Đánh giá hiệu quả tài chính và kỹ thuật của các hình thức sản xuất và đề xuất giải pháp nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long (tt) - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

PHẠM CÔNG KỈNH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT
CỦA CÁC HÌNH THỨC SẢN XUẤT VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon)
THÂM CANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Cần Thơ, 2016


Công trình được hoàn thành tại: Khoa Thủy sản
Trường Đại học Cần Thơ

Người hướng dẫn chính: PGS.TS Trần Ngọc Hải
Người hướng dẫn phụ: PGS.TS Trương hoàng Minh

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại: …………………………………………………………
Vào lúc ……... giờ …….. ngày …….. tháng …….. năm 2016
Phản biện 1:…………………………………………………….
Phản biện 2:…………………………………………………….
Phản biện 3: …………………………………………………….

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ.

trang trại của doanh nghiệp (Cty). Mỗi hình thức có qui mô, phương thức hoạt
động và ý nghĩa riêng. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá sâu
các hoạt động, đặc biệt là liên kết trong sản xuất và quản lý của các mô hình, cũng
như so sánh hiệu quả sản xuất của các hình thức tổ chức sản xuất này. Từ thực tế đó
nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả tài chính và kỹ thuật của các hình thức sản xuất
và đề xuất giải pháp nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh ở ĐBSCL” đã
được thực hiện.
1.2 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá được các hoạt động liên kết
sản xuất và quản lý của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú, cũng như
so sánh, đánh giá được hiệu quả kỹ thuật và tài chính của các hình thức tổ chức sản
xuất này làm cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lý, phát triển nuôi tôm sú, góp
phần vào phát triển bền vững nghề nuôi tôm sú thâm canh ở ĐBSCL.
1.3 Mục tiêu cụ thể
i. Phân tích được hiện trạng nghề nuôi tôm sú thương phẩm thâm canh ở các
tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang;

1


ii. Phân tích và đánh giá được các hoạt động liên kết trong sản xuất cũng như
hiệu quả kỹ thuật, tài chính của các hình thức tổ chức nuôi tôm sú thâm canh
ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang;
iii. Xây dựng, theo dõi và đánh giá được hiệu quả các mô hình nuôi thực
nghiệm tôm sú theo các hình thức khác nhau (TT, HND, THT, Cty);
iv. Phân tích được điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và đề xuất
được một số giải pháp hợp lý để phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
cũng như nghề nuôi tôm sú thâm canh ở ĐBSCL.
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Các kết quả, kết luận và giải pháp đề xuất sẽ góp phần làm cơ sở cho vận

tại 3 tỉnh Bến Tre, Kiên Giang và Sóc Trăng.
3.2 Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
3.2.1 Phương pháp điều tra hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh
3.2.1.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra
Nghiên cứu khảo sát các tác nhân trong chuỗi ngành hàng tôm sú đã được
thực hiện năm 2011-2012 tại các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang thông
qua việc phỏng vấn trực tiếp 91 cơ sở nuôi. Các tỉnh được chọn để khảo sát có
diện tích nuôi tôm công nghiệp tương đối lớn và vùng địa lý đại diện được khu
vực các tỉnh ĐBSCL theo đặc tính vùng biển phía Tây và phía Đông.
Các thông tin thu thập của từng chủ thể là:
Các mô hình nuôi tôm sú thương phẩm: Các thông tin về khía cạnh kỹ
thuật và hiệu quả tài chính, các yếu tố đầu vào – đầu ra, phương thức tổ chức liên
kết sản xuất, kênh phân phối, những thuận lợi – khó khăn và định hướng phát triển
trong thời gian tới.
3.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin
Phỏng vấn những người am hiểu nhiều thông tin (KIP)
Mục đích là nhằm tìm hiểu các phương thức tổ chức của các tác nhân
tham gia ngành hàng tôm sú, cũng như những thuận lợi – khó khăn, tiềm năng và
định hướng nuôi tôm sú ở địa phương trong thời gian tới. Các đối tượng phỏng
vấn bao gồm các lãnh đạo và chuyên gia các cơ quan các sở Nông nghiệp và
PTNT, các phòng ban địa phương.
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ (RRA)
Các tác nhân trong chuỗi ngành hàng tôm sú sẽ được phỏng vấn trực tiếp
theo các biểu mẫu soạn sẵn. Các vấn đề chính được tìm hiểu như vấn đề chung
của hộ, kỹ thuật, tài chính, liên kết, thuận lợi, khó khăn, đề xuất.

