Mục lục
1
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 3
I. Khái niệm phát triển bền vững 3
1. Định nghĩa 3
2. Các thành phần 3
3. Nguyên tắc phát triển bền vững 5
II. Nguồn tài nguyên thiên nhiên và vai trò của
nó đối với phát triển kinh tế 5
1. Đặc điểm nguồn tài nguyên 5
2. Tài nguyên và sự phát triển kinh tế 7
PHẦN II: THỰC TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN V
I. Tổng quan hiện trạng khai thác khoáng sản 8
II. Khai thác Bô – xít 9
1. Trữ lượng và thực trạng khai thác 9
2. Dự án khai thác Bô – xit ở Tây Nguyên 10
III. Khai thác than 15
1. Trữ lượng và tình hình khai thác than 15
2. Hiện trạng môi trường ngành than 18
3. Tình hình thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường 19
từ khi thành lập Tổng Công than Việt Nam đến nay
PHẦN III: GIẢI PHÁP CHO MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 22
BỀN VỮNG NGÀNH KHAI KHOÁNG Ở VIỆT NAM.
I. Giải pháp phát triển bền vững ngành khai khoáng 22
II. Các ví dụ về thực tiễn khai thác bền vững ở các nước 27
PHẦN IV: KẾT LUẬN 30
2
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
I. KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1. Khái niệm
dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm
tầng ozon bảo vệ trái đất.
* Xã Hội Bền Vững: cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng
và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người
và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có
điều kiện sống chấp nhận được. Đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng
cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ
tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững. Muốn vậy
phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy
thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh
vực của đời sống.
* Kinh tế Bền Vững : đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền
vững. Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp
xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử
dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được
chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của
bất cứ ngành kinh doanh , sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên
tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng
chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một
số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm
4
phạm những quyền cơ bản của con người. Phát triển kinh tế bền vững bao
hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo
sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất,
đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng
đồng xã hội.
3. Các nguyên tắc phát triển bền vững
- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống con người.
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất.
chỉ tiêu như: trữ lượng tài nguyên năng lượng (than, dầu, khí…), bao gồm
trữ lượng thăm dò và trữ lượng có khả năng khai thác, khả năng khai
thác/năm. Khả năng khai thác/năm là chỉ tiêu phản ánh sự đóng góp trực tiếp
của nguồn năng lượng vào kết quả hoạt động của nền kinh tế. Dầu hỏa là
nguồn năng lượng có giá trị kinh tế lớn nhất hiện nay, vì những ưu điểm như
sử dụng thuận lợi, dễ vận chuyển, ít gây ô nhiễm. Than đá đang được ưa
chuộng sử dụng trở lại nhờ giá rẻ, ổ định, trữ lượng dồi dào và ít gây ô
nhiễm hơn nhờ những kỹ thuật sử dụng hàn toàn mới. Do những ưu thế đó,
than đá có khả năng trở thành nguồn năng lượng chính của thế kỷ 21. Việt
Nam có trữ lượng than đá lớn, chủ yếu nằm ở khu vực Quảng Ninh chạy từ
đảo cái bầu trên Vịnh Hạ Long cho tới Phả Lại với chiều dài 150km. Trữ
lượng thăm dò khoảng 3,5 tỷ tấn.
Các loại khoáng sản là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai
thac và công nghiệp sản xuất các loại vật liệu như công nghiệp luyện kim,
công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ… Việt Nam được
đánh giá là có nguồn khoáng sản đa dạng như bauxite, thiếc, đồng, quặng sắt,
đá vôi. Trong đó triển vọng nhất là Bauxite, phân bố chủ yếu ở vùng biên
giới phía Bắc và Tây Nguyên.
Sở hữu tài nguyên thiên nhiên. Để khai thác quản lý và sử dụng có hiệu quả
nguồn tài nguyên thiên nhiên, một trong những biện pháp quan trọng mà hầu
hết các nước đều quan tâm là xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên
nhiên. Sở hữu tài nguyên thiên nhiên thường chỉ áp dụng đối với các loại có
liên quan đến bề mặt trái đất hoặc trong lòng đất. Ở Việt Nam, quyển sở hữu
mặt đát và tài nguyên trong lòng đất thống nhất với nhau và thuộc quyền sở
hữu toàn dân, do nhà nước đại diện. Pháp luật cho phép các tổ chức và tư
6
nhân có quyền khai thác và sử dụng lâu dài đất đai, được cụ thể thông qua
các quyền thừa kế, chuyển nhượng, chuyển đổi, thế chấp và cho thuê. Điều
này cho phép sử dụng hiệu quả theo mục đích thống nhất các nguồn tài
nguyên cũng như tạo điều kiện giảm bớt bất bình đẳng trong phân phối thu
đầu người, tạo thêm cơ hội việc làm và tăng các phương án lựa chọn
chính sách. Nhưng nó cũng làm thay đổi động lực kinh tế, bóp méo là
làm mất sản lượng đầu ra của các ngành khác, thường là ngành nông
nghiệp.
