Cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả điều
tra và nghiên cứu của tôi. Kết quả nghiên cứu này chưa được sử dụng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.
Bến Tre, Ngày 05 tháng 7 năm 2010
Ký tên Trần Ngọc Nhuận
ii
Cảm tạ
Trước hết, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Hoàng Thị Bích Đào đã
tận tình giúp đỡ, sửa chữa, hướng dẫn và góp rất nhiều ý kiến quý báu giúp tôi từ
lúc xây dựng đề cương đến hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô khoa nuôi trồng thuỷ sản - Trường
Đại học Nha Trang; xin cám ơn Ủy ban nhân dân các xã Vĩnh Bình, Phú Phụng,
Sơn Định, Hòa Nghĩa, Tân Thiềng, Long Thới - Huyện Chợ Lách; xin cám ơn anh
chị phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Lách cùng toàn thể anh
chị em lớp cao học khóa 2006 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu
thập số liệu và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trong Chi cục Khai thác và Bảo vệ
nguồn lợi thủy sản Bến Tre; Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy
sản Bến Tre đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
thời gian thu thập số liệu và viết luận văn tốt nghiệp.
Sau cùng xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên và tạo
điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
chương trình cao học.
iii
Hình 2.2: Minh hoạ phương pháp phân tích nhân tố: Xi (biến thực), Fi
(nhân tố) và
(hệ số tương quan giữa biến X và nhân tố F) 26
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Bến Tre thể hiện địa điểm nuôi cá Tra tập trung ở
huyện Chợ Lách 30
Hình 3.2: Ao nuôi cá Tra ở Chợ Lách – Bến Tre 36
Hình 3.3: Số ngày và % thể tích nước thay/lần thay qua thời gian nuôi 38
Hình 3.4: Tổng lượng nước thay qua các tháng nuôi 39
Hình 3.5: Phân loại các nhóm ao chính (1, 2 3 và 4) dựa vào khoảng cách
khác biệt qua phân tích cụm 43
Hình 3.6: Hệ số hồi quy chuẩn (beta) của các biến ảnh hưởng đến năng suất
cá nuôi trong mô hình hồi quy tuyến tính bội: (a) năng suất cá/vụ và (b) năng
suất cá/tháng nuôi 47
Hình 3.7: Hệ số hồi quy chuẩn (beta) của các biến ảnh hưởng đến hệ số sử
dụng thức ăn trong mô hình hồi quy tuyến tính bội 48
Hình 3.8: Hệ số hồi quy chuẩn (beta) của các biến ảnh hưởng đến lợi nhuận
kinh tế nuôi cá trong mô hình hồi quy tuyến tính bội: (a) lợi nhuận kinh tế/vụ
và (b) lợi nhuận kinh tế/tháng nuôi. 50
Hình 3.9: Thành phần chi phí của nuôi cá tra ở Chợ Lách 51
Hình 3.10: Hệ số hồi quy chuẩn (beta) của các biến ảnh hưởng đến tỉ lệ cá
thương phẩm có thịt trắng trong mô hình hồi quy tuyến tính bội 52
Hình 3.11: Mô hình liên kết sản xuất nuôi cá tra xuất khẩu 59
v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.5.1. Bệnh đốm đỏ 13
vi
1.5.2. Bệnh trắng da 14
1.5.3. Bệnh gan thận mủ 14
1.5.4. Bệnh nấm thủy mi 15
1.5.5. Bệnh bào tử trùng - Myxoboliosis 15
1.5.6. Bệnh sán lá 16 móc – Dactylogyrosis 15
1.6. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre.16
1.7. Thực trạng nuôi cá tra ở Bến Tre 18
1.7.1. Tình hình nuôi cá tra 18
1.7.2. Các hình thức nuôi cá tra chủ yếu ở Bến Tre 20
1.7.2.1. Nuôi chuyên canh trong ao đất 20
1.7.2.2. Nuôi luân canh trong ao đất 21
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 22
2.2. Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu 24
2.2.2.1. Các chỉ tiêu tính toán 24
2.2.2.2. Phương pháp phân tích thống kê 24
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng nghề nuôi cá tra ở Chợ Lách 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội huyện Chợ Lách 29
3.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.1.2. Tình hình chung về kinh tế - xã hội 31
3.1.2. Hiện trạng nuôi cá tra tại huyện Chợ Lách 32
vii
1
Mở Đầu
Bến Tre là một tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long, với 65 km bờ biển, được