3


3.2.2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu



Phương pháp thu và phân tích mẫu
Phương pháp thu và phân tích mẫu môi trường nước: Các chỉ tiêu môi
trường của ao TN và các lô tôm nuôi đối chứng được thu thập bao gồm: Nhiệt độ,
DO, pH, độ mặn, độ kiềm, độ trong và NH3. Các chỉ tiêu môi trường được thu từ
thời điểm thả giống đến khi thu hoạch.
Đánh giá tốc độ tăng trưởng: Định kỳ thu mẫu tôm nuôi ở các ao nuôi
thực nghiệm với tần suất 10 ngày/lần, mỗi lần thu 30 con, từ thời điểm thả giống
đến khi thu hoạch, để đánh giá chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) và
tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày) của tôm nuôi.
Theo dõi các chỉ tiêu kỹ thuật và tài chính: Những diễn biến của các yếu
tố kỹ thuật tác động đến tôm nuôi và các chỉ tiêu tài chính được ghi nhận từ thời
điểm cải tạo ao đến khi thu hoạch tại các ao nuôi.
3.2.4 Phương pháp phân tích ma trận SWOT và đề xuất giải pháp để phát
triển các hình thức sản xuất (HTSX) của nghề nuôi tôm sú
Các bước và phương pháp phân tích SWOT
Các số liệu sau khi thu thập ở từng HTSX là HND, THT, TT và Cty thông
qua quá trình khảo sát (phỏng vấn các cơ sở nuôi và các lãnh đạo, chuyên gia ở
các cơ quan của sở Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn) và thực nghiệm được đưa
vào phân tích những điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội
(Opportunities) và nguy cơ (Threats) bằng công cụ SWOT thông qua các bước
sau để đưa ra những giải pháp nhằm góp phần phát triển nghề nuôi tôm ở từng
HTSX trong thời gian tới.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và
Kiên Giang
4.1.1 Thông tin chung ở các tỉnh nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi bình quân của các chủ cơ sở/trại nuôi

nuôi. Tất cả tôm giống thả nuôi trong mô hình nuôi thâm canh đều được kiểm dịch
bằng phương pháp PCR. Hiện nay, mật độ thả nuôi ở tỉnh Sóc Trăng thấp hơn
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) so với tỉnh Kiên Giang, lần lượt là 29,5; 36 và 33,1
con/m2 (kích cỡ PL từ 12 - 14). Chọn mật độ thả nuôi thấp, người nuôi kỳ vọng
tôm nuôi lớn nhanh hơn, hạn chế rủi ro và thu được tôm nuôi có kích cỡ thương
phẩm lớn hơn.
Thức ăn sử dụng trong mô hình nuôi tôm sú công nghiệp hiện nay hoàn
toàn là thức ăn viên công nghiệp, có hàm lượng protein trong thức ăn từ 40% -

6


42% và số lần cho tôm ăn từ 4 - 5 lần/ngày. Số lần cho tôm ăn nhiều hay ít phụ
thuộc phần lớn vào kích cỡ tôm nuôi (tôm nhỏ cho ăn nhiều lần hơn tôm lớn) và
đặc tính từng vùng nuôi.
Thời gian nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh không có sự khác biệt đáng
kể (p0,05) giữa 3 tỉnh được nghiên cứu.
Ở thời điểm nghiên cứu giá thành sản xuất tôm nuôi là tương đối thấp, ở
tỉnh Kiên Giang là 64,8 nghìn đồng/kg, thấp hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p0,05) so với tỉnh Bến Tre lần lượt là 76 và 70,45 nghìn đồng/kg.
Tỷ suất lợi nhuận có sự khác biệt ở các tỉnh nghiên cứu, ở tỉnh Sóc Trăng có tỷ

