TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÂM THÁI XUYÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN
NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) BỀN VỮNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÂM THÁI XUYÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN
NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) BỀN VỮNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. TRƯƠNG HOÀNG MINH
2011
i
LỜI CẢM TẠ
Trước hết xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Trà
Vinh, Ban Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Đại Dương, Khoa
Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên
cứu nâng cao trình độ trong thời gian qua.
Xin cảm ơn tất cả các thầy cô trong Khoa Thuỷ sản, Trường Đại học
Cần Thơ đã dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời
gian học tập. Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với giáo viên hướng dẫn -
Tiến sĩ Trương Hoàng Minh đã dìu dắt, động viên cũng như truyền đạt kiến
thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết
chuyên gia tư vấn cấp chứng nhận nuôi tôm sú đạt chuẩn và 5 doanh nghiệp vừa
nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu cũng đã được phỏng vấn.
Kết quả cho thấy, có năm hình thức chứng nhận cho nuôi tôm sú gồm:
tôm sinh thái, Viet GAP, BMP, BAP và Global GAP đang được chứng nhận cho
nuôi tôm sú ở ĐBSCL, trong đó nuôi tôm sinh thái đã được thực hiện lần đầu tiên
vào năm 2001 tại tỉnh Cà Mau. Chứng nhận BAP đã được thực hiện từ năm 2005
và hiện nay có 5 trại nuôi đạt chứng nhận đang có hiệu lực. Một trại nuôi đạt
chứng nhận Global GAP vào tháng 01/2010. Một số trại nuôi theo tiêu chuẩn
Viet GAP được áp dụng nhưng chưa được cấp chứng nhận. Nuôi tôm sú theo tiêu
chuẩn BMP vẫn chưa được thực hiện ở Việt Nam. Các trại nuôi tôm sú đạt chuẩn
tôm sinh thái, Global GAP, BAP, Viet GAP tuân thủ không sử dụng thuốc, hóa
chất cấm và kháng sinh; chính sách an toàn lao động, bảo vệ môi trường, an toàn
vệ sinh thực phẩm và đáp ứng tốt việc truy suất nguồn gốc sản phẩm, trong khi
các trại nuôi tôm thông thường chưa tuân thủ các tiêu chí này. Hiệu quả sản xuất
của các trại nuôi tôm đạt chứng nhận cao hơn so với các trại nuôi chưa đạt chuẩn.
Giá tôm bán ra từ các trại nuôi đạt chứng nhận cao hơn 7%, giá thành sản xuất
70.825 đồng/kg thấp hơn 7.167 đồng/kg và tỷ suất lợi nhuận cao hơn 87,1% so
với các trại nuôi chưa đạt chứng nhận. Nhận thức của “4 nhà” đồng tình với việc
áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận trong nuôi tôm sú. Giải pháp chính phát triển
nghề nuôi tôm trong thời gian tới ở ĐBSCL là hình thành các đơn vị hợp tác như
tổ hợp tác và hợp tác xã để thực hiện nuôi tôm đạt tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế.
Từ khóa: BAP, BMP, chứng nhận, ĐBSCL, GAP, Global GAP, Penaeus
monodon, tôm sinh thái, tôm sú.
