30

MỤC LỤC
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGÀNH LÚA GẠO VIỆT NAM
I. Cơ sở lý luận:
1. Vai trò của lúa gạo:
Lúa gạo là một trong những loại cây lương thực chính của thế giới. Đặc biệt
với các nước châu Á đây là lương thực chính để tạo ra các sản phẩm thiết yếu phục
vụ đời sống. Chính vì lý do trên lúa gạo có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung
cấp chất dinh dưỡng thiết yếu cho con người. Với đặc điểm dân số ở Việt Nam thì lúa
gạo còn là sản phẩm đóng góp lớn trong quá trình xóa đói giảm nghèo. Với dân số
85,789 triệu người dân tính đến ngày 1/4/2009 thì vấn đề đảm bảo an ninh lương thực
phụ thuộc rất nhiều vào việc sản xuất lúa gạo vì thế ngành lúa gạo có vai trò rất lớn
trong việc cung cấp sản phẩm cho toàn xã hội. Một vai trò nữa của lúa gạo không thể
không kể đến đó là lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp của đại đa số người nông dân vì
thế việc sản xuất lúa gạo đã không chỉ cung cấp lương thực cho dân cư mà còn giải
quyết việc làm cho người dân. Với một nước nông nghiệp như Việt Nam hiện nay thì
ngành trồng lúa gạo vẫn còn là ngành chủ lực trong phần trăm cơ cấu cây trồng và
phân công lao động xã hội. Việt Nam có một thế mạnh về sản xuất lúa gạo và là nước
xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới vì thế lúa gạo còn có vai trò to lớn trong việc
thu ngoại tệ về cho đất nước. Nói tóm lại lúa gạo là sản phẩm có vai trò vô cùng to
lớn đối với các nước đang phát triển và đặc biệt là Việt Nam.
2. Các khái niệm cơ bản:
2.1. Các khái niệm phát triển bền vững:
Định nghĩa phát triển bền vững xuất hiện lần đầu vào năm 1980 trong ấn phẩm
Chiến lược bảo tồn Thế giới ( công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên Quốc tế- IUCN) nội dung sau: “Sự phát triển của nhân loại
không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất
yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.
Năm 1987 theo báo cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới – WCED

tại không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng các yếu tố đó của thế hệ tương lai. Vì vậy
phát triển bền vững phải đảm bảo đủ những mặt tích cực của nó như phát triển kinh
tế ổn định lâu dài, đời sống xã hội được cải thiện và môi trường không bị ảnh hưởng
nặng nề.
II. Cơ sở thực tiễn:
1. Cơ sở pháp lý về phát triển bền vững ngành lúa gạo:
Hiện nay với thực tế là sản xuất lúa gạo thường cho thu nhập thấp, nông dân
trồng lúa nghèo, giá trị thu nhập trên 1 ha thường thấp hơn so với các cây trồng khác,
giá cả không ổn định phụ thuộc vào biến động của giá lúa gạo tren thế giới, đặc biệt ở
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
2
vùng sản xuaatsluas gạo lúa hàng hóa lớn như ĐBSCL. Để giúp nông dân giảm giá
thành sản xuất lúa, đảm bảo lãi suất đạt trên 30% chính phủ có một số chính sách mới
cho nông dân đầu tư phát triển lúa gạo và phát triển lúa gạo bền vững như sau:
1. Quyết định 115/2008/NĐ-Cp ngày 14/11/2008 về việc miễn giảm thủy lợi
phí trong sản xuất trồng trọt nói chung và sản xuất lúa nói riêng.
2. Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ và
Thông tư số 02/2009/TT-NHNN hướng dẫn thi hành việc hỗ trợ lãi suất choc ac tổ
chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất-kinh doanh. Múc lãi suất hỗ trợ cho
khách hàng vay là 4%/năm.
3. Quyết định số 443/QĐ-TTg ngày 04/04/2009 của Thủ tướng chính phủ về
việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân, vay vốn trung, dài hạn ngân hàng để
thực hiện đầu tư mới, để phát triển sản xuất kinh doanh.
4. Quyết định 497/QĐ-TTg ngày 17/04/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc
hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và
vật tư xây dựng nhà ở khu vực nông thôn.
Ngoài một số chính sách mới thì các chính sách khác như chính sách ruộng đất,
chính sách khuyến nông, chính sách trợ giá,… nhiều chính sách khác đều là cơ sở
pháp lý để phát triển lúa gạo bền vững.
2. Kinh nghiệm của các nước về phát triển bền vững ngành lúa gạo.