đến hiệu quả sản xuất của mô hình, do đặc thù trong nuôi tôm là cần trình độ kỹ
thuật, kinh nghiệm nuôi, cũng như quản lý nuôi khá cao. Do vậy, trình độ học vấn
và chuyên môn là nguồn nhân lực quan trọng góp phần mang lại hiệu quả sản xuất
cho các TT và Cty trong thời gian vừa qua.
Hiện nay, nuôi tôm sú ở ĐBSCL ngày càng khó khăn do diễn biến môi
trường và dịch bệnh ngày càng phức tạp nên phần lớn số hộ nuôi là HND và THT
đã có hợp đồng thuê kỹ sư tư vấn, theo dõi hoạt động tôm nuôi, với mức ký kết từ
5-7% lợi nhuận thu được.
4.2.1.3 Thông tin kỹ thuật tiếp cận của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh
Việc kết hợp, học hỏi giữa kinh nghiệm của cá nhân với kinh nghiệm của
người khác chiếm tỷ lệ khá cao ở các hình thức nuôi, từ 33 – 45% đối với hình
thức nuôi HND và THT, và 10 – 16% ở hình thức nuôi TT và Cty. Ở hình thức
TT và Cty, nguồn thông tin kỹ thuật từ người nuôi khác thấp có lẽ do khá cách ly
so với khu vực nuôi khác, cũng có thể là do tự chủ được về kỹ thuật, không phải
hợp tác với các người nuôi khác. Điều này có thể thấy rõ ở hơn mục sau về sự liên
kết trong sản xuất.

8


4.2.2 Hiện trạng liên kết trong sản xuất
4.2.2.1 Các hình thức nuôi tôm sú thâm canh hiện nay
Hình thức nông hộ (NH) là hình thức nuôi phổ biến nhất hiện nay, phát
triển một cách tự phát, với quy mô nhỏ-lẻ, trung bình mỗi NH có 2 - 3 ao, tương
ứng với diện tích mặt nước nuôi tôm từ 1 - 1,5 ha/hộ và kinh nghiệm nuôi chủ yếu
đúc kết từ thực tế (chiếm 70%).
Hình thức tổ hợp tác (THT) được liên kết giữa các NH nhỏ-lẻ lại với nhau,
nhằm khắc phục những khó khăn do thiếu vốn và hỗ trợ kỹ thuật của các thành
viên trong THT, diện tích mặt nước ao nuôi của các NH liên kết từ 20 - 40 ha/THT
và số ao nuôi từ 50 - 70 ao/THT.