iii
ABSTRACT
An assessment on certified and non-certified standards for black tiger shrimp
(Penaeus monodon) farming in the Mekong Delta was carried out from May to
December 2010 in Ca Mau, Bac Lieu, Kien Giang, Soc Trang and Ben Tre
provinces. Total of 72 certified shrimp farms and 76 non-certified shrimp
farms were interviewed in this study. In addition, 8 aquaculture provincial
Lâm Thái Xuyên
v
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
CAM KẾT KẾT QUẢ iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu tổng quát 2
1.3 Nội dung của đề tài 3
Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan tình hình nuôi thủy sản trên thế giới 4
2.2 Tổng quan tình hình nuôi thủy sản Việt Nam và ĐBSCL 10
2.3 Các xu hướng nuôi thủy sản hiện nay 20
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thời gian và địa điểm nghiêu cứu 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Tổng quan tình hình nuôi tôm sú được chứng nhận ở các tỉnh ĐBSCL 37
4.1.1 Chứng nhận tôm sinh thái 38
4.1.2 Chứng nhận BAP 40
4.1.3. Chứng nhận Viet GAP 43
4.1.4 Chứng nhận Global GAP 44
4.1.5 Trang trại tôm sú sạch Sáu Ngoãn Bạc Liêu – Việt Nam 45
4.1.6 Chứng nhận BMP 45
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sản lượng NTTS phân theo khu vực năm 2000-2008 12
Bảng 2.2: Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2008 và 2009 12
Bảng 2.3: Diện tích nuôi tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2007-2010 15
Bảng 2.4: Sản lượng tôm sú các tỉnh ĐBSCL từ 2001-2008 16
Bảng 2.5 Tình hình chứng nhận BAP trên thế giới 28
Bảng 4.6: Các trại nuôi tôm ở ĐBSCL được cấp chứng nhận nuôi tôm sú 37
Bảng 4.7: Tình hình chứng nhận tôm sinh thái ở ĐBSCL 38
Bảng 4.8: Các công ty đạt chứng nhận BAP ở ĐBSCL 41
Bảng 4.9: Trại tôm ở ĐBSCL được cấp chứng nhận BAP từ 2005 - nay 42
Bảng 4.10: Kết quả áp dụng Viet GAP ở các tỉnh nuôi tôm sú ĐBSCL 44
Bảng 4.11: Các bước thực hiện chứng nhận tôm sinh thái 48
Bảng 4.12: Quy trình cấp chứng nhận BAP 53
Bảng 4.13: Quy trình cấp giấy chứng nhận Global GAP 55
Bảng 4.14: Chi phí đăng ký làm Global GAP 57
Bảng 4.15: Thông tin chung về mô hình nuôi tôm rừng và tôm sinh thái 61
Bảng 4.16: Diện tích nuôi thủy sản của mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 62
Bảng 4.17: Thông tin về cải tạo ao ở mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 63
Bảng 4.18: Thông tin về con giống ở mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 64
Bảng 4.19: Hoạt động ương tôm giống ở mô hình nuôi tôm rừng TT và ST 65
Bảng 4.20: Chế độ thay nước ở mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 66
Bảng 4.21: Sử dụng hóa chất, thuốc phòng trị bệnh 67
Bảng 4.22: Thu hoạch, năng suất và tiêu thụ của mô hình nuôi TT và ST 69
Bảng 4.23: Cơ cấu chi phí mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 70
Bảng 4.24: Thu nhập từ mô hình tôm rừng và tôm sinh thái 72
Bảng 4.25: Một số ý kiến của người dân 75
Bảng 4.26: Thông tin tổng quát các trại nuôi tôm khảo sát 76
Bảng 4.27: Thông tin thiết kế công trình và mùa vụ thả nuôi 78
Bảng 4.28: Nguồn tôm giống và mật độ nuôi 81
Bảng 4.29: Thức ăn và chế độ thay nước 82
Hình 4.20 Cơ cấu chi phí biến đổi trại nuôi tôm theo TC và TT 91
ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASC: Aquaculture Stewardship Council
BAP: Best Aquacultural Practices
BIM: Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Sản xuất Hạ Long
BMP: Better management practices
Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn
Camimex: Công ty cổ phần chế biến thủy sản và xuất nhập khẩu Cà Mau
CASEP: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Cà Mau
CSHTT: Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
dl: dương lịch
ĐVT: Đơn vị tính
EurepGAP: Tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của Hiệp hội các nhà bán
lẻ Châu Âu
FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
GAA: Global Aquaculture Alliance
GAP: Good Aquaculture Practices
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GGN: Global GAP Number
Global GAP: Global Good Aquaculture Practices
ICS: Hệ thống kiểm soát nội bộ
IMO: Viện Thị trường sinh thái
ISO: International Organization for Standardization
Kim Lộc: Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Kim Lộc
LNT 184: Lâm Ngư Trường 184
Minh Phú: Tập đoàn Thủy sản Minh Phú
MPEDA: The Marine Products Export Development Authority.
