BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HỒNG MINH
Chuyên ngành: Khai thác thủy sản
Mã số: 60.62.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG
NHA TRANG - 2010
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các số liệu thu thập đảm bảo độ chính xác và trung thực với thực tế.
- Các nguồn số liệu khác được sử dụng hoặc trích dẫn đều là các tài liệu, số liệu
đã được công bố hoặc có sự cho phép của tác giả.
- Luận văn này hoàn toàn do tôi tự viết và trình bày, không sao chép từ bất cứ tài
liệu nào.
- Trong suốt quá trình thực hiện luận văn không xảy ra tranh chấp gì với các cá
nhân, tổ chức khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về những lời cam đoan trên.
Người cam đoan
Trần Hồng Minh
2
LỜI CẢM ƠN
Phát triển bền vững khai thác hải sản là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong
định hướng những năm tới của tỉnh Khánh Hòa. Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới đối với
các ngành kinh tế nói chung và ngành Thủy sản Việt Nam nói riêng, trong đó có khai
thác hải sản. Một số nghiên cứu và định hướng thể hiện trong Đề tài Luận văn Cao học
“Giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản tỉnh Khánh Hòa”, lần đầu
được tiến hành trong địa bàn tỉnh Khánh Hòa chắc chắn có nhiều khó khăn, hạn chế.
Với dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các Thầy giáo và đồng nghiệp, tôi đã hoàn
thành luận văn này.
1.4. Lý thuyết về phát triển bền vững nghề KTHS
1.4.1. Quan niệm về phát triển bền vững nói chung
1.4.2. Khái niệm về phát triển bền vững nghề KTHS
1.4.3. Lý thuyết xây dựng các giải pháp PTBV nghề KTHS Khánh Hòa
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu.
2.2. Tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Tài liệu
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
1
2
3
6
7
9
9
10
10
10
12
13
14
16
16
17
19
20
23
26
24
4.1.1. Căn cứ đề xuất
4.1.2. Nội dung giải pháp
4.1.3. Dự kiến tính khả thi của giải pháp
4.4. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho KTHS
4.1.1. Căn cứ đề xuất
4.1.2. Nội dung giải pháp
4.1.3. Dự kiến tính khả thi của giải pháp
32
32
32
32
38
40
41
43
44
45
45
45
47
47
47
49
51
51
51
52
53
53
53
61
63
64
6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
PTBV
KTHS
TAC
MSY
CPUE
SEAFDEC
FAO
IUCN
UNFPA
CCRF
UBND
Phát triển bền vững
Khai thác hải sản
Tổng sản lượng khai thác
Sản lượng khai thác bền vững tối đa
Sản lượng trên một đơn vị cường lực
Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới
Quỹ Dân số Liên hợp quốc
Mã số cho nghề cá có trách nhiệm
Ủy ban nhân dân
7
MỞ ĐẦU
Khánh Hòa là một tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, có phần lãnh thổ trên đất liền
cho/đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Để phát triển một cách bền
vững nghề khai thác hải sản (KTHS) của tỉnh Khánh Hòa là nhiệm vụ không dễ dàng,
bởi phải điều chỉnh một cách tối ưu mối quan hệ giữa Kinh tế - xã hội và môi trường.
Trong khi đó nghề KTHS là một nghề sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo và
luôn giới hạn về mặt số lượng.
Mục tiêu phát triển bền vững nghề khai thác hải sản có thể hiểu theo nghĩa: Tối
đa về mặt sản lượng về khối lượng hoặc về thu nhập và duy trì một mức nhất định trữ
lượng đàn cá nhằm tạo ra một mức dự trữ nhất định hay không làm suy giảm nguồn
lợi.”. Với mục tiêu sinh học này có thể thay đổi để bao hàm các mục tiêu liên ngành
có liên quan đến các mục đích kinh tế - xã hội - môi trường.