các tính trạng khác nhau, sản xuất thử nghiệm điểm trình diễn hoặc trên đồng ruộng
nhiều giống mới, và đã thành công đưa vào thị trường thương phẩm hóa.
Lĩnh vực công nghệ thông tin đã xây dựng được nhiều ngần hàng dự trữ thông
tin nông nghiệp như ngần hàng dự trữ nông nghiệp, ngân hàng tài nguyên giống cây
trồng, ngân hàng dữ liệu kết quả khoa học công nghệ nghề cá, ngân hàng dữ liệu
thống kê kinh tế nông nghiệp. Các ngân hàng này đã được lưu giữ và khái thác mang
tính hiệu quả kinh tế cao. Theo đà phát triển nhanh chóng của mạng Internet, Trung
Quốc đã khởi động chương trình: Kim nông, Mạng thông tin nông nghiệp Trung
Quốc, Mạng thông tin khoa học công nghệ nông nghiệp Trung Quốc và đã bắt đầu
cung cấp những thông tin có liên quan để phục vụ cho nông nghiệp và nông thôn.
Lĩnh vực vật liệu, phân hóa học, thuốc trừ sâu mới. Các loại phân bón, thuốc
trừ bệnh sinh vật và các hóa chất loại mới đã phát triển khá mạnh. Loại phân bón hỗ
hợp do Trung Quốc tự chế tạo đã chiếm 20% số lượng phân bón hóa học, các loại
phân bón hữu cơ dùng trong sản xuất rau, cây ăn quả, cây cảnh đã khá phổ biến:
phân hóa học nồng độ cao, phân hóa học hiệu quả lâu dài và phân tan chậm.. sẽ dần
thay thế loại phân đơn nguyên tố, nồng độ thấp. Phương pháp bón phân theo bài phối
chế, bón phân cần bằng, bón phân ưu hóa đã mở rộng tái chế, bón phân cân bằng, bón
phân ưu hóa mở rộng tới 1/3 tổng diện tích trồng cây lương thực. Nói chung so với
biện pháp bón phân đơn giản hiện nay thì sản lượng tăng từ 8-15%, có nơi lên đến
20%.
Lĩnh vực thiết bị nông nghiệp. Diện tích ứng dụng thiết bị đồng bộ phù hợp với
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
4
các cấu trúc, kỹ thuật trồng trọt, khống chế môi trường khác nhau, tiết kiệm năng
lượng và sử dụng ánh sáng mặt trời.
Những kết quả đã đạt được thông qua các chương trình phát triển trên là hết sức
to lớn. Trung Quốc bên cạnh việc đảm bảo an ninh lương thực cho trên 1,2 tỷ người
của mình thì đã và đang tham gia mạnh mẽ vào thị trường các sản phẩm nông nghiệp
trên thế giới.
Những kinh nghiệm trong quá trình phát triển nông nghiệp bền vững ở Trung