bao bọc bởi 4 nhánh sông lớn của sông Tiền: Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ
Chiên; cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt tạo nên vị thế rất thuận lợi cho nuôi
trồng và khai thác thủy sản. Đại hội lần 7 tỉnh Đảng bộ Bến Tre xác định kinh tế
biển và vườn là những mũi nhọn kinh tế của tỉnh. Thực tế cho thấy những năm gần
đây Ngành Thủy sản Bến Tre đã chú trọng đầu tư phát triển khai thác thủy sản
cùng với nuôi trồng ở vùng nước ven biển (mặn, lợ); Song nước ngọt chưa được
quan tâm đúng mức kể cả các đối tượng truyền thống như tôm Càng xanh, cá Lóc,
cá Rô đồng… đặc biệt là nuôi cá Tra thâm canh. Trước xu thế phát triển mạnh
nghề nuôi cá Tra thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long, các doanh nghiệp, tập
thể, tư nhân đầu tư vốn để nuôi, đã tạo nên một diện mạo mới cho nghề nuôi
thủy sản nước ngọt, đa dạng hóa đối tượng nuôi, làm thay đổi ý thức trong cộng
đồng người nuôi. Đồng thời tạo nguồn nguyên liệu dồi dào cho các nhà máy chế
biến trong tỉnh và các tỉnh lân cận, cũng như tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn
người lao động.
Tuy vậy, việc tăng nhanh diện tích nuôi cá Tra (năm 2006: 97 ha, năm
2007: 468 ha, 2008: 650 ha) không theo quy hoạch, không tính đến yếu tố cung,
cầu; nuôi tập trung ở những bãi bồi, cồn nổi, ven các sông lớn đã làm tăng ô nhiễm
môi trường nước tự nhiên và nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư sinh sống trong
vùng nuôi cá tra. Bệnh trên cá tra xuất hiện nhiều, không theo quy luật mùa vụ,
ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ngoài ra, lợi nhuận bấp bênh đã tạo ra sự thay đổi liên tục các chủ sở hữu nuôi, tạo
tâm lý bất an cho người nuôi cũng như mâu thuẩn giữa người nuôi cá tra và cộng
đồng dân cư sinh sống nơi đó. Để phát triển nghề nuôi cá tra theo hướng hàng hóa,
chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, bền vững ở Bến Tre cần đánh giá đúng thực
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Phân loại và phân bố cá tra (Pangasius hypophthalmus)
1.1.1. Hệ thống phân loại
Loài cá tra nuôi được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1878 ở Campuchia.
Tên khoa học của cá tra có nhiều tên khác nhau dựa trên cơ sở những tài liệu các
tác giả nước ngoài mô tả cá ở các khu hệ cá lân cận (như Thái Lan) [48]. Trước
đây, cá tra được xếp vào họ Shilbeidae và tên khoa học của chúng là Pangasius
micronemus Bleeker, 1847 [22], [6]. Ngoài ra, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, cá
tra còn có tên khoa học khác là Pangasius sutchi [28]. Gần đây một số tác giả lại
xếp cá tra vào giống Pangasianodon [32]. Theo kết quả định danh lại, cá tra có tên
khoa học là Pangasius hypophthamus [46]. Vì vậy, cá tra có hệ thống phân loại
như sau:
Ngành: Vertebrata
Lớp: Ostichthyes
Bộ : Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasius
Loài: Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878 [3]
Hình 1.1: Cá tra (Pangasius hypophthalmus) [3]
4
1.2.2. Tình hình phát triển nghề nuôi cá tra ở Việt Nam
5
Nuôi cá tra, cá basa ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ XX, xuất
phát từ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), ban đầu chỉ nuôi ở quy mô nhỏ,
nhằm tự cung tự cấp thực phẩm. Các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao hầm,
mương vườn với nguồn thức ăn sẵn có. Cuối thập niên 90, nghề nuôi cá tra, cá
basa đã có những bước tiến vượt bậc. Các doanh nghiệp đã tìm được thị trường
xuất khẩu, các nhà khoa học đã thành công trong quy trình sản xuất giống và kỹ
thuật nuôi thâm canh đạt kết quả cao. Vì vậy, việc chủ động sản xuất giống cá tra,
cá basa nhân tạo đã đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất và mở ra khả năng sản xuất
hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa [10].