Mục tiêu của việc quản lý bền vững nghề khai thác hải sản dựa trên khái niệm
tổng lượng cá đánh bắt cho phép (TAC) được đặt trên cơ sở tham khảo về khía cạnh
sinh học, ví dụ như MSY, khía cạnh kinh tế như MEY từ đó các nhà quản lý có thể ra
các quyết định như: xác định hạn mức khai thác, quy định số lượng tàu thuyền cần
thiết, lựa chọn loại nghề trên cơ sở chọn lọc và hiệu quả kinh tế, đảm bảo sinh kế cho
ngư dân những vẫn duy trì trữ lượng đàn cá qua các năm nhằm thực hiện các mục tiêu
của những năm tiếp theo.
Trong khuôn khổ của một Luận văn tốt nghiệp Cao học, đề tài “Giải pháp phát
triển bền vững nghề khai thác hải sản tỉnh Khánh Hòa”, được giải quyết trên cơ sở
khoa học việc xác định sản lượng khai thác tối ưu và cường lực tối ưu cùng với việc xác
định một số chỉ số về hiệu quả kinh tế, các vấn đề xã hội trong cộng đồng ngư dân
nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tới. Từ đó góp phần vào
việc điều chỉnh cơ cấu các nghề khai thác thủy sản tự nhiên phù hợp với khả năng cho
phép khai thác của nguồn lợi thủy sản; Kiểm soát chặt chẽ các phương thức khai thác
mang tính huỷ diệt, đồng thời không phát triển và giảm dần các nghề khai thác thiếu lựa
chọn, khai thác cả thuỷ sản còn non, phục hồi và phát triển các ngành nghề thay thế
nghề khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên vùng biển ven bờ, tạo điều kiện ổn định đời
sống cho ngư dân, giảm sức ép khai thác đối với nguồn lợi thủy sản.
Kết quả nghiên cứu của Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho tỉnh Khánh
Hòa trong việc thực hiện các Chương trình phát triển Kinh tế biển của tỉnh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.
- Vị trí địa lý:
Khánh Hòa là một tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ
trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực
bắc: 12052'15'' vĩ độ Bắc. Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực Nam: 11042' 50''
vĩ độ Bắc. Phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng, điểm cực Tây: 108040’33'' kinh độ
Đông. Phía Đông giáp Biển Đông, điểm cực Đông: 109027’55'' kinh độ Đông; tại mũi
Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện-Vạn Ninh, cũng chính là điểm cực Đông trên
đất liền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm
lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Bên trên phần đất liền và vùng lãnh
hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa.
Khu vực bờ biển có nhiều đảo lớn nhỏ tạo thành những eo vịnh và là nơi cư trú
của tàu thuyền khi thời tiết xấu. Có nhiều nhánh của dãy núi Trường Sơn đâm ra biển
tạo thành nhiều đầm vũng là nơi cư trú, sinh sản của các loài hải sản.
Thềm lục địa hẹp, đáy biển dốc, độ sâu vùng ven bờ khoảng 15-30 m, ra xa bờ
độ sâu tăng nhanh, có nơi độ sâu đạt 1.000 mm chỉ cách bờ trên 60 hải lý. Do tác động
của dãy Trường Sơn nằm gần biển nên chất đáy của biển cũng mang những nét riêng
biệt. Đó là đáy biển gồ gề, chất đáy thường cát bùn, vỏ sò.
- Đặc điểm địa hình:
Tỉnh Khánh Hòa có ba mặt là núi, phía Đông giáp biển. Chiều dài của tỉnh theo
hướng Bắc Nam khoảng 160km, còn theo hướng Đông Tây, nơi rộng nhất khoảng
60km, nơi hẹp nhất từ 1 đến 2km ở phía Bắc, còn ở phía Nam từ 10 đến 15km.
