Giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản tỉnh khánh hòa - Pdf 22


LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG NHA TRANG - 2010 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:
- Các số liệu thu thập đảm bảo độ chính xác và trung thực với thực tế.
- Các nguồn số liệu khác được sử dụng hoặc trích dẫn đều là các tài liệu, số liệu
đã được công bố hoặc có sự cho phép của tác giả.
- Luận văn này hoàn toàn do tôi tự viết và trình bày, không sao chép từ bất cứ tài
liệu nào.
- Trong suốt quá trình thực hiện luận văn không xảy ra tranh chấp gì với các cá

Với dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các Thầy giáo và đồng nghiệp, tôi đã hoàn
thành luận văn này.
Luận văn được sự hỗ trợ của Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh
Khánh Hòa, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh về nguồn số liệu lưu
trữ. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Văn Động các chủ tàu, thuyền trưởng, cộng đồng ngư dân các địa
phương tỉnh Khánh Hòa đã hợp tác, giúp đỡ những thông tin cần phục vụ đề tài.

Nha Trang, tháng 5 năm 2010
Học viên

Trần Hồng Minh

3

MỤC LỤC

Trang

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
2.1. Nội dung nghiên cứu. 27
2.2. Tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
27
2.2.1. Tài liệu 27
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 28 4

Chương 3: THỰC TRẠNG NGHỀ KTHS TỈNH KHÁNH HÒA
32
3.1. Ngư trường và nguồn lợi hải sản của tỉnh Khánh Hòa
32
3.2. Hiện trạng phát triển nghề KTHS tỉnh Khánh Hòa
32
3.2.1. Khái quát chung 32
3.2.2. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá 38
3.2.3. Các đặc điểm kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân KTHS 40
3.2.4. Một số kết quả điều tra xã hội học cộng đồng nghề cá Khánh Hòa 41
3.2.5. Hiệu quả kinh tế của các nhóm nghề khai thác chính Khánh Hòa 43
3.2.6. Các chính sách phát triển nghề KTHS Khánh Hòa trong thời gian qua

44
3.2.7. Các cơ hội và thách thức đối với nghề KTHS tỉnh Khánh Hòa 45
3.2.7.1. Các cơ hội 45
3.2.7.2. Các thách thức 45
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN TỈNH KHÁNH HÒA

4.1.3. Dự kiến tính khả thi của giải pháp 59
4.6. Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm KTHS
60
4.1.1. Căn cứ đề xuất 60
4.1.2. Nội dung giải pháp 60
4.1.3. Dự kiến tính khả thi của giải pháp 60
Chương V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
61
5.1. Kết luận
61
5.2. Khuyến nghị
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
PHỤ LỤC
64
UBND
Ủy ban nhân dân
7

MỞ ĐẦU
Khánh Hòa là một tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, có phần lãnh thổ trên đất liền
nhô ra xa nhất về phía biển Đông. Có bờ biển dài trên 385 km, có trên 200 hòn đảo
lớn nhỏ, bờ biển khúc khuỷu tạo ra nhiều vũng, vịnh sâu, ngoài việc thuận lợi cho xây
dựng cảng biển nước sâu, còn là nơi lý tưởng cho việc sinh sản, sinh trưởng của nhiều
loài thủy sinh, là điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt hải sản, trong đó có quần đảo
Trường Sa với vị trí quan trọng về quốc phòng và kinh tế của cả nước.
Khu vực biển Khánh Hòa có 600 loài cá, trong đó có khoảng 50 loài cá có giá