Nghề nuôi cá da trơn trên bè bắt đầu vào những năm 1968, khi nhóm người
Việt Nam sinh sống ở Campuchia phải sơ tán về hạ lưu sông Mêkông do tình hình
chiến tranh [42]. Ðiều kiện tự nhiên ở vùng ÐBSCL là yếu tố quan trọng nhất
mang tính quyết định đến hiệu quả của nghề nuôi cá tra và cá basa. Ở khu vực
miền Tây Nam bộ hệ thống nuôi cá tra, cá basa đặc trưng là nuôi bè, đăng quầng
và nuôi ao như tỉnh Ðồng Tháp và An Giang.
Trong những năm qua do thị trường xuất khẩu được mở rộng ở Bắc Mỹ và
Châu Âu, giá cá xuất khẩu tốt, nên diện tích cá tra, cá basa nuôi ở bè, ao hầm, đăng
quầng trên các bãi bồi, còn nổi, các triền sông mỗi năm đều tăng. Theo ước tính,
diện tích nuôi cá tra thâm canh ở vùng ĐBSCL năm 2007 khoảng 5.600 ha, sản
lượng cá ước đạt khoảng 1,5 triệu tấn và giá trị xuất khẩu đạt hơn một tỷ đô la
Mỹ[2].
0
200
400
600
800
1000
An Giang, Cần Thơ, Bến Tre từ năm 2005 đến 2008 [14], [15], [16].
Việc mở rộng diện tích ao nuôi cá một cách tự phát trong vài năm qua đã
làm suy thoái nghiêm trọng môi trường nước. Nhất là hiện nay, đa số ngư dân áp
dụng nuôi cá tra theo công nghệ mới, để nâng cao năng suất và cải thiện thịt cá,
việc thay nước được thực hiện liên tục, trong khi hệ thống ao xử lý hầu như không
được quan tâm để xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường. Điều này đã làm
suy giảm môi trường nghiêm trọng. Đây chính là những nguy cơ tiềm ẩn cho nghề
nuôi cá ở vùng ĐBSCL.
1.3. Các hình thức nuôi cá tra thương phẩm
1.3.1. Nuôi bè
Bè nuôi cá ở vùng ĐBSCL thường được kết hợp vừa là bè cá vừa là nhà
ở. Dựa vào thời gian sử dụng mà chia ra 2 nhóm bè: bè kiên cố và bè tạm
thời. Nhóm bè tạm thời thường nhỏ và được đóng bằng tre hoặc loại gỗ chịu nước
kém. Bè cỡ trung và cỡ lớn thường nằm trong nhóm bè kiên cố. Các bè này được
đóng bằng gỗ tốt và chịu nước như gỗ sao, vên vên, căm xe, chò chỉ, dầu, bằng
lăng. Loại bè này đủ sức chịu đựng được với điều kiện sóng gió, nước chảy và khá
bền, có khi tới 50 năm việc đóng mới các loại bè kiên cố hiện nay cũng gặp khó
khăn do khan hiếm các loại gỗ tốt. Vì vậy hiện có một số bè được thiết kế bằng các
loại vật liệu mới như bè ximăng lưới thép
Bè nuôi cá thường có dạng hộp chữ nhật, ngoại trừ một số bè cỡ nhỏ dùng
cho ương cá giống thì có dạng hộp vuông. Người nuôi cá bè cho rằng dạng bè hộp
chữ nhật dễ dàng trong chọn gỗ thiết kế và quản lý sử dụng. Ngoài ra, dạng này
7
cũng phù hợp cho việc làm nhà trên bè theo truyền thống và cũng là nơi chế biến
thức ăn, nhà kho
Bè được đặt nổi và neo cố định tại một điểm trên sông, vì vậy phải lựa chọn
những vị trí thích hợp nhiều mặt, tiện lợi cho nuôi cá, nhưng không làm cản trở
giao thông và hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước.
hình chữ V, U hoặc W, nước chảy đều làm theo kết cấu hình thẳng.