12,5%

21,4%

0%

75%

30%

0%

Cty

Cty
25%

TT

35,5%

75%

14,3%

THT

THT
100%


cũng là yêu cầu cần thiết cho sản xuất dễ dàng hơn
Thức ăn

Thức ăn

20,4

% 2%

2%
Giống

HND

Cơ sở
thu

Giống

mua

71,4%

TT

Thuốc

Thuốc

Thức

87,5%
Giống

40%

Cty

mua
64,3%

Nhà máy
chế biến

Cơ sở
75% thu mua
87,5

%

Nhà máy
chế biến

62,5%

Thuốc

Nhà máy
chế biến

Thuốc

trong dao động từ 41,8-45,8 cm và trong khoảng phù hợp cho sự sinh trưởng của
tôm nuôi.
Độ mặn nước ao nuôi giữa các mô hình biến động trong khoảng 13,818,2‰ và trong khoảng phù hợp cho sự sinh trưởng của tôm nuôi.
Nhiệt độ nước ở các mô hình biến động trong khoảng từ 28,6-29,1oC vào
buổi sáng và từ 29,8-30,7oC ở buổi chiều và nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp
cho tôm sú sinh trưởng và phát triển.
Giá trị pH trong các ao vào buổi sáng biến động từ 7,4 -8,0 thấp hơn so
với buổi chiều từ 7,8-8,3 và trong khoảng thích hợp.
Độ kiềm của nước trong các ao nuôi thí nghiệm biến động từ 60-86,4
mgCaCO3/L. Trong đó độ kiềm ở mô hình TN-TT thấp nhất (60 mgCaCO3/L) và
khác biệt có ý nghĩa so với các TN-HTSX khác (p
nghiệm có thời gian nuôi ngắn hơn và cỡ tôm thu hoạch lớn hơn, điều này thể hiện
rõ trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý ở hai hình thức này cao hơn so với TNHND và TN-THT.
Tỷ lệ sống của tôm nuôi phụ thuộc nhiều vào chất lượng con giống, chất
lượng nguồn nước, thức ăn, khả năng chăm sóc và quản lý ở từng hình thức nuôi.
Tỷ lệ sống của tôm nuôi biến động lớn giữa các TN-HTSX trong thực nghiệm từ
75,1-86,7%, nhưng cao hơn nhiều so với kết quả khảo sát (56,4-74,5%). Có được
kết quả này là do trong các mô hình thực nghiệm đã rút kinh nghiệm từ việc khảo
sát nên có sự chuẩn bị nguồn giống thả nuôi có chất lượng đảm bảo hơn và có kỹ
thuật chăm sóc tôm nuôi tốt hơn.
Hệ số FCR của các TN-HTSX dao động từ 1,23-1,59. Ở mô hình TN-TT
và TN-THT tôm nuôi có tỷ lệ sống cao, tương ứng với FCR thấp là 1,23-1,41. Hệ
số FCR cao nhất ở TN-Cty (1,59) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
và giống thủy sản. Tuy nhiên, vấn đề này là thiếu sự liên tục nên hiệu quả mang
lại là chưa cao.
Hình thức TN-THT: là hình thức nuôi được liên kết giữa các HND nhỏ
- lẻ lại, nhằm khắc phục những khó khăn do thiếu vốn trong sản xuất và hỗ trợ kỹ
thuật của các thành viên trong THT với nhau. Diện tích mặt nước ao nuôi của các
HND liên kết từ 20-40 ha/THT và số ao nuôi từ 50-70 ao/THT. Tuy nhiên, hình
thức THT cũng còn giới hạn bởi trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý của các tổ
viên và năng lực hoạt động cũng còn nhiều hạn chế nên các hoạt động của THT
chưa mang lại lợi ích thiết thực cao như mong đợi.
Hình thức TN-TT: phần lớn phát triển từ hình thức nông hộ nuôi lâu năm,
có điều kiện kinh tế để mở rộng quy mô nuôi và có khả năng phát triển thành Cty
trong thời gian tới. Đây là hình thức nuôi có quy mô khá phù hợp cho việc quản
lý và kiểm soát chặt chẽ để mang lại hiệu quả sản xuất cao nhất.
Hình thức TN-Cty: là hình thức nuôi có quy mô lớn nhất so với các hình
thức còn lại. Do đó, nếu việc quản lý ao nuôi thiếu chặt chẽ và không kịp thời dễ
dẫn đến rủi ro cho ao nuôi, khó quản lý được chặt chẽ và mang lại hiệu quả không
được cao.
4.3.7 Phương thức liên kết giữa của các hình thức sản xuất (HTSX) ở các mô
hình thực nghiệm.
Ở hình thức TN-HND có mức độ liên kết sản xuất thấp nhất so với các
TN-HTSX còn lại, điều này là do quy mô sản xuất nhỏ lẽ, gặp khó khăn trong việc
liên kết với các đối tác sản xuất, đây là yếu điểm dẫn đến chi phí đầu vào gia tăng
và giá bán tôm thấp hơn so với cá TN-HTSX còn lại. Trong điều kiện thực nghiệm
mối liên kết của các TN-HND liên kết chủ yếu với các đại lý cung cấp thức ăn,
vật tư, thuốc và hóa chất thủy sản dưới dạng bao tiêu chi phí đầu tư của các đại lý
cung cấp (hình thức bao công nợ theo tỷ lệ % đến khi thu hoạch tôm thì mới thanh
toán), tuy nhiên mối liên kết này không mang lại hiệu quả sản xuất cao hơn mà là