luôn giới hạn về mặt số lượng.
Mục tiêu phát triển bền vững nghề khai thác hải sản có thể hiểu theo nghĩa: Tối
đa về mặt sản lượng về khối lượng hoặc về thu nhập và duy trì một mức nhất định trữ
lượng đàn cá nhằm tạo ra một mức dự trữ nhất định hay không làm suy giảm nguồn
lợi.”. Với mục tiêu sinh học này có thể thay đổi để bao hàm các mục tiêu liên ngành
có liên quan đến các mục đích kinh tế - xã hội - môi trường.
Mục tiêu của việc quản lý bền vững nghề khai thác hải sản dựa trên khái niệm
tổng lượng cá đánh bắt cho phép (TAC) được đặt trên cơ sở tham khảo về khía cạnh
sinh học, ví dụ như MSY, khía cạnh kinh tế như MEY từ đó các nhà quản lý có thể ra
các quyết định như: xác định hạn mức khai thác, quy định số lượng tàu thuyền cần
thiết, lựa chọn loại nghề trên cơ sở chọn lọc và hiệu quả kinh tế, đảm bảo sinh kế cho
ngư dân những vẫn duy trì trữ lượng đàn cá qua các năm nhằm thực hiện các mục tiêu
của những năm tiếp theo.
Trong khuôn khổ của một Luận văn tốt nghiệp Cao học, đề tài “Giải pháp phát
triển bền vững nghề khai thác hải sản tỉnh Khánh Hòa”, được giải quyết trên cơ sở
khoa học việc xác định sản lượng khai thác tối ưu và cường lực tối ưu cùng với việc xác
định một số chỉ số về hiệu quả kinh tế, các vấn đề xã hội trong cộng đồng ngư dân
nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tới. Từ đó góp phần vào
việc điều chỉnh cơ cấu các nghề khai thác thủy sản tự nhiên phù hợp với khả năng cho
phép khai thác của nguồn lợi thủy sản; Kiểm soát chặt chẽ các phương thức khai thác
mang tính huỷ diệt, đồng thời không phát triển và giảm dần các nghề khai thác thiếu lựa
chọn, khai thác cả thuỷ sản còn non, phục hồi và phát triển các ngành nghề thay thế
nghề khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên vùng biển ven bờ, tạo điều kiện ổn định đời
sống cho ngư dân, giảm sức ép khai thác đối với nguồn lợi thủy sản.
Kết quả nghiên cứu của Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho tỉnh Khánh
Hòa trong việc thực hiện các Chương trình phát triển Kinh tế biển của tỉnh 9


10

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghề khai thác hải sản tỉnh Khánh Hòa.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.
- Vị trí địa lý:
Khánh Hòa là một tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ
trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực
bắc: 12
0
52'15'' vĩ độ Bắc. Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực Nam: 11
0
42' 50''
vĩ độ Bắc. Phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng, điểm cực Tây: 108
0
40’33'' kinh độ
Đông. Phía Đông giáp Biển Đông, điểm cực Đông: 109
0
27’55'' kinh độ Đông; tại mũi
Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện-Vạn Ninh, cũng chính là điểm cực Đông trên
đất liền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm
lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Bên trên phần đất liền và vùng lãnh
hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa.
Khu vực bờ biển có nhiều đảo lớn nhỏ tạo thành những eo vịnh và là nơi cư trú
của tàu thuyền khi thời tiết xấu. Có nhiều nhánh của dãy núi Trường Sơn đâm ra biển
tạo thành nhiều đầm vũng là nơi cư trú, sinh sản của các loài hải sản.
Thềm lục địa hẹp, đáy biển dốc, độ sâu vùng ven bờ khoảng 15-30 m, ra xa bờ
độ sâu tăng nhanh, có nơi độ sâu đạt 1.000 mm chỉ cách bờ trên 60 hải lý. Do tác động
của dãy Trường Sơn nằm gần biển nên chất đáy của biển cũng mang những nét riêng