Vùng nuôi đăng chắn thì kích thước của mắt lưới và đăng tre phải nhỏ hơn
kích thước của cá giống để tránh cá thoát ra ngoài. Mật độ thả 50 - 100con/m
3
nước, cỡ cá giống từ 70 đến 100g/con [17].
1.3.3. Nuôi trong ao đất
Ao nuôi cá tra phải được đặt gần nguồn cấp và thoát nước tốt (sông, kênh
rạch). Tránh xa các nguồn gây ô nhiễm như nước đổ từ đồng ruộng, khu vực công
nghiệp, khu dân cư. Ao nuôi không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Độ phèn (pH) của
nước trung tính và dao động từ 7 - 8,5 là thích hợp.Trong quá trình thiết kế xây
dựng ao nuôi, cần lưu ý đến hệ thống ao trữ và lắng nước, cũng như hệ thống ao,
mương xử lý nước trước khi thải ra môi trường.
Diện tích ao nuôi dao động từ 1.000 – 15.000 m
2
. Để thuận lợi trong quản lý
và chăm sóc cá nuôi nên phải thật cẩn thận khi quyết định thiết kế ao nuôi có diện
tích phù hợp trong khoảng 4.000-5.000 m
2
/ao.
Tùy theo cơ cấu đất ở vùng nuôi, độ sâu của ao nuôi có thể thiết kế dao
động từ 3.5-5m. Ao phải có cống cấp và thoát nước riêng biệt. Ao tốt nhất có dạng
hình chữ nhật với chiều dài gấp 1,5–2 lần chiều rộng. Với những vùng thường bị
ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế với lưới bao quanh ao.
Xung quanh ao phải thông thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi
cá nằm trong vườn cây, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được
thoáng. Mật độ thả giống từ 30-60 con/m
2
, cở giống thả từ 1,5-2 cm.
Trong ao nuôi cá tra nên thiết kế một hay nhiều nơi cho cá ăn, đó là các sàn
Theo Dương Thúy Yên (2003) thì cá tra có thể sống trong điều kiện môi
trường có pH rất thấp, khoảng 4,0. Do đó ảnh hưởng của pH, nhất là pH thấp lên
cá Tra nuôi là ít xảy ra. Ngoài ra, sự biến động pH theo ngày đêm còn phụ thuộc
vào mật độ phiêu sinh thực vật [23].
1.4.3. Oxy hòa tan (DO)
Nồng độ oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8-10 ppm và sẽ dao động
mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang
hợp của thực vật thủy sinh [5]. Trong ao hồ nuôi thâm canh, lượng oxy trong nước
được quyết định chủ yếu bởi các hoạt động sinh hóa, lượng oxy khuếch tán từ
không khí chỉ có vai trò thứ yếu. Khi oxy hòa tan thấp làm giảm hoạt động hoặc
gây chết thủy sinh vật, do đó, oxy hòa tan là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự
ô nhiễm nước của thủy vực [1].
Khi nghiên cứu trên đối tượng cá tra, Dương Nhựt Long và ctv (2004) cho
rằng hàm lượng thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là 3,5 – 6,5 ppm [7]. Nuôi cá
ở mật độ cao, ao nuôi cũng thường xảy ra hội chứng thiếu oxy cục bộ do sự gia
tăng hàm lượng CO
2
trong nước, pH giảm, NO
2
-
tăng và biến động của một số yếu
tố môi trường khác [47].