Diện tích của tỉnh Khánh Hòa là 5.197km2 (kể cả các đảo, quần đảo), đứng vào
loại trung bình so với cả nước. Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền. Bờ biển dài
385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và quần đảo Trường Sa.
Tỉnh Khánh Hòa có nhiều cảng biển, đặc biệt là cảng thiên nhiên Cam Ranh và
cảng biển nước sâu Vân Phong vào loại tốt nhất thế giới, đang được khai thác sẽ trở
thành cảng trung chuyển quốc tế lớn.
11
mùa về thường gây nên sự đổi dòng và gây ra những dòng nước trồi.
12
Mùa Đông do tác động của gió mùa Đông Bắc làm xuất hiện hai hoàn lưu nóng
lạnh xáo trộn hình thành khu vực nước nổi ngoài khơi (từ tháng 10 đến tháng 4 năm
sau). Hai dòng nước này giữ cho nhiệt độ nước biển được ổn định.
Mùa hè do tác động của gió Tây Nam, một hoàn lưu chính có nhiệt độ từ 28-
300C đi từ phía Nam lên sau khi chạm vào bờ chia làm hai nhánh. Một nhánh đi về phía
Đông tạo thành hoàn lưu khép kín theo chiều kim đồng hồ tại khơi Đông Nam Bộ
(Tháng 5 đến tháng 9). Một nhánh ven bờ biển Trung bộ đi lên phía Bắc đồng thời có
dòng nước ngầm có nhiệt độ từ 20-210C ở độ sâu 50-100m từ phía Bắc Biển Đông
chảy đến và đập vào vách đảo ở thềm lục địa Trung Trung bộ gặp hoàn lưu nóng từ
phía Nam lên (Thời gian tháng 5-9) tạo thành vùng nước ấm xáo trộn rộng lớn.
- Độ mặn:
Vùng biển Khánh Hòa có nồng độ muối tương đối ổn định và có độ mặn khá
cao, trung bình khoảng 0,33 - 0,35%o. Độ mặn chênh lệch giữa hai mùa mưa nắng là
0,02%o.
1.1.2. Nguồn lợi hải sản.
Vùng biển Đông Nam bộ với trữ lượng ước tính 1.075.650 tấn và khả năng
khai thác 460.725 tấn, trong đó trữ lượng cá đáy chiếm khoảng 304.850 tấn với khả
năng khai thác 152.425 tấn; cá nổi 770.800 tấn và khả năng khai thác 308.300 tấn. [5].
Riêng vùng biển Khánh Hòa theo ước tính của các nhà chuyên môn có khả năng khai
thác 38.000 tấn/năm [1]
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng [5], ở vùng biển Đông
Nam bộ có:
* Nguồn lợi cá đáy:
- Thành phần loài: xác định được 639 loài thuộc 148 họ hải sản, cá kinh tế giảm,
cá tạp có chiều hướng gia tăng
- Năng suất khai thác (kg/h): Nhìn chung năng suất khai thác khá thấp, biến động
rõ rệt theo mùa vụ, năng suất khai thác tăng mạnh theo dải độ sâu từ bờ ra khơi. Khả
năng khai thác dao động trong khoảng: 230.000 - 400.000 tấn
có tính chọn lọc đã làm gia tăng việc loại bỏ các loài khai thác chưa đạt kích cỡ thương
phẩm trên biển. Do việc loại bỏ cá này đã làm gia tăng áp lực khai thác lên nguồn lợi có
thể dẫn đến việc khai thác quá mức, ảnh hưởng tới một số loài đang có nguy cơ bị đe
dọa [5].