- Gió:
Mang tính chất nhiệt đới gió mùa và một năm có hai mùa gió theo hai hướng
khác nhau:
Gió mùa mùa Hạ: Thổi theo hướng Tây Nam, từ tháng 5 đến tháng 10, tính chất
của gió: Khô, hanh.
Gió mùa mùa Đông: Thổi theo hướng Đông Bắc, từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau, tính chất của gió: gây mưa to, gió lớn.
Từ tháng 9-10 là khoảng thời gian chuyển tiếp của hai loại gió mùa. Nhìn chung
cường độ gió biển không lớn lắm và khác với các tỉnh phía Bắc. Đặc biệt bão ít khi vào
vùng biển Khánh Hòa.
- Mưa:
Chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa chính chiếm khoảng 80% lượng
mưa cả năm, kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12. Mùa mưa phụ là các tháng còn lại, chiếm
20%. Mùa mưa cũng là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc.
- Thuỷ triều:
Thuỷ triều mang tính nhật triều không đều. Hàng tháng số ngày nhật triều là: 18-
22 ngày. Thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 nước xuống về đêm; tháng 4 đến tháng 10
nước xuống vào các buổi chiều; từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nước xuống vào các
buổi sáng. Biên độ triều cao nhất là 2,2 m, thấp nhất là 0,5 m, trung bình trong năm là
1,5 m.
- Hải lưu:
Có chế độ dòng chảy chịu sự tác động rất lớn của chế độ gió mùa. Mỗi khi gió
mùa về thường gây nên sự đổi dòng và gây ra những dòng nước trồi.

12

Mùa Đông do tác động của gió mùa Đông Bắc làm xuất hiện hai hoàn lưu nóng
lạnh xáo trộn hình thành khu vực nước nổi ngoài khơi (từ tháng 10 đến tháng 4 năm
sau). Hai dòng nước này giữ cho nhiệt độ nước biển được ổn định.
Mùa hè do tác động của gió Tây Nam, một hoàn lưu chính có nhiệt độ từ 28-

chiếm khoảng từ 5,4 - 29,6 % tổng sản lượng. Các loài cá chiếm ưu thế: cá Bò da

13

(Aluterus monoceros), cá Ngân (Atule mate), cá Nục đỏ đuôi (Decapterus kurroides),
cá Nục sồ (Decapterus maruadsi), cá Nục thuôn (Decapterus macrosoma), cá Bạc má
(Rastrelliger kanagurta), cá Chỉ vàng Selaroides leptolepis), cá Tráo mắt to (Selar
crumenophthalmus)
- Khả năng khai thác tương ứng là 308.000 tấn.
1.2. Tình hình nghiên cứu và quản lý theo hướng PTBV nghề KTHS trên
thế giới.
Sản lượng khai thác hải sản trên toàn thế giới giảm 2% trong giai đoạn 2000 -
2002. Một số quốc gia có sản lượng khai thác giảm nhưng bù lại là sản lượng nuôi
trồng thủy sản tăng. Sản lượng khai thác trên thế giới năm 2002 đạt 93,2 triệu tấn. Tuy
nhiên nếu tính trên đầu người thì lượng thực phẩm khai thác giảm nhẹ từ 10,8kg (1997)
xuống còn 9,8kg (2002) [5].
Theo thống kê của FAO, trong giai đoạn 1970 - 2000 trữ lượng cá giảm từ 10 –
25%. Việc khai thác quá mức vẫn còn diễn ra ở nhiều nước, do đó các chương trình
khôi phục trữ lượng và ngăn chặn việc khai thác quá mức cần phải thực hiện nhanh
chóng ở mỗi quốc gia [6].
FAO thống kê từ 12 trong 16 vùng nghiên cứu cho thấy ít nhất 70% trữ lượng
cá đã bị khai thác hoàn toàn hay khai thác quá mức. Điều này cho thấy chúng ta đã khai
thác vượt ngưỡng tối đa và cần có những biện pháp quản lý để hạn chế việc khai thác
nhằm phục hồi nguồn lợi.
Để hướng đến phát triển bền vững có sự tham gia của cộng đồng, thông qua
FAO và Hội nghị thượng đỉnh phát triển bền vững Thế giới tổ chức tại Nam Phi năm
2002, các quốc gia đang xúc tiến mở rộng chính sách và quản lý tập trung vào việc bảo
vệ nguồn lợi và hệ sinh thái. Các vấn đề quản lý quan trọng nhất cần đề cập đến là ảnh
hưởng của nghề cá đến sinh cảnh, quần thể và mối tương tác sinh thái học cũng như các
hoạt động trong đất liền và sự thay đổi khí hậu. Đa số các loại ngư cụ khai thác không

pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi hợp lý đang được áp dụng trên thế giới như sau:
1.2.1. Giảm số lượng tàu thuyền khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp
Năm 2004, tổng số tàu thuyền trên thế giới khoảng 4,1 triệu chiếc. Số lượng
thuyền khai thác tập trung nhiều nhất ở Châu Á (85%). Tiếp theo là Châu Âu (8,9%),
Bắc và Trung Mỹ (4,5%) [6]
Trước sự gia tăng số lượng và công suất tàu thuyền, một số nước đã thực hiện
nghiêm túc việc cắt giảm số lượng tàu thuyền dư thừa. Việc giảm số lượng tàu thuyền
công suất lớn là rất cần thiết, tuy nhiên việc khai thác xa bờ luôn luôn đòi hỏi phải dùng

15

tàu công suất lớn mới đảm bảo an toàn trong điều kiện thời tiết xấu. Ngoài ra các tàu
công suất lớn thì khai thác cá nổi ngoài biển khơi hiệu quả hơn. Do đó theo dự báo thì
số lượng tàu cỡ lớn sẽ gia tăng trong thời gian tới [6].
Tuy nhiên, ở một số nước đang thực hiện chương trình cắt giảm số lượng tàu cỡ
lớn. Trung Quốc đang nỗ lực giảm kích thước thuyền, số lượng người tham gia khai
thác nhằm hạn chế việc khai thác quá mức. Năm 2000, số lượng lao động khai thác
giảm 2% và có khoảng 4% được chuyển qua làm các nghề khác. Trung Quốc cố gắng
loại bỏ một số thuyền cũ, kém hiệu quả và tăng cường tập huấn cho họ về nuôi trồng
thủy sản. Kết quả là số người nuôi trồng thủy sản tăng 6% năm 2002 so với năm 2000
và nguồn lợi dần được khôi phục.
Xu hướng chuyển đổi lực lượng lao động khai thác sang NTTS cũng được tiến
hành ở nhiều quốc gia khác nhau. Các nước công nghiệp, đặc biệt là Nhật Bản và một
số nước Châu Âu, lực lượng lao động KTHS giảm qua các năm vừa qua. Đây là kết quả
của các chương trình cắt giảm cường lực khai thác và áp dụng khoa học công nghệ tiên
tiến [5].
Năm 2003, một số quốc gia đã giảm một lượng lớn tàu 100 tấn. Nhật Bản là
nước đầu tiên với số lượng giảm là 140 chiếc. Hơn 90% tàu Nhật Bản có công suất
dưới 5 tấn. Số lượng loại này giảm từ giữa năm 1997 – 2000. Đặc biệt số tàu trên 50 tấn
giảm 20%.

Mặc dù việc khai thác quá mức ở Châu Âu được xem xét trong hơn 20 năm
qua, nhưng Liên minh Châu Âu chưa thực hiện thành công quản lý thủy sản bền vững.
Nhà nước hỗ trợ hàng triệu Euro vào ngành công nghiệp khai thác làm cho số lượng tàu
công suất lớn gia tăng rất nhanh. Việc xây dựng hệ thống quản lý mới là giảm số lượng
tàu thuyền và nâng cao trách nhiệm giữa những người quản lý và người dân trong việc
khôi phục nguồn lợi và hệ thống này cần phải khẩn trương thực hiện nhanh chóng [7].
Hệ thống quản lý mới là chuyển quyền khai thác có trách nhiệm cho người dân,
trong đó mọi người dân xem nguồn lợi thủy sản là tài sản chung của mọi người và cần
phải được bảo vệ. Với hệ thống quản lý này cho thấy có những thành công lớn trong
việc bảo vệ và phục hồi nguồn lợi. Các thành viên EU đã thực hiện hiệu quả việc khôi
phục trữ lượng, giảm áp lực khai thác và đem lại lợi ích kinh tế cao cho ngành công
nghiệp khai thác của mình
Từ 1990, số lượng tàu thuyền thuộc khối EU gia tăng một cách nhanh chóng.
Dựa trên số liệu thống kê, EU dự báo số tàu thuyền khai thác ở EU cao hơn 40% so với
đăng ký thực tế. Kết quả là khai thác quá mức và nguồn lợi bị suy giảm. Đầu những
năm 1990, EU đã thỏa thuận hiệp định cơ bản về khai thác hạn ngạch, giới hạn cường