NACA: The Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific.
hàng đầu thế giới (FAO, 2005), sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã có mặt
trên 155 quốc gia và vùng lãnh thổ (ABS, 2010). Kim ngạch xuất khẩu thủy
sản Việt Nam đạt 4,5 tỷ USD vào năm 2008 (Tổng cục Hải Quan, 2010a) và
4,3 tỷ USD 2009 (Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề
muối, 2010). Một trong những ngành hàng đóng góp cho thành công của thủy
sản Việt Nam phải kể đến đầu tiên là tôm sú. Tôm sú (Penaeus monodon) đã
trở thành đối tượng nuôi quan trọng của nhiều tỉnh thông qua hoạt động sản
xuất giống, nuôi thương phẩm, cung cấp dịch vụ thuốc thú y thủy sản, thu
mua, chế biến xuất khẩu, mang lại thu nhập và nâng cao đời sống người dân.
Nuôi tôm sú đã có bước đột phá khá thành công và đi vào lịch sử ngành thủy
sản Việt Nam. Sau 7 năm (2000 – 2007) chuyển đổi loại hình sử dụng đất
nông nghiệp theo Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ, nuôi tôm sú
đã vươn lên giữ vị trí quan trọng số 1 trong ngành thủy sản Việt Nam cả về
quy mô sản xuất, kinh doanh và sử dụng khai thác hiệu quả tài nguyên đất,
nước, lao động cũng như huy động các nguồn lực vào đầu tư phát triển nuôi,
chế biến và dịch vụ nuôi tôm đem lại hiệu quả khá cao (Trần Văn Nhường và
Bùi Thị Thu Hà, 2005; Nguyễn Duy Chinh, 2008).
Bên cạnh những thành công, người nuôi tôm đối mặt với những vấn đề
như môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng, nguồn tôm bố mẹ ngày càng
giảm chất lượng, ao nuôi bị thoái hóa, dịch bệnh…(Goldburg và Triplett,
1997). Người nuôi không ngừng sử dụng hóa chất để cải thiện các ảnh hưởng
trên, điều đó làm cho sản phẩm thu dễ bị nhiễm tạp chất, kháng sinh và môi
trường nuôi ngày càng suy thoái. Theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông
thôn (2009), việc nhiễm kháng sinh và bơm chích tạp chất vào tôm đã làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến uy tín mặt hàng tôm xuất khẩu Việt Nam, người nuôi
bị thiệt hại lớn, các nhà máy điêu đứng vì thiếu nguyên liệu và làm mất lòng
tin các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng.
Để khắc phục những tác động trên và hướng đến sự phát triển bền
vững, nhiều mô hình nuôi thủy sản mới đã được nghiên cứu và phát triển. Các
phương thức nuôi mới như nuôi thủy sản sạch, nuôi sinh thái, nuôi theo tiêu
iii. So sánh hiệu quả kỹ thuật và tài chính giữa mô hình nuôi tôm sú
được chứng nhận và chưa được chứng nhận;
iv. Phân tích được nhận thức của “4 nhà” đối với việc chứng nhận tôm
sú nuôi ở ĐBSCL;
v. Đề xuất một số giải pháp khả thi cho định hướng nuôi tôm sú được
chứng nhận ở ĐBSCL.
3
1.3 Nội dung của đề tài
i. Tổng kết tình hình nuôi tôm sú được chứng nhận ở các tỉnh ĐBSCL
ii. Phân tích quy trình cấp chứng nhận tôm sú nuôi ở ĐBSCL
iii. Phân tích và so sánh hiệu quả kỹ thuật và tài chính giữa mô hình nuôi
tôm sú được chứng nhận và chưa chứng nhận theo hướng bền vững ở
ĐBSCL.
iv. Phân tích nhận thức và vai trò của “4 nhà” đối với các mô hình chứng
nhận tôm sú nuôi ở các tỉnh ĐBSCL.