14
Theo báo cáo của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), hơn 2/3 nguồn lợi hải
sản trên thế giới bị khai thác quá mức. Đến năm 2025, dân số thế giới đạt 9,3 tỷ người
thì nhu cầu thực phẩm thủy sản ngày càng gia tăng. Điều này có thể làm cho hoạt động
nghề cá chuyển sang quy mô lớn hơn và việc sử dụng các ngư cụ hủy diệt cũng gia tăng
nhằm khai thác cá triệt để. Theo chương trình bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc,
các phương pháp khai thác hủy diệt là mối đe dọa lớn nhất vì nó không những làm cho
nguồn lợi suy giảm một cách nhanh chóng nhất mà còn tàn phá hệ sinh thái cần thiết
cho sinh trưởng, tồn tại và sinh sản của các loài sinh vật. Các phương pháp khai thác
hủy diệt nguy hiểm nhất phải kể đến là thuốc nổ, chất độc, xung điện mạnh và một số
nghề như lưới kéo đáy, tác hại của nghề lưới kéo đáy là làm hư hại nền đáy và đe dọa
đến đa dạng sinh học.
Khai thác bằng chất độc Cyanua rất phổ biến ở các nước Đông Nam Châu Á.
Các phương pháp khai thác này tập trung vào các loài cá rạn san hô có giá trị kinh tế
cao như: cá Mó (Cheilinus undulatus) và cá Mú chuột (Cromoleptis altevi, Epinephelus
lanceolatus) để bán cho Hồng Kông. Năm 1997 Hồng Kông đã nhập khẩu khoảng
32.000 tấn cá rạn tươi sống. Trong đó 2 loài cá này đang nằm trong danh mục những
loài quý hiếm đang có nguy cơ đe dọa nằm trong sách đỏ của IUCN. Mặc dù việc
nghiêm cấm khai thác hai loài cá này ở một số quốc gia như Philippines, Indonesia và
Maldives, nhưng các loài cá này vẫn được tìm thấy trên thị trường Hồng Kông.
Khai thác thủy sản cũng là sinh kế chính cho các nước Châu Á. FAO (2002)
ước tính có khoảng 27 triệu người hoạt động trong khai thác thủy sản trên thế giới,
trong đó Châu Á có 22 triệu người.
Trước nguy cơ nguồn lợi suy giảm, hệ sinh thái bị tàn phá. Một số phương
pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi hợp lý đang được áp dụng trên thế giới như sau:
1.2.1. Giảm số lượng tàu thuyền khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp
Theo thống kê của FAO thì tàu khai thác cá ngừ vượt quá công suất cho phép.
Do đó việc đóng tàu công suất lớn cần phải tạm ngưng, đồng thời di chuyển một số tàu
khai thác xa bờ vào vùng ven bờ [5].
Iceland giảm 8% lượng tàu khai thác năm 2002 và 10% trong 5 năm trước đó .
Ở Nauy có 9.569 chiếc tàu khai thác đăng ký đến thời điểm tháng 12/2002. So
với năm 2000 thì số lượng tàu đã giảm 48% [5].
Như vậy việc cắt giảm số lượng tàu thuyền đã góp phần đáng kể đến việc khôi
phục nguồn lợi ở một số quốc gia.
16
1.2.2. Áp dụng các mô hình toán trong quản lý khai thác thủy sản.
Cùng với sự gia tăng số lượng tàu thuyền một cách nhanh chóng, một số mô
hình toán về quản lý nguồn lợi đã được sử dụng nhằm quản lý nguồn lợi thủy sản. Các
mô hình này là sự kết hợp giữa sinh học và kinh tế (Hannesson, 1978). Sự phát triển mô
hình động học quần thể của Beverton và Holt (1957) đã góp phần quan trọng trong khai
thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Trong các mô hình này có sự kết hợp kinh tế – xã hội và nguồn lợi tự nhiên đã
đưa đến khái niệm mới trong nghiên cứu nguồn lợi: mô hình kinh tế sinh học. Mô hình
động học quần thể của Beverton và Holt, Gordon Schaefer và Fox là những mô hình
đang được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế thủy sản, đặc biệt là đối với các
nước nhiệt đới, nơi có nghề cá đa loài khó dự báo trữ lượng chính xác (Gordon, 1954).