• Những hạn chế của khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
“Tăng trưởng” và “phát triển” được coi là vấn đề mấu chốt của nền
kinh tế. Đi đôi với xu hướng này là sự nhấn mạnh lợi ích kinh tế mà
bỏ qua lợi ích của tự nhiên. Do đó việc khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên để phục vụ lợi ích con người đã dẫn đến tình trạng báo
động về môi trường sống trên toàn thế giới. Thiếu sự kiểm soát môi
trường dẫn đến hậu quả là hàm lượng các chất gây ô nhiễm thải ra từ
các hoạt động kinh tế ngày ngày càng tăng.
PHẦN II: THỰC TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Ở VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở
VIỆT NAM
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm
kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt
Nam. Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng
sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn.
Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam
có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng. Nhiều khoáng sản có trữ
lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít,… chủng loại khoáng sản đa
dạng.
Trước đây nhiều loại mỏ khoáng sản không có giá trị kinh tế vì trữ
lượng ít hoặc điều kiện khai thác khó khăn, thì ngày nay nhờ khoa học kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến có thể làm giàu quặng đạt hàm lượng quặng khai
8
thác, trở thành hiệu quả kinh tế trong khai thác. Ví dụ một số mỏ vàng với
hàm lượng vàng quá thấp không khai thác có lại được với công nghệ trước
trong lòng đất. Cho đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, việc khai thác
bôxit, chế biến alumin và tinh luyện nhôm kim loại mới được chúng ta đề
cập đến...
Hiện nay tại khu vực bôxít Tây Nguyên có 6 dự án khai thác và chế
biến quặng bôxít xin cấp phép với công suất alumin hàng năm cho mỗi dự án
từ 300 nghìn tấn (nhỏ nhất) đến 1,9 triệu tấn (lớn nhất). Diện tích chiếm đất
của các dự án chiếm từ 900 ha (nhỏ nhất ) đến gần 2000 ha (lớn nhất).
Với trữ lượng 5,4 tỷ tấn nằm tập trung ở Tây Nguyên, các mỏ bô-xít
được xem là cơ hội, sẽ mở ra một ngành công nghiệp khai thác và chế biến
tinh quặng nhôm (alumina) và nhôm kim loại phục vụ nhu cầu trong nước và
xuất khẩu. Kỳ vọng ấy là thực tế bởi nhôm là kim loại được sử dụng phổ
biến trong các ngành công nghiệp. Nhu cầu nhôm đang ngày càng gia tăng.
Hiện nay, mỗi năm, thế giới tiêu thụ trên dưới 40 triệu tấn nhôm. Nếu khai
thác và chế biến với công suất dự kiến là 8 triệu tấn tinh quặng nhôm và
nhôm kim loại mỗi năm, trữ lượng bô-xít ở Tây Nguyên cho phép khai thác
trong vòng 300 năm và nước ta có cơ hội trở thành quốc gia sản xuất nhôm
có vị trí quan trọng trên thế giới.
2. Dự án khai thác Bô – xit ở Tây Nguyên và những rủi ro
Khai thác Bô - xit ở Tây Nguyên là một dự án đang được chú ý và bàn
cãi nhiều nhất hiện nay. Một mặt nó đem lợi nguồn lợi kinh tế cho đất nước,
mặt khác nó tồn tại nhiều rủi ro, nguy cơ liên quan đến kinh tế, xã hội, môi
sinh, ô nhiễm mô trường…
10
a. Vấn đề kinh tế:
+ Trước hết là rủi ro về thị trường. Nguyên liệu alumina của chúng
ta chủ yếu để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Thị trường trong
nước nhu cầu về nhôm không lớn, cũng không đủ điện để luyện
alumina thành nhôm. Thị trường nước ngoài, mặc dù nhu cầu
nguyên liệu alumina để luyện nhôm rất lớn, nhưng vì chi phí vận
tải cao, Việt Nam chỉ có thể bán rẻ nguyên liệu alumina cho các
cân đối về cung cấp điện trên địa bàn có hệ thống nguồn và lưới điện hiện
còn đang kém phát triển. Các dự án luyện cán nhôm cần rất nhiều điện. Việt
Nam còn đang thiếu điện, và sẽ không có nguồn thuỷ điện rẻ tiền để đảm bảo
cho các dự án nhôm. Các dự án hạ tầng triển khai sau các dự án khai thác bô
- xít và sản xuất alumina cũng cần được tính tới.
Bên cạnh đó, xuất phát từ thực tế của các nước có ngành công nghiệp
bôxít trên thế giới, có thể thấy vấn đề tác động đến môi trường của quá trình
khai thác và chế biến quặng bôxít là có và đương nhiên.
c. Vấn đề bùn đỏ:
Một vấn đề khiến dư luận hết sức lo ngại, đó là việc ô nhiễm môi
trường của bùn đỏ trong quá trình sản xuất alumin.
Bùn đỏ (red mud) gồm các thành phần không thể hoà tan, trơ, không
biến chất và tồn tại mãi mãi như: Hematit (Fe2O3), Natri silico aluminate,
Canxi titanat, Monohydrate nhôm (Al2O3.H2O), Trihydrate nhôm
(Al2O3.3H2O)…
12