1.4.4. Tiêu hao oxy hóa học (COD)
Giá trị COD của nước phụ thuộc vào nhiệt độ và hàm lượng chất hữu cơ
trong thủy vực. COD quan hệ tỷ lệ thuận với các hợp chất hữu cơ, các hợp chất
hydrocarbon trong nước. Các hợp chất này có thể bị oxy hóa 95 – 100% và khả
năng oxy hóa phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng ion Cl
-
trong nước. Khi hàm lượng
ion Cl
, trong đó NH
4
+
là dạng phân đạm
cần thiết cho sự phát triển của thực vật, nó thúc đẩy sự phát triển mạnh của tảo
trong các ao nuôi. Khi cơ thể động vật đồng hóa protein trong thức ăn thì một phần
chuyển thành amoniac và được bài tiết vào trong nước. Nồng độ NH
3
trong các ao
nuôi tỷ lệ thuận với lượng thức ăn sử dụng [1]. Đạm amôn còn sinh ra trong nước
do quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ có chứa N (protein).
Nồng độ NH
3
được xem là an toàn cho ao nuôi là 0,13 ppm [30]. Các hợp
chất vô cơ hòa tan quan trọng của nitơ là NH
3
, NH
4
+
, NO
3
-
, và NO
2
-
. Trong đó
NH
3
+
và NO
tốt nhất là không được vượt quá 2 mg/L, vào cuối vụ nuôi nước ao nuôi cá tra thâm
canh đã vượt quá giới hạn trên [26].
Ở các ao nuôi cá tra thâm canh, mặc dù vào cuối vụ việc thay nước diễn ra
thường xuyên hơn so với đầu vụ nhưng hàm lượng TAN vẫn ở mức cao, cao hơn 5
lần so với ao nuôi tôm thâm canh và cao hơn 10 lần so với ao nuôi thủy sản thông
thường [11].
1.4.7. Đạm nitrite (N-NO
2
-
)
Nitrite trong nước có thể do các nguồn ô nhiễm xâm nhập vào hoặc là hợp
chất trung gian của quá trình phân hủy sinh ra từ ammoniac thành nitrat. Nó cũng
là tác nhân gây độc đối với động vật thủy sinh [1].
Hàm lượng N-NO
2
-
thích hợp cho ao nuôi cá <0,3 mg/L và đạm (N-NO
3
-
)
một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng, không độc hại đối với
thủy sinh vật là 0,2 – 10 mg/L. Trong ao nuôi cá nheo có thay nước hàm lượng
nitơ tổng và COD tăng theo thời gian nuôi, trong đó nitơ ở dạng nitrite và nitrate
không vượt quá 0,05 mg/L và 0,1 mg/L và ammonia tổng không vượt quá 0,75
mg/L [26].
Hàm lượng NO
2
-
được hình thành chủ yếu bởi quá trình nitrite hoá từ TAN.
Do đó khi hàm lượng NH
O, NH
2
OH, NH
3
và N
2
. Vi
khuẩn tham gia quá trình này bao gồm các loài kỵ khí không bắt buộc như
Bacillus, Pseudomonas [49].
Trong điều kiện hiếu khí, chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng oxy hòa
tan trong nước, còn trong điều kiện kỵ khí chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ
bằng con đường khử hydro để chuyển hydro cho nitrate và nitrite. Quá trình này
không có lợi vì nó làm mất nitơ trong thủy vực và tạo thành các chất độc hại cho
thủy sinh vật như NH
3,
NO
2
-
[41].
Theo Boyd (1998) nitrate là dạng đạm không độc nhưng với hàm lượng quá
cao cũng không có lợi cho tôm cá, khi hàm lượng nitrate trong nước cao sẽ làm tảo
phát triển quá mức. Hàm lượng NO
3
-
thích hợp trong ao nuôi thuỷ sản từ 0,2 - 3,0
mg/L [26].