4
Phần 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan tình hình nuôi thủy sản trên thế giới
Báo cáo về tình hình nghề cá và NTTS thế giới năm 2009 của FAO
khẳng định: nuôi trồng thủy sản sản xuất 47% thủy sản phục vụ con người,
cung cấp cho trên 2,9 tỷ người với mức trung bình tối thiểu trên đầu người
15% nhu cầu protein động vật (NACA, 2010). Tại châu Á và các nước
ASEAN, NTTS là một ngành sản xuất quan trọng, có tới hàng triệu người dân
tham gia. Thủy sản trở thành nguồn cung cấp nguồn Protein động vật chính
cho người dân (NACA, 2010). Tuy nhiên, NTTS cũng trở thành một ngành
đối mặt với nhiều thách thức lớn như gây ô nhiễm môi trường, phá hủy hệ sinh
thái tự nhiên và khó khăn lớn nhất là dịch bệnh.
Xét về phát triển NTTS, báo cáo FAO (2005 và 2009) cho thấy, sản
lượng NTTS của thế giới có xu hướng tăng dần theo thời gian, từ mức 30,6
phát triển, đặc biệt là ở châu Á và Mỹ La Tin (Parr và Grey, 2006). Ở châu Á,
tôm là đối tượng được nuôi từ nhiều thế kỷ trước với mật độ thấp, nuôi kết
hợp với cá hoặc nuôi luân canh trong ruộng lúa. Năng suất tôm nuôi rất thấp
và chủ yếu tiêu thụ trong nước. Đến giữa thập niên 1970, khi sản xuất tôm
giống nhân tạo thành công và chủ động cung cấp một lượng giống lớn thì nghề
nuôi tôm bắt đầu phát triển vượt bật và tăng trưởng nhanh chóng về sản lượng
(Pascal và Denis, 2002). Thêm vào đó, công nghệ nuôi không ngừng được
nghiên cứu, cải tiến và chuyển giao tạo tiền đề phát triển bùng nổ của ngành
công nghiệp nuôi tôm trong thập niên 1980 (Ronnback, 2002). Từ năm 1975,
ngành công nghiệp nuôi tôm chiếm 2,5% tổng sản lượng tôm thế giới và tăng
nhanh lên 30% vào những năm 1990. Ngành thương mại tôm chiếm 3-4% sản
lượng thủy sản toàn cầu nhưng chiếm 15% về giá trị (FAO, 1999). Khu vực
châu Á và Mỹ Latin chỉ sản xuất được 50.000 tấn vào giữa những năm 1970
tăng lên hơn 600.000 tấn vào năm 1988, với tốc độ tăng trưởng từ 20-
30%/năm. Trong suốt hơn một thập kỷ từ năm 1985-1995, tốc độ xây dựng
trại nuôi tôm trên thế giới đạt trên 400% (Pascal và Denis, 2002). Hiện nay,
tôm là sản phẩm trọng tâm của thương mại thủy sản toàn cầu, chiếm khoảng
1/5 về giá trị. Trước đây, phần lớn sản lượng tôm từ khai thác nhưng tôm nuôi
đã tăng trưởng nhanh chóng với tốc độ 10%/năm trong thập kỷ qua và hiện tại
chiếm 1/3 sản lượng (Parr và Grey, 2006).
Nhìn ở góc độ lịch sử phát triển thì ba loài tôm sú, tôm thẻ Trung quốc
(Penaeus chinensis) và tôm chân trắng (Penaeus vannamei) được nuôi nhiều
nhất và có giá trị kinh tế nhất. Ba loài tôm này chiếm trên 86% sản lượng tôm
nuôi của thế giới. Tôm sú có sản lượng xếp thứ 20 trong số các loài thuỷ sản
nuôi nhưng về giá trị thì đứng đầu với 4.046 tỷ USD trong năm 2000. Các loài
giáp xác nuôi khác bao gồm cả nuôi nước ngọt đạt 386.185 tấn hoặc chiếm
23,4% sản lượng nuôi giáp xác; các loài cua 140.256 tấn, chiếm 8,5%. Tôm
càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) cũng được phát triển nuôi, sản lượng
năm 2000 đạt 118.501 tấn (Phạm Minh Đức, 2008).