16


và có nhà máy chế biến sản xuất tạo nên một quy trình sản xuất khép kín, làm gia
tăng lợi thế cạnh tranh so với các TN-HTSX còn lại. Tuy nhiên ở hình thức sản
xuất này việc quản lý thiếu chặt chẽ hơn hình thức TN-TT và đặc biệt vào những
thời điểm khi dịch bệnh gia tăng và diễn biến phức tạp làm chi phí đầu vào tăng

17


và giá tôm bán biến động lớn, khi đó các Cty giảm số ao nuôi làm chi phí quản lý
tăng, gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình.
4.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và đề xuất
giải pháp phát triển các HTSX
4.4.1 Phân tích SWOT
Nghiên cứu này đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức của các HTSX khác nhau (HND, THT, TT, và Cty) và đề xuất các giải pháp
phát triển các HTSX trong thời gian tới.
4.4.2 Giải pháp phát triển các HTSX trong thời gian tới
Với thực trạng của hoạt động nuôi tôm sú thâm canh hiện nay cho thấy,
nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL trong thời gian qua đang đối mặt với các vấn đề phát
triển tự phát không theo quy hoạch, vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng
nghiêm trọng, tình hình dịch bệnh xảy ra thường xuyên và diễn biến phức tạp hơn.
Để phát triển bền vững cho nghề nuôi tôm sú, việc phân tích những điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội và thách thức dựa trên khung phân tích ma trận SWOT là cơ sở
để đưa ra những giải pháp phát triển cụ thể hơn cho từng loại hình sản xuất nuôi
tôm sú thâm canh ở ĐBSCL.
4.4.2.1 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là HND
i.

Tạo điều kiện cho nông hộ vay vốn ưu đãi, trường hợp hộ nuôi bị thua lỗ
(do dịch bệnh) cần thực hiện việc khoanh nợ hoặc giãn nợ cho HND sang

iv. Các thành viên trong các THT thường xuyên tổ chức tham quan, tập huấn,
hội họp nhằm học hỏi, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các THT,
tiếp cận với kỹ thuật nuôi mới, trao đổi và tích lũy thêm kinh nghiệm,
thông tin nhằm tăng tính bền vững, giảm bớt rủi ro trong sản xuất đồng
thời áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận (BAP, GAP,…) phù hợp với trình
độ và quy mô để tạo ra sản phẩm tôm nuôi đáp ứng yêu cầu của thị trường.
4.4.2.3 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là TT
i. Lựa chọn và áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận nuôi phù hợp với điều
kiện, quy mô và chi phí của TT (BMP, VietGAP, Global GAP, BAP) hoặc
thực hiện mô hình TT nuôi “sạch”.
ii. Tăng cường tổ chức liên kết và quản lý tốt hơn trong thời gian tới nhằm
đảm bảo lợi nhuận và giảm chi phí sản xuất. Tăng tính hiệu quả kinh tế
trong sản xuất.
iii. Ở hình thức này, cũng cần liên kết, tiếp cận với các nhà khoa học để
nghiên cứu các phương pháp nuôi mới, ứng dụng nhanh chóng thành tựu
các kết quả nghiên cứu mới vào sản xuất.
iv. Nhà nước nên có chính sách ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hỗ
trợ vốn sản xuất, cần có chính sách qui hoạch các vùng nuôi và ưu tiên

19


đầu tư cơ sở hạ tầng: Điện lưới sản xuất, giao thông, hệ thống kênh cấp
thoát nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản.
4.4.2.4 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là Cty
i. Áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận xuất khẩu phù hợp với điều kiện của
từng Cty, để tiến đến việc xuất khẩu tốt hơn sang các thị trường khó tính
như Mỹ, EU, Canada.
ii. Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn bồi dưỡng kỹ thuật nuôi tôm và
kỹ năng ứng xử cho công nhân, cũng như kỹ năng quản lý cho các tổ