17

lực khai thác và xây dựng các khu bảo tồn biển. Theo Hiệp định này, nghề khai thác
phải được quản lý sao cho trữ lượng nguồn lợi hiện có phải cân bằng với tốc độ tử vong
của từng loài. Thế nhưng theo Hội đồng bảo vệ môi trường biển Đông Bắc Đại Tây
Dương thì 2/3 trữ lượng cá ở vùng này vẫn không được quản lý một cách bền vững [7].
1.2.4. Áp dụng hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch.
Đầu những năm 1980, do nguồn lợi thủy sản ngày càng ít trong khi đó số lượng
thuyền khai thác quá nhiều. Ngành công nghiệp khai thác Newzealand và Chính phủ
nước này nhận thấy rằng cần phải có một hệ thống quản lý mới trong khai thác hải sản.
Vào tháng 10/1986, sau 2 năm lập kế hoạch và thẩm định, hệ thống quản lý theo hạn
ngạch được áp dụng. Nguyên tắc của khai thác hạn ngạch là các cá nhân hay công ty
đăng ký sẽ được quyền khai thác với một số lượng nhất định của một loài nào đó. Hạn

và suy giảm nguồn lợi. Sự di chuyển của một số loài cá đến vùng địa phận quốc tế làm
cho áp lực khai thác của nhiều quốc gia ở vùng này gia tăng. Do đó việc thực hiện hiệp
định khai thác quốc tế bảo vệ nguồn lợi hải sản là rất cần thiết. Nauy có truyền thống
lâu đời về hợp tác quốc tế khai thác hải sản. Nauy đã ký hiệp định thủy sản với nhiều
quốc gia. Năm 1995, Hiệp định Liên hợp quốc về bảo vệ nguồn lợi và trữ lượng cá di
cư là bước đi đúng hướng và họ đã chú trọng đến việc thực hiện hiệp định này.
Mục tiêu của Nauy là bảo vệ và hồi phục nguồn lợi cá để khai thác bền vững
hàng năm theo định mức dựa vào nghề cá có trách nhiệm. Để thực hiện thành công,
Chính phủ Nauy đã đầu tư rất nhiều nghiên cứu về đánh gái trữ lượng cá. Nauy đang cố
gắng trở thành quốc gia hàng đầu về công nghệ khai thác thủy sản. Chính vì thế, nghề
cá Nauy đứng thứ 2 sau ngành dầu khí của nước này [7].
Năm 1981, ở châu Á, chính sách đăng ký thuyền khai thác bắt đầu ở Malaysia.
Theo chính sách này thì kích thước thuyền, loại ngư cụ và vùng khai thác phải được
đăng ký. Việc hạn chế người khai thác dựa vào hệ thống hạn ngạch một khi nguồn lợi
có nguy cơ suy giảm. Đối với các tàu khai thác truyền thống thì hoạt động trong vùng 5
hải lý (loại A), các tàu lưới kéo và lưới rùng có công suất <40cv thì khai thác trong
vùng 5 – 12 hải lý (loại B), các tàu lưới kéo có công suất <70cv thì được khai thác trong
vùng từ 12 – 30 hải lý (loại C). Ngoài 30 hải lý thì cho phép tất cả các tàu thuyền được
khai thác [6].
Trong thực tế, hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch còn tồn tại một số
nhược điểm sau: khai thác hạn ngạch chỉ tốt khi chúng ta có đầy đủ cơ sở dữ liệu về trữ
lượng đàn cá, tốc độ hồi phục quần thể, tỷ lệ tử vong và mức đe dọa sinh thái. Tuy
nhiên hầu hết chúng ta không có dữ liệu chính xác như vậy và hạn ngạch chỉ mang tính