Tốc độ tăng trưởng sản lượng tôm toàn cầu đạt trung bình 25%/năm,
(Kongkeo, 2007).
Hình 2.1: Sản lượng tôm sú thế giới (Nguồn: Kongkeo, 2005)
Sản
lượng
Năm
7
Bên cạnh tôm sú, nuôi tôm thẻ chân trắng cũng có bước phát triển rất
mạnh. Trước năm 2000, sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng toàn cầu chủ yếu
do khu vực Châu Mỹ đóng góp. Sau năm 2000 sản lượng cung cấp nhiều từ
châu Á, cùng với sự hồi phục mạnh mẻ nghề nuôi của châu Mỹ. Năm 2001,
Trung Quốc chuyển cơ cấu tôm nuôi theo hướng tăng nhanh sản lượng tôm thẻ
chân trắng và đứng đầu thế giới với hơn 30.000 tấn. Năm 2003, Trung Quốc
sản xuất khoảng 300.000 tấn. Thái Lan đạt 120.000 tấn, Indonesia khoảng
30.000 tấn. Đến năm 2004, sản lượng tôm thẻ chân trắng của Trung Quốc, Đài
Loan và Thái Lan đã vượt qua tôm sú, đạt 1.116.000 tấn. Năm 2006, sản
lượng tôm thẻ chân trắng tại Châu Á nhảy vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn. Năm 2007,
tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới ước đạt 3,3 triệu tấn trong đó sản lượng
tôm thẻ chân trắng chiếm 69%. Tại châu Á, tổng sản lượng tôm năm 2007 ước
tính khoảng 2,65 triệu tấn, tôm thẻ chân trắng đã chiếm tới 57%, còn ở Trung
Quốc tôm thẻ chân trắng chiếm gần 80% trong tổng sản lượng 1 triệu tấn của
nước này. Năm 2009 sản lựợng tôm thẻ chân trắng tại châu Á đạt 2,307 triệu
tấn triệu tấn, chiếm 80% sản lượng tôm nuôi toàn thế giới. Nhiều nước châu Á
khác như Ấn Độ, Philippine, Malaysia, Myanmar, Việt Nam cũng đã nhập
tôm thẻ chân trắng để nuôi nhằm đa dạng hoá các sản phẩm tôm xuất khẩu,
tránh tình trạng chỉ trông cậy vào tôm sú nhưng vấn đề dịch bệnh lại là một trở
ngạy lớn (Briggs, 2006; Kongkeo, 2007; AQUA Culture AsiaPacific, 2010).
Nhìn chung, sản lượng tôm thẻ chân trắng chủ yếu là do sự đóng góp từ các
nước châu Á. Ví dụ: năm 2005, Trung Quốc đạt 808.433 tấn (chiếm 50% sản
lượng thế giới), Thái Lan đạt 299.000 tấn (chiếm 19%), Indonesia đạt 103.874
tấn (7%), Việt Nam đạt 100.000 tấn (6%)…(Kongkeo, 2007).
2 00 2
2 00 3
2 00 4
2 00 5
2 00 6
K hối lư ợ ng tôm sú K hối lư ợ ng tôm thẻ
E xpon. (K hối lư ợ ng tôm thẻ ) L ine ar (K hối lư ợ ng tôm sú)
Hình 2.2: Diễn biến sản lượng tôm sú và tôm thẻ thế giới 1991-2006
(Nguồn: Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản, 2009)
Bên cạnh những thành công đã đạt được, ngành NTTS thế giới, đặc biệt
là nuôi tôm phải đối mặt với vấn đề môi trường và dịch bệnh, khi nghề nuôi
thủy sản phát triển theo hướng thâm canh và bán thâm canh trên quy mô lớn
mà sự đầu tư và quản lý không đồng bộ. Hệ quả của sự phát triển này dẫn đến
suy giảm năng suất, ô nhiễm môi trường và đang có khả năng suy thoái vùng
nuôi (Nguyễn Hữu Thọ, 2010).