dựng vùng chuyên canh sản xuất, phân canh diện tích đất nhất định cho một số loại
cây đòi hỏi tưới tiêu tốt.
Cung cấp cho nông dân các loại giống cây khác nhau để cải thiện chất lượng
cây trồng.
Quản lý sau thu hoạch một cách hiệu quả. Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã tìm
vốn vay từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) để tài trợ cho việc mua sắm phương
tiện và xây dựng các kho chứa thóc ở mỗi huyện.
Thúc đẩy và công bố các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp,
theo đó Chính phủ Thái Lan thiết lập Uỷ ban chuyên trách về việc xây dựng, phối
hợp với các ngần hàng dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu đối với các cơ quan
của Nhà nước và tư nhân. Thông qua Uỷ ban này sẽ tạo điều kiện tư vấn nông nghiệp
cho nông dân sản xuất.
Cấp tín dụng cho người nghèo và hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất với các
chính sách lãi suất ưu đãi.
Thứ hai, thực hiện chiến lược lúa gạo quốc gia 5 năm 2004-2008. Thái Lan tập
trung nâng cao sản lượng thóc gạo thông qua việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật
mới tăng năng suất, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, quảng bá thị trường thóc gạo, tăng
giá trị xuất khẩu, nâng cao đời sống cho nông dân. Theo chiến lược này, sản lượng
thóc sẽ tăng từ 25,88 triệu tấn (17,20 triệu tấn gạo) niên vụ 2002-2003 lên 33 triệu
tấn thóc (21,8 triệu tấn gạo) vào niên vụ 2007-2008. Thái Lan tăng cường xuất khẩu
gạo chất lượng cao sang các thị trường Trung Quốc, Hồng Kông, Singapor, Liên
minh châu ÂU, tăng khả năng cạnh tranh gạo Thái Lan trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị. Thái Lan là nước có
kinh nghiệm trong việc phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị. Điều kiện tự
nhiên và kinh tế – xã hội của thủ đô Băng Cốc cho phép hình thành các vùng sản xuất
vệ tinh chuyên môn hóa xen kẽ với các khu công nghiệp và dân cư, cách thủ đô từ
40km đến 100 km. Các nông sản sạch và có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát
triển. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp
đồng giữa các công ty chế biến nông sản của Băng Cốc và các hộ nông dân ở các
vùng sản xuất vệ tinh. Đặc biệt, Chính phủ Thái Lan rất quan tâm tới các chính sách

ẩm lớn, phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính chất
khí hậu lục địa. Do ảnh hưởng của biển Đông nên khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm
không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí
hậu khác nhau rõ rệt. Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa theo vùng từ thấp lên cao,
từ Bắc vào Nam và từ Đông sang Tây. Do chịu tác động mạnh của gió mùa đông bắc
nên nhiệt độ trung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác
cùng vĩ độ ở Châu Á.
Việt Nam có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn: (1) Miền Bắc ( từ đèo
Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt ( xuân-hạ-thu-đông ),
chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc ( từ lục địa châu Á tới) và gió mùa Đông
Nam ( thổi qua Thái Lan- Lào và biển Đông), có độ ẩm cao. (2) Miền Nam ( từ đèo
Hải Vân trở vào ) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều
hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa rõ rệt ( mùa khô và mùa mưa )
Bên cạnh đó, do cấu tạo của địa hình, Việt Nam còn có những vùng tiểu khí
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
8
hậu. Có nơi có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa,tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; có
nơi thuộc khí hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La. Đây là những địa điểm lý tưởng cho
du lịch nghỉ mát.
Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam dao động từ 21
o
C đến 27
o
C và tăng dần từ bắc
vào nam. Mùa hè, nhiệt độ trung bình trên cả nước là 25
o
C ( Hà Nội 23
o
C, Huế 25
o