19

dự báo khoa học. Khoảng 15% trữ lượng cá chúng ta không có đầy đủ dữ liệu. Hầu hết
các nghiên cứu về trữ lượng chỉ tập trung đánh giá đơn loài mà bỏ qua tác động đa loài.
Ngoài ra trong quản lý khai thác theo hạn ngạch không đề cập đến bảo vệ sinh
cảnh, đa dạng sinh học và ngư cụ mang tính hủy diệt, do đó một số lượng lớn cá đã bị

SEAFDEC đã xuất bản nhiều bản hướng dẫn về quản lý nghề cá (2003), khai
thác thủy sản (2000) và các phương pháp bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Ngoài ra,
SEAFDEC cũng ban hành một số quy định như: quy định buôn bán thủy sản, các chỉ số
bền vững nghề cá, nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường, thống kê nghề cá, các
tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (HACCP) và danh mục loài nguy cơ, đe dọa và
tuyệt chủng (CITES).
Theo sau kế hoạch chiến lược của SEAFDEC thì nhóm tư vấn thủy sản giữa
các nước ASEAN và SEAFDEC được hình thành năm 1998 nhằm xúc tiến trao đổi
hàng năm về các quy định, chính sách giữa các nước ASEAN và SEAFDEC. Các
chương trình hành động của SEAFDEC bao gồm các chương trình về quản lý thủy sản,
chương trình nuôi trồng thủy sản, chương trình quản lý chất lượng vệ sinh an toàn và
thú y thủy sản.
Với các chính sách quản lý cấp toàn cầu, khu vực và cấp quốc gia; một số nước
trên thế giới đã và đang phát triển nghề cá trên cơ sở bền vững; và Việt Nam cũng đang
có rất nhiều nỗ lực nhằm quản lý nghề khai thác một cách bền vững. Để nỗ lực này
được thực thi một cách có hiệu quả, cần có những giải pháp phù hợp và một hệ thống
quản lý năng động cũng như có trách nhiệm. Và hơn nữa sự thực thi các giải pháp này
cần phải được tiến hành đồng bộ từ trên xuống dưới, từ Trung ương xuống địa phương
và đặc biệt là cộng đồng ngư dân ven biển.
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến PTBV nghề KTHS.
Vấn đề phát triển bền vững cho nghề khai thác hải sản nói riêng và ngành Thuỷ
sản nói chung chỉ mới được đề cập trong một vài năm trở lại đây. Phát triển bền vững
nói chung đã trở thành quan điểm và mục tiêu của Đảng và chính sách của Nhà nước.
Thể chế hóa phát triển bền vững bằng văn bản luật trong các chỉ thị, Nghị quyết; Quyết
định của các cấp chính quyền nhà nước như: Chỉ thị số 36/CT-TW của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước (1998), Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo
vệ môi trường (2004). Đặc biệt, ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra
Quyết định số 153/2004/QĐ -TTg ban hành Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam
(Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam). Trong đó, thuỷ sản là một trong những ngành

Tại tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh trong nước cũng đã có các giải pháp nhằm
giảm áp lực khai thác và tạo sinh kế cho cộng đồng như:
- Năm 1999, UBND tỉnh Khánh Hòa đã có biện pháp chỉ đạo trong việc chuyển
đổi nghề nghiệp cho ngư dân làm các nghề: Lưới kéo, xiệp điện trong đầm Nha Phu
sang nuôi vẹm xanh và ương tôm hùm giống đã thu được kết quả bước đầu khả quan.