Bệnh virus trên tôm là vấn đề nan giải, gây khó khăn cho hàng ngàn
hàng triệu nuôi tôm. Kongkeo (2007) cho rằng bệnh virus trên tôm là nguyên
nhân gây thiệt hại chính cho nghề nuôi tôm Châu Á. Dịch bệnh đầu vàng và
đốm trắng gây thiệt hại lớn ở Thái Lan năm 1991 và 1993. Theo NACA và
MPEDA (2003) bệnh tôm đã tàn phá nghề NTTS trên thế giới. Bệnh nguy
hiểm nhất đối với tôm sú là đốm trăng (WSSV). Theo Bùi Quang Tề (2003)
bệnh đốm trắng được phát hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 1989. Năm
1989, Thái Lan cũng có báo cáo về bệnh thân đỏ đốm trắng ở tôm sú. Năm
1992-1993, Thái Lan bùng phát bệnh đầu vàng và đốm trắng gây thiệt hại hơn
40 triệu USD. Năm 1994, nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia,
Nhật Bản, Ấn Độ đã công bố tìm ra nguyên nhân gây bùng phát bệnh đốm
trắng. Từ đó đến nay, nhiều nỗ lực nghiên cứu phương pháp trị bệnh này đều
chưa có kết quả khả quan. Bùi Quang Tề (2003), Lê Văn Khoa (2007) và
nhiều tác giả khác cho rằng ngoài bệnh đốm trắng còn có bệnh nguy hiểm
khác như đầu vàng, MBV, bệnh do vi khuẩn Vibrio, do nấm, do ký sinh
ammonia, nitrite, nitrate trong nước ao nuôi bán thâm canh và thâm canh
khoảng 3 - 3,5 kg N và P khoảng 2 - 3 kg trong 1 ha ao nuôi. Như vậy, thức ăn
thừa đã lắng đọng dưới đáy ao cùng với chất thải rắn tạo vùng yếm khí gây ra
các biến đổi về chất lượng đất. Một ví dụ chứng minh tác hại trên, theo Lê
Anh Tuấn (2007) hoạt động NTTS ĐBSCL đã thải ra môi trường nước gần 3
triệu tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần như chưa được xử lý ra hệ thống
sông rạch làm chất lượng nước nhiều vùng suy giảm nặng nề. Ngoài ra, người
nuôi tôm còn phải đối mặt với những vấn đề khác như nguồn tôm bố mẹ ngày
càng giảm chất lượng, đất bị thoái hóa. Người nuôi không ngừng sử dụng hóa
chất để cải thiện các ảnh hưởng trên, điều đó làm cho sản phẩm thu được
thường xuyên nhiễm tạp chất và môi trường nuôi ngày càng suy thoái. Các rào
cản thương mại và kỹ thuật của các nhà nhập khẩu cũng là một trở ngạy.
Vấn đề cấp giấy chứng nhận cho NTTS, cho tôm nuôi nổi lên như xu
hướng phát triển tất yếu trên phạm vi toàn cầu. Việc cấp giấy chứng nhận
10
NTTS mới được thực hiện do những năm gần đây hoạt động NTTS vấp phải
nhiều vấn đề mang tính toàn cầu. Những vấn đề này chủ yếu liên quan đến an
toàn thực phẩm, an ninh sinh học, sự bền vững về môi trường và trách nhiệm
với xã hội trong mối quan hệ với hoạt động NTTS (INFOFISH, 2005). Ý tưởng
chứng nhận NTTS bắt nguồn từ năm 1976 tại “Hội nghị về kỹ thuật nuôi trồng
thủy sản” tại Tokyo do FAO và Nhật Bản tổ chức và bắt đầu xây dựng hoàn
thiện từ “Hội nghị nuôi trồng thủy sản trong thiên niên kỷ thứ 3” tại Thái Lan
năm 2000. Bộ tiêu chuẩn thủy sản có trách nhiệm (Code of conduct) của FAO
giúp các quốc gia xây dựng thực hành NTTS tốt (GAP) (Lê Thanh Lựu, 2006).