Các mô hình cho phép tính toán hiệu quả kinh tế và sinh học trong thủy sản, khả năng
dự báo, lập kế hoạch và điều chỉnh số lượng tàu thuyền cũng như cường lực một cách
tốt hơn.
1.2.3. Áp dụng hệ thống quản lý nghề cá có trách nhiệm.
Mặc dù việc khai thác quá mức ở Châu Âu được xem xét trong hơn 20 năm
qua, nhưng Liên minh Châu Âu chưa thực hiện thành công quản lý thủy sản bền vững.
Nhà nước hỗ trợ hàng triệu Euro vào ngành công nghiệp khai thác làm cho số lượng tàu
công suất lớn gia tăng rất nhanh. Việc xây dựng hệ thống quản lý mới là giảm số lượng
tàu thuyền và nâng cao trách nhiệm giữa những người quản lý và người dân trong việc
khôi phục nguồn lợi và hệ thống này cần phải khẩn trương thực hiện nhanh chóng [7].
cho phép.
Theo sau hệ thống quản lý bằng hạn ngạch, trong những thập niên vừa qua, có
nhiều Quốc gia áp dụng hệ thống quản lý định mức khai thác cá nhân. Thông qua quy
định này người dân có thể chuyển nhượng, bán hoặc cho thuê như tài sản cá nhân của
mình. Nhiều Quốc gia đã áp dụng thành công hệ thống quản lý này như: Canada,
Australia, Chilê, Mỹ…và kết quả có nhiều dẫn chứng cho thấy trữ lượng đã được hồi
phục [7].
Các nghiên cứu về hệ thống quản lý theo hạn ngạch của Newzealand cho thấy
giá trị quyền chuyển nhượng quyền khai thác đã được nâng cao. Trữ lượng đã được hồi
phục ở nhiều vùng khác nhau, trữ lượng quần thể đã ổn định và một số loài có biểu hiện
gia tăng.
18
Trữ lượng ổn định cũng được thấy ở Hà Lan khi áp dụng hệ thống quản lý theo
hạn ngạch. Nhờ áp dụng hệ thống này, giá trị sản lượng khai thác trên một đơn vị
thuyền ở biển Bắc năm 1998 tăng 33 lần so với 15 năm trước. Ở Iceland, tổng giá trị
hạn ngạch khai thác năm 2000 tăng gấp 20 lần so với năm 1984 [9]. Sản lượng khai
thác hàng năm của Iceland tăng hơn 4% so với trước đây (chỉ 2,8%) (1974-1995). Lợi
nhuận công nghiệp khai thác của Iceland tăng 10 lần từ 1984 – 1996 [7].
Trải qua 30 năm sau nghề khai thác tự do, nghề khai thác của Nauy đã được
quản lý bằng việc đăng ký định mức khai thác nhằm ngăn chặn việc khai thác quá mức
và suy giảm nguồn lợi. Sự di chuyển của một số loài cá đến vùng địa phận quốc tế làm
cho áp lực khai thác của nhiều quốc gia ở vùng này gia tăng. Do đó việc thực hiện hiệp
định khai thác quốc tế bảo vệ nguồn lợi hải sản là rất cần thiết. Nauy có truyền thống
lâu đời về hợp tác quốc tế khai thác hải sản. Nauy đã ký hiệp định thủy sản với nhiều
quốc gia. Năm 1995, Hiệp định Liên hợp quốc về bảo vệ nguồn lợi và trữ lượng cá di
cư là bước đi đúng hướng và họ đã chú trọng đến việc thực hiện hiệp định này.