22

- Dự án thí điểm khu bảo tồn biển Hòn Mun, Khánh Hòa; Dự án thí điểm khu
bảo tồn biển Rạn Trào, Vạn Ninh, Khánh Hòa; Dự án quy hoạch tổng thể quản lý khai
thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên Huế; Dự án quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ dựa
vào cộng đồng, khu bảo tồn nguồn lợi Phù Long; Dự án xây dựng mô hình phát triển
bền vững ngành thủy sản tại Cát Bà, Hải Phòng; Dự án quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh
Hạ Long Tuy nhiên hiệu quả của các hoạt động này đưa lại còn quá ít ỏi so với yêu
cầu bức thiết của thực tế đặt ra.
- Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản (Dự án ALMRV), tỷ lệ cá
tạp trong thành phần sản lượng khai thác của các nghề khai thác hải sản ven bờ như te
xiệp, lưới rùng, lưới kéo ven bờ chiếm tới 70÷90%. Rõ ràng sự hoạt động của các nghề
khai thác ven bờ mang lại tác hại không nhỏ đối với nguồn lợi hải sản.
- Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng liên tục trong nhiều năm nghiên cứu đã có
được những con số dự báo tiềm năng nguồn lợi hải sản và khả năng đánh bắt tại các
khu vực biển trong cả nước. Dựa vào dự báo đó hàng loạt quy hoạch khai thác các tỉnh
duyên hải trong cả nước theo những chỉ tiêu khả năng khai thác cho phép. Cách quản lý
cường lực khai thác như trên chứng tỏ Cơ quan quản lý nghề cá của Quốc gia đã xây
dựng kế hoạch phát triển nghề cá với cơ sở khoa học vững chắc đương thời. Tuy nhiên,
khả năng dự báo nguồn lợi trên cơ sở những nghiên cứu trên tỏ ra thiếu chính xác và
không thể cập nhật trước tình hình phát triển cường lực khai thác không quản lý được.
Những lý do trên cho thấy cần thiết tìm kiếm phương pháp xác định mới nhằm quản lý
bền vững cường lực khai thác phù hợp với tiềm năng nguồn lợi
- Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, ở miền Bắc Việt Nam, nước Việt Nam

năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về ban hành
Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam).
Trong đó, thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế được xác định cần phải ưu tiên
nhằm PTBV.
Ngành Thuỷ sản nước ta đã được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, giải
quyết việc làm cho hàng triệu người lao động, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế
quốc dân cũng như kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Chính vì vị thế quan trọng của
ngành, ngày 11/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020. Theo đó, ngành thủy sản phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất
hàng hoá lớn, sản phẩm thuỷ sản phải có sức cạnh tranh cao trên các thị trường để tiếp
tục phát triển nhanh và bền vững. Trong khi xuất phát điểm vốn là một nghề cá quy mô
nhỏ với phương thức canh tác truyền thống, tiếp cận ngư trường tự do với thực trạng

24

sản xuất của ngành còn manh mún, bị cắt khúc giữa các khâu, quản lí dựa vào kinh tế
hộ gia đình. Mâu thuẫn giữa các yếu tố phát triển như vậy đã tạo ra thách thức rất lớn
đối với mục tiêu PTBV và sẽ làm nảy sinh không ít khó khăn trong quá trình phát triển
ngành.
1.4.2. Khái niệm về phát triển bền vững nghề khai thác hải sản.
Nghề khai thác hải sản là một nghề sử dụng nguồn lợi tự nhiên có thể tái tạo.
Mục tiêu phát triển bền vững nghề khai thác hải sản có thể hiểu theo nghĩa: Tối đa về
mặt sản lượng về khối lượng hoặc về thu nhập và duy trì một mức nhất định trữ lượng
đàn cá nhằm tạo ra một mức dự trữ nhất định hay không làm suy giảm nguồn lợi. [7].
Với mục tiêu sinh học này có thể thay đổi để bao hàm các mục tiêu liên ngành
có liên quan đến các mục đích kinh tế – xã hội – môi trường.
Về mặt kinh tế: mục tiêu của việc phát triển nghề khai thác hải sản là tối đa
hoá lợi nhuận thu được từ việc khai thác nguồn lợi tự nhiên
Về mặt xã hội: phát triển bền vững nghề khai thác hải sản phải đảm bảo được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status