Trên cơ sở đó, nhiều quốc gia và tổ chức phi chính phủ tiến hành xây dựng các
bộ tiêu chuẩn chứng nhận cho NTTS. Hiện nay, có nhiều tiêu chuẩn cấp giấy
chứng nhận cho nuôi trồng thủy đã được thực hiện hay sắp ra đời. Có thể kể
đến các tiêu chuẩn quốc gia như Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của
Thái Lan (CoC), quy trình “Thực hành NTTS tốt (GAP) và chương trình
"Ðóng dấu chất lượng" của Bangladesh (INFOFISH, 2005). Các giấy chứng
nhọn trong phát triển sản xuất nông nghiệp, giá trị xuất khẩu và sản lượng liên
tục tăng trong nhiều năm qua. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đạt mức 4,2 tỉ
USD (Tổng Cục Hải Quan, 2010a), tăng gấp 6 lần so với năm 1986. Theo dự
kiến, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 4,5 tỉ USD (Gia
Tuệ, 2010; Y Nhung, 2010). Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong lĩnh vực
quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nếu như năm 1996 ngành thủy sản chỉ
đóng góp 0,2% GDP thì đến năm 2005 đã tăng lên 5,78% GDP (Nguyen Van
Trong, 2006). Năm 2009, sản xuất và xuất khẩu thủy sản chiếm 7,65% giá trị
GDP (ARTEX, 2010).
Các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt trên thị trường ở 155 nước
và vùng lãnh thổ (ABS, 2010). Trong đó, bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật,
EU và Trung Quốc chiếm 3/4 tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản (Hồ
Trung Thành, 2005). Năm 2009, xuất khẩu vào ba thị trường Mỹ, Nhật và EU
chiếm hơn 60,6% kim ngạch (ABS, 2010). Thị trường nội địa với hơn 85,7
triệu dân (năm 2009) cũng được các doanh nghiệp khai thác nhiều hơn trước.
Sức mua trên thị trường nội địa lớn và tiếp tục tăng (Hồ Trung Thành, 2005;
Tổng Cục Thống Kê, 2009). Uy tín và vị thế sản phẩm thủy sản trên thị trường
quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng thêm. Việt Nam nhanh chóng được đưa
vào nhóm 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới với sự nổ lực phát
triển trong 20 năm (Bộ Thủy Sản và Ngân hàng Thế giới, 2006).
Nuôi trồng thuỷ sản được khẳng định là lĩnh vực sản xuất quan trọng,
tạo sản phẩm hàng hoá tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (Cục Nuôi trồng
thuỷ sản, 2009). Trong hơn 10 năm qua, NTTS có tốc độ phát triển nhanh, góp
phần quan trọng trong việc nâng cao sản lượng, giá trị xuất khẩu và tạo nhiều
công ăn việc làm cho người dân, đặc biệt là vùng nông thôn ven biển (Nguyễn
Thanh Hải, 2010). Từ năm 2000 đến nay diện tích NTTS của Việt Nam không
ngừng gia tăng. Năm 2000, diện tích nuôi là 608.919 ha đến năm 2005 tăng
lên 959.900 ha (tăng 157,64% so với năm 2000). Sản lượng NTTS tăng nhanh,
đạt 1.437.400 tấn vào năm 2005 chiếm 41,9% tổng sản lượng thủy sản và
tăng 243,79% so với năm 2000 (Lê Xuân Sinh và ctv., 2008b). Theo Tổng
37,0
42,5
48,8
50,2
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
48,1
93,6
114,4
121,6
141,2
155,3
Tây Nguyên
7,3
10,4
113,4
11,5
13,0
15,0
Đông Nam