Mục tiêu của Nauy là bảo vệ và hồi phục nguồn lợi cá để khai thác bền vững
hàng năm theo định mức dựa vào nghề cá có trách nhiệm. Để thực hiện thành công,
Chính phủ Nauy đã đầu tư rất nhiều nghiên cứu về đánh gái trữ lượng cá. Nauy đang cố
gắng trở thành quốc gia hàng đầu về công nghệ khai thác thủy sản. Chính vì thế, nghề
thấy chưa có biện pháp quản lý khai thác hiệu quả trong vùng. Do đó các nước trong
vùng cần phải thiết lập các chương trình bảo vệ để khôi phục nguồn lợi bằng cách giảm
số lượng tàu thuyền và cường lực khai thác. Các chiến lược cần phải thực hiện ở cấp
quốc gia và tập trung vào phát triển hệ thống quyền khai thác theo định mức [7].
Năm 1998, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã phát
triển kế hoạch chiến lược để đánh giá hoạt động trong vùng trong vòng 30 năm. Kế
hoạch chiến lược của SEAFDEC là giúp đỡ các nước thành viên để thực hiện quản lý
nghề cá bền vững. Mục tiêu của kế hoạch là: (1) thực hiện các biện pháp kỹ thuật để
xác định chính sách và quyền ưu tiên trong vùng, (2) xúc tiến hợp tác thực hiện chính
sách gần gũi hơn nữa giữa các nước thành viên ASEAN. Theo kế hoạch chiến lược này,
các mục tiêu này đã đem lại hiệu quả cao giữa các nước thành viên.
Một trong những thành tựu đạt được là xây dựng mã số cho nghề cá có trách
nhiệm (CCRF) với sự hợp tác của FAO. CCRF đã xây dựng các nguyên tắc và tiêu
chuẩn quốc tế cho nghề cá có trách nhiệm để đảm bảo việc khai thác nguồn lợi thủy sản
một cách bền vững.
20
SEAFDEC đã xuất bản nhiều bản hướng dẫn về quản lý nghề cá (2003), khai
thác thủy sản (2000) và các phương pháp bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Ngoài ra,
SEAFDEC cũng ban hành một số quy định như: quy định buôn bán thủy sản, các chỉ số
bền vững nghề cá, nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường, thống kê nghề cá, các
tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (HACCP) và danh mục loài nguy cơ, đe dọa và
tuyệt chủng (CITES).
Theo sau kế hoạch chiến lược của SEAFDEC thì nhóm tư vấn thủy sản giữa
các nước ASEAN và SEAFDEC được hình thành năm 1998 nhằm xúc tiến trao đổi
hàng năm về các quy định, chính sách giữa các nước ASEAN và SEAFDEC. Các
chương trình hành động của SEAFDEC bao gồm các chương trình về quản lý thủy sản,
chương trình nuôi trồng thủy sản, chương trình quản lý chất lượng vệ sinh an toàn và
thú y thủy sản.
Với các chính sách quản lý cấp toàn cầu, khu vực và cấp quốc gia; một số nước
trên thế giới đã và đang phát triển nghề cá trên cơ sở bền vững; và Việt Nam cũng đang
của Chính phủ thực hiện từ năm 1997. Nhưng hiệu quả chưa đạt được theo mong
muốn, đặc biệt số lượng tàu thuyền nhỏ vẫn có xu hướng gia tăng và hiệu quả kinh tế
của nhiều đội tàu xa bờ còn thấp.
Các giải pháp nhằm quản lý số lượng tàu thuyền cũng đã được thực hiện thông
qua việc đăng ký, đăng kiểm tàu thuyền. Tuy nhiên, khi có Quyết định 289/QĐ-TTg
ngày 18/3/2008 về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ
thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân thì số tàu thuyền của tỉnh
Khánh Hòa tăng lên đột biến từ hơn 6.300 chiếc (cuối năm 2007) tăng lên hơn 13.000
chiếc (cuối năm 2009) [4].
Luật Thuỷ sản (năm 2003) và các văn bản dưới Luật ra đời nhằm quản lý các
hoạt động thuỷ sản, trong đó có việc quản lý khai thác thuỷ sản. Tuy nhiên Luật cũng
như các biện pháp cấm và hạn chế các nghề khai thác gây xâm hại nguồn lợi chưa thực
sự đi vào cuộc sống vì chưa có các giải pháp quản lý và các chính sách đồng bộ nhằm
tạo sinh kế cho người dân.