1.4.9. Lân (PO
4
3-
và TP)
Phospho là nguyên tố giới hạn của sự phát triển phiêu sinh thực vật trong hệ
thống ao nuôi thủy sản [25] và nếu trong thủy vực tự nhiên có nhiều phospho thì
thực vật phiêu sinh càng phát triển [44]. Tuy nhiên, lân hoà tan trong nước cũng dễ
bị lớp bùn đáy hấp thu, từ đó làm giảm lượng lân hoà tan trong nước, mặt khác
chúng còn bị kết tủa dưới dạng Ca
3
(PO
4
)
2
. Thông thường, đối với môi trường ao
nuôi giàu dinh dưỡng, TAN và lân hòa tan rất cao, nhưng đối với những ao có lớp
bùn đáy dầy, độ cứng cao thì sự biến động lân hòa tan không cùng quy luật với
13
TAN. Theo Lê Bảo Ngọc (2004) đối với ao nuôi cá Tra thâm canh, hàm lượng lân
hoà tan đạt giá trị 0,44 ± 0,52 mg/l [9].
1.5. Bệnh ở cá tra
Bệnh làm giảm tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá. Do vậy ảnh hưởng
tới chất lượng, năng suất, sản lượng cá và an toàn vệ sinh thực phẩm. Tuy nhiên
bệnh là sự tác động tổng hợp giữa 3 yếu tố cơ bản: Mầm bệnh (vi khuẩn, nấm, kí
sinh trùng ), môi trường (pH, nhiệt độ, độ mặn ) và vật nuôi tôm/cá (Hình 4).
Bệnh xảy ra khi xuất hiện đồng thời 3 yếu tố: Mầm bệnh , môi trường xấu, vật
nuôi yếu.
Bệnh gây tác hại cho cá hương, cá giống và cá thịt. Bệnh thường xuất hiện sau khi
vận chuyển, đánh bắt. Hiện nay, nhiều tác giả phân lập bệnh này là do vi khuẩn
Flexibacter columnaris hay Flavobacterium columnare gây ra. Cá nhiễm bệnh
này có biểu hiện bơi lội lờ đờ và thể hiện bỏ ăn. Bệnh nặng, trên cơ thể cá xuất
hiện những vệt trắng và những vết thương, có nấm phát triển.
Bệnh thường xuất hiện trên các loài cá nuôi như: cá trơn và cá đồng. Bệnh
này rất nguy hại cho cá hương, cá giống từ 20-30 ngày. Mức hao hụt rất cao và quá
trình bệnh rất ngắn, thời gian bắt đầu bệnh đến chết chỉ trong vòng 2-3 ngày[8].
1.5.3. Bệnh gan thận có mủ
Bệnh gan thận có mủ còn có một số tên gọi khác là: bệnh trắng gan; gan
thận mủ. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
Vi khuẩn E. ictaluri xuất hiện đầu tiên trên cá nheo (Ictalurus furcatus), cá
trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái lan. Ở Việt Nam bệnh mủ gan chủ yếu xuất
hiện trên cá tra, thỉnh thoảng xuất hiện trên cá Basa ở ĐBSCL. Bệnh mủ gan xuất
hiện đầu tiên vào mùa lũ năm 1998 ở các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển
mạnh như: An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Sau đó, bệnh lan dần đến các vùng
có nuôi cá tra lân cận. Đặc biệt, những năm gần đây bệnh này cũng xuất hiện ở
một số tỉnh mới phát triển nuôi cá tra như Trà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng. Cá
nhiễm bệnh thì gầy, mắt hơi lồi. Cá bệnh nặng bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước và tỉ
lệ chết cao. Dấu hiệu bệnh bên ngoài không rõ ràng, bên trong xuất hiện nhiều
đốm trắng đục kích cở 1-3mm trên gan, thận và tỳ tạng.
15
Bệnh mủ gan ở cá tra thường xuất hiện nhiều vào mùa mưa lũ và cao điểm
vào tháng 7, 8, 9 và 10 hằng năm. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, bệnh này lại
xuất hiện trên cá tra hầu như quanh năm. Bệnh xuất hiện trên tất cả các giai đoạn
phát triển của cá tra. Tỉ lệ hao hụt từ 10–50%, tùy thuộc vào chế độ chăm sóc và
quản lý hệ thống ương nuôi [8].