TN-Cty và TN-TT có trình độ chuyên môn và hoạt động sản xuất cao hơn thông
qua các hoạt động kiểm soát chất lượng nước (biến động chỉ tiêu chất lượng nước),
tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng) được kiểm soát chặt chẽ, hơn nữa ở 2
hình thức nuôi này có trình độ chuyên môn của người quản lý cao, trang thiết bị
và hệ thống ao nuôi hoàn chỉnh. Ở hình thức TN-TT mang lại hiệu quả sản xuất
cao hơn so với TN-Cty là do ở hình thức nuôi này có quy mô nuôi nhỏ hơn, mức
độ kiểm soát chặt chẽ và hơn nữa số lượng công nhân làm việc được phân bổ công
việc và kiểm sóat chặt chẽ, ít bị ảnh hưởng bởi bất đồng về sự cạnh tranh không
lành mạnh, nảy sinh những mâu thuẩn như ở hình thức TN-Cty. Các hình thức
hoạt động ở quy mô lớn (TT và Cty) có nhiều ưu điểm hơn như việc nuôi theo
chứng nhận thương mại quốc tế, trong khi đó, hình thức TN-HND nhỏ lẻ còn
nhiều khó khăn và trở ngại. Trong khi hình thức TN-Cty và TN-TT được khuyến
khích phát triển mạnh mẽ hơn nữa, thì việc đầu tư, hỗ trợ xây dựng và phát triển
THT bằng cách liên kết các HND nhỏ lẻ là biện pháp rất cần thiết trong thời gian
tới. Kết quả thực nghiệm mô hình có hiệu quả kỹ thuật cao hơn so với khảo sát,
tuy nhiên hiệu quả tài chính thấp hơn là do biến động lớn về chi phí đầu vào và
giá bán tôm đầu ra. Điều này cho thấy giá cả thị trường có thể gây nguy cơ rủi ro
tài chính lớn cho sản xuất.

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
6.1 Kết luận
-

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh
Bến Tre, Kiên Giang và Sóc Trăng khá tương đồng về số năm kinh
nghiệm nuôi tôm (từ 7-9 năm). Người nuôi tôm ở Bến Tre và Kiên Giang
có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên cao hơn so với Sóc Trăng (lần
lượt là 66,6; 75,0 và 50,0%).

-

Trong quá trình thực nghiệm tôm nuôi có tốc độ tăng trưởng nhanh (0,170,23 g/con/ngày), năng suất tôm thu được (5,90-7,73 tấn/ha/vụ) cao hơn
kết quả khảo sát (4,68-6,52 tấn/ha/vụ), trong đó hình thức nuôi là: TN-TT
và TN-Cty tôm nuôi có tốc độ tăng trưởng nhanh và thời gian nuôi ngắn
hơn hình thức TN-HND và TN-THT.

-

Ở thời điểm thực nghiệm các chi phí đầu vào đều tăng cao (giá thành sản
xuất 91,6-129 nghìn đồng/kg, cao hơn thời điểm khảo sát là 63,2-76,1
nghìn đồng/kg), nhưng giá tôm thương phẩm giảm thấp (lần lượt là 101122 so với 114-122 nghìn đồng/kg) dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so
với thời điểm khảo sát.

-

TN-TT và TN-Cty có hiệu quả sản xuất cao hơn so với hình thức nuôi là:
TN-HND và TN-THT (lợi nhuận lần lượt là 214; 47,6; -102 và -67,8
tr.đ/ha/vụ). Điều này đã khẳng định là hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi
phụ thuộc lớn vào mức độ liên kết trong sản xuất và trình độ quản lý của
các HTSX.

-

Nghiên cứu cũng đã đánh giá được những ưu thế, yếu điểm của từng
HTSX riêng lẽ thông qua SWOT, trên cơ sở đó đã đề xuất được những

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status