Tại tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh trong nước cũng đã có các giải pháp nhằm
giảm áp lực khai thác và tạo sinh kế cho cộng đồng như:
- Năm 1999, UBND tỉnh Khánh Hòa đã có biện pháp chỉ đạo trong việc chuyển
đổi nghề nghiệp cho ngư dân làm các nghề: Lưới kéo, xiệp điện trong đầm Nha Phu
sang nuôi vẹm xanh và ương tôm hùm giống đã thu được kết quả bước đầu khả quan.
22
- Dự án thí điểm khu bảo tồn biển Hòn Mun, Khánh Hòa; Dự án thí điểm khu
bảo tồn biển Rạn Trào, Vạn Ninh, Khánh Hòa; Dự án quy hoạch tổng thể quản lý khai
thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên Huế; Dự án quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ dựa
vào cộng đồng, khu bảo tồn nguồn lợi Phù Long; Dự án xây dựng mô hình phát triển
bền vững ngành thủy sản tại Cát Bà, Hải Phòng; Dự án quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh
Hạ Long Tuy nhiên hiệu quả của các hoạt động này đưa lại còn quá ít ỏi so với yêu
cầu bức thiết của thực tế đặt ra.
- Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản (Dự án ALMRV), tỷ lệ cá
tạp trong thành phần sản lượng khai thác của các nghề khai thác hải sản ven bờ như te
xiệp, lưới rùng, lưới kéo ven bờ chiếm tới 70÷90%. Rõ ràng sự hoạt động của các nghề
các thế hệ được giải quyết hài hoà. Có thể nói, PTBV không dễ dàng đạt được trong
thực tế, vì yếu tố phát triển luôn thay đổi, thậm chí thay đổi rất nhanh so với khả năng
điều chỉnh. Bởi thế, PTBV chỉ là mục tiêu mong đợi về mặt xã hội, nhưng lại là nhu cầu
và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, của các ngành kinh tế,
vùng lãnh thổ và các địa phương.
Ở nước ta, ngày nay PTBV đã trở thành đường lối, quan điểm và mục tiêu của
Đảng và chính sách của Nhà nước. Một phần đã được thể hiện trong Chỉ thị số 36/CT-
TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1998), Nghị quyết số 41/NQ-TW Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về bảo vệ môi trường (2004). Đặc biệt, ngày 17 tháng 8
năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về ban hành
Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam).
Trong đó, thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế được xác định cần phải ưu tiên
nhằm PTBV.
Ngành Thuỷ sản nước ta đã được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, giải
quyết việc làm cho hàng triệu người lao động, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế
quốc dân cũng như kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Chính vì vị thế quan trọng của
ngành, ngày 11/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020. Theo đó, ngành thủy sản phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất
hàng hoá lớn, sản phẩm thuỷ sản phải có sức cạnh tranh cao trên các thị trường để tiếp
tục phát triển nhanh và bền vững. Trong khi xuất phát điểm vốn là một nghề cá quy mô
nhỏ với phương thức canh tác truyền thống, tiếp cận ngư trường tự do với thực trạng
24
sản xuất của ngành còn manh mún, bị cắt khúc giữa các khâu, quản lí dựa vào kinh tế
hộ gia đình. Mâu thuẫn giữa các yếu tố phát triển như vậy đã tạo ra thách thức rất lớn
đối với mục tiêu PTBV và sẽ làm nảy sinh không ít khó khăn trong quá trình phát triển
ngành.
1.4.2. Khái niệm về phát triển bền vững nghề khai thác hải sản.
Nghề khai thác hải sản là một nghề sử dụng nguồn lợi tự nhiên có thể tái tạo.