hạ, thu, đông. Mùa khô từ tháng 10 năm trước tới tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá
lạnh, không mưa to. Từ tháng 1 tới tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng vì là thời tiết Xuân
nên có mưa nhẹ ( mưa xuân) đủ độ ẩm cho cây cối đâm chồi nảy lộc. Từ tháng 5 tới
tháng 9 là mùa nóng, có mưa to và bão. Nhiệt độ trung bình mùa Đông 17,2
o
C ( lúc
xuống thấp tới 2,7
o
C ) Nhiệt độ trung bình mùa Hạ 29,2
o
C ( cao nhất lên tới 39
o
C).
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
9
Nhiệt độ trung bình cà năm 23,2
o
C lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800 mm.
Đồng bằng sông Cửu Long ( đồng bằng Nam Bộ)
Rộng 40.000 km
2
là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi và đây là vựa lúa lớn
nhất của Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long có khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình là 1.979 mm. Mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình cả năm là 27,5
o
C không có mùa đông. Hoạt
động du lịch thuận lợi suốt 12 tháng. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do phù sa
thượng nguồn của sông Đồng Nai, Cửu Long và nwocs biển bồi đắp cho nên đất đai
thấp,bằng phẳng, nhiều sông rạch và rất phì nhiêu. Diện tích đất tự nhiên của ĐBSCL

Tháng 6 năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII, tại đây một văn kiện quan trọng đã ra đời, đó là "Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội". Cương lĩnh này sau đó liên
tục được bổ sung và điều chỉnh trong các kỳ họp của Ban Chấp hành trung ương
Đảng và Đại hội Đại biểu toàn quốc tiếp theo. Cương lĩnh này và các văn kiện có tính
chất sửa đổi nó tuyên bố rằng nhiệm vụ trung tâm của xây dựng cơ sở vật chất của
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” “gắn liền
với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện”. Các văn kiện này nêu phương hướng:
"thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình
thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước" và "phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Thời kỳ 1993-1997 là thời kỳ kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát
đồng thời lại tăng trưởng nhanh chóng. Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2
năm 1998-1999. Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế có lúc rơi
vào tình trạng giảm phát và thiểu phát. Các năm 2007-2008, lạm phát tăng tốc và
hàng năm đều ở mức 2 chữ số.
Thập niên 1990 và 2000 là thời kỳ mà Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế mà
đỉnh cao là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và hiệp định đối
tác kinh tế song phương với Nhật Bản.
Năm 2009, kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 5,32%, vượt mục tiêu
đề ra và đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và trên
thế giới. Sản xuất công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ những tháng đầu năm và cả
năm đã tăng 7,6%. Sản xuất nông nghiệp được mùa với sản lượng lúa cả năm đạt
38,9 triệu tấn, tăng 165.700 tấn so với năm 2008. Cân đối kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn
định.
Mặc dù nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài giảm sút, nhưng đầu tư trong nước đã
được khơi thông nên tính chung vốn đầu tư phát triển cả năm đạt 7 042 000 tỷ đồng,
tăng 15,3% so với năm 2008.
Thu ngân sách đạt dự toán cả năm và bội chi ngân sách bảo đảm được mức