1.5.4. Bệnh nấm thủy mi
Bệnh xuất hiện trên cá tra và một số cá khác nuôi bè, khi bị bệnh đốm đỏ
cá trên kính hiển vi [8].
Từ những thành công và những tồn tại của nghề nuôi cá cho thấy rằng ngoài
các yếu tố bệnh cá, chất lượng con giống, những rủi ro do bão, lụt quản lý tối ưu
môi trường là một trong những giải pháp có tầm quan trọng đặc biệt giúp cho nghề
nuôi đạt tới hiệu quả cao, chất lượng, phát triển lâu bền và ổn định.
1.6. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre
Bến Tre nằm ở hạ lưu châu thổ Sông Mekong, về phía tây Nam bộ, thuộc
vùng ĐBSCL. Địa hình tự nhiên tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho canh tác
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Giới hạn bởi 9
o
48’–10
o
20’ độ vĩ Bắc,
105
o
57’–106
o
48’ độ kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung
là sông Tiền, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, có ranh
giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển là
65km. Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (Cửa Đại,
Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận
Campuchia . Những con sông này bao bọc và chia Bến Tre thành ba dãi cù lao: Cù
lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh.
Khí hậu ở Bến Tre mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa
khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa (gió mùa Tây nam) từ cuối tháng 4
đến tháng đầu tháng 11 hàng năm, mùa khô (gió mùa Đông bắc) từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250-1.500 mm/năm. Hơn
90% lượng mưa tập trung trong mùa mưa. Lượng mưa lớn thường xảy ra vào mùa
gió Tây nam, nên tháng 5 cũng có mưa, nhưng tháng 9 đến tháng 10 là những
1.812km
2
đất nông nghiệp. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt khoảng
6.000km (sông Cổ Chiên 82km, sông Hàm Luông 71km, sông Ba Lai 59km, sông
Cửa Đại 83 km) chở phù sa chảy khắp ba dãy cù lao là một lợi thế của Bến Tre
trong phát triển giao thông thủy, hệ thống thủy lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế
vườn, trao đổi hàng hóa với các tỉnh lân cận. Vào mùa khô, gió chướng mạnh đưa
nước biển sâu vào nội đồng, dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn xảy ra vào khoảng 2
tháng cuối mùa khô, điều đó gây trở ngại cho hoạt động nông nghiệp và ảnh hưởng
đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt. Vào giữa đến cuối mùa mưa (từ tháng 9 đến
tháng 11) nước lũ từ thượng nguồn Sông Mekong tràn về, theo dòng nước lũ, tôm
cá trên sông Mekong di trú về làm cho nguồn lợi thủy sản khá dồi dào. Là tỉnh gần
biển nên lũ không làm ảnh hưởng nhiều đến các công trình giao thông thủy lợi, cây
trồng, nhưng nó lại ảnh hưởng đến dịch bệnh trên Cá Tra nuôi thâm canh như
bệnh mủ gan thường xuất hiện vào mùa lũ.
Về hành chính, tỉnh Bến Tre có một thành phố và tám huyện (thành phố Bến
Tre, các huyện : Ba Tri, Thạnh Phú, Châu Thành, Giồng Trôm, Chợ Lách, Mỏ Cày
(Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc). Dân số Bến Tre khoảng 1.369.358 người. Trong
đó ba huyện ven biển có ưu thế về khai thác thủy sản, nuôi tôm biển và nhuyễn
thể. Các huyện còn lại có ưu thế về sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản nước
ngọt như Cá tra, tôm Càng xanh…
Hoạt động kinh tế ở Bến Tre tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp
như trồng lúa (182.025 ha), trồng cây ăn trái (33.290 ha), khai thác thủy sản (4.317
phương tiện khai thác), nuôi trồng thủy sản (42.000 ha) Với điều kiện tự nhiên
thuận lợi, tiềm lực đất đai khá lớn, hệ thống kênh rạch chằng chịt, đất đai phì nhiêu