cải thiệt rõ rệt. Về cơ bản, Việt Nam đã xóa được đói, công tác giảm nghèo được tập
trung đẩy mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn vùng sâu vùng xa, đồng bào dân
tộc. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo cũ giảm nhanh từ 19% năm 2000 ( 3,1
triệu hộ) xuống còn 7% năm 2005 ( 1,2 triệu hộ), trung bình mỗi năm giảm 2- 2,5%.
Tuy vậy nếu so với chuẩn mới thì số hộ nghèo vẫn còn cao, khoảng 12% năm 2008
trogn đó khu vực nông thôn là 16,2%. Thu nhập bình quân đầu người hộ nông dân từ
2,7 triệu đồng/người năm 1999 lên khoảng 7,8 triệu đồng/ người năm 2007 tính theo
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
12
giá hiện hành.
Năm 2007, 12,2% xã có hệ thống thoát nước thải chung, 28,4% xã có tổ chức
thu gom rác thải, 54% hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh. Đến năm 2006, 38% cư dân
nông thôn được khám chữa bệnh, gần 52% cư dân nông thôn có bảo hiểm y
tế.Chương trình bảo hiểm xã hội cho nông dân đã được triển khai tại một số điểm. Tỷ
lệ cư dân trên 10 tuổi biết chữ ở nông thôn đã lên đến 92% năm 2006.
Kết cậu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường làm thay đổi bộ mặt nông
thôn. Đầu tư thủy lợi đang hướng sang phục vụ đa mục tiêu. Đến năm 2008 tổng diện
tích lúa được tưới chủ động là 6,92 triệu ha ( đạt 84,8% ), rau màu và cây công
nghiệp là 1,5 triệu ha ( đạt 31,3% ); đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất
nông nghiệp; ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; góp phần đáng
kể vào việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng các loại cây trồng. Tăng khả
năng cung cấp nước sinh hoạt nông thôn và đô thị, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
về cấp thoát nước phục vụ công nghiệp và phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng
cao. Hệ thống quản lý, vận hành hệ thống thuỷ lợi được củng cố và tăng cường năng
lực. Hệ thống thuỷ lợi cả nước được vận hành do hơn 100 công ty thuỷ nông với tổng
số 22.569 cán bộ công nhân viên và 12.000 HTX, tổ hợp tác. Nhiều công trình thuỷ
lợi kết hợp với phòng chống, tránh lũ được đầu tư xây dựng góp phần tích cực vào
công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai.
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giao thông nông thôn có
bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ năm 1999 đến nay làm mới được

3. Thuận lợi khóa khăn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội:
3.1. Thuận lợi:
Từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên thì Việt Nam có rất
nhiều thuận lợi trong quá trình sản xuất lúa gạo. Thứ nhất trong điều kiện tự nhiên
Việt Nam có điều kiện thuận lợi về đất đai với tổng diện tích gieo trồng lúa đạt
7.247.900 ha, trong đó 3.056.900 ha lúa đông xuân, 2.179.800 ha lúa hè thu và
2.247.900 ha lúa mùa. Đây là diện tích tương đối lớn để phát triển sản xuất chuyên
canh lúa ở Việt Nam.Đặc biệt đất nông nghiệp Việt Nam do phù sa bồi đắp nên chất
đất màu mỡ giàu dinh dưỡng tạo môi trường tốt cho cây lúa phát triển. Đặc điểm tự
nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển đặc biệt là cây lúa nữa là khí
hậu nhiệt đới ẩm, lượng mưa quanh năm tương đối lớn phù hợp với đặc điểm sinh
trưởng phát triển của cây lúa.
Thuận lợi thứ hai về điều kiện kinh tế - xã hội, Việt Nam với 75% dân số sống ở
nông thôn nên lực lượng tham gia lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và
sản xuất lúa gạo nói riêng dồi dào. Với lao động kinh nghiệp truyền thống trong nghề
trồng lúa tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam khi tận dụng lượng lao động này. Việt
Nam hiện nay có nhiều chuyển biến trong chính sách và những hỗ trợ cần thiết tạo
điều kiện thuận lợi phát triển ngành lúa gạo trong nước. đây cũng là thuận lợi cho
SV: Trần Thị Quý Lớp: KTNN 49
14
Việt Nam trong ngành lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực trong nước cũng như
đẩy mạnh xuất khẩu.
3.2 Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt
Nam trong quá trình sản xuất lúa gạo thì còn có rất nhiều khó khăn thách thức với
Việt Nam trong những năm gần đây. Đầu tiên phải nói tới điều kiện tự nhiên của Việt
Nam trong quá trình sự thay đổi khí hậu thế giới. Theo thống kê những năm gần đây
sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang diễn ra rất phức tạp, trái đất đang dần nóng
lên. Nếu nhiệt độ trái đất tăng tăng hơn 2°C, mực nước biển dâng 1m thì có thể làm
tan biến những núi băng ở Himalaya vốn là nguồn cung cấp nước và lương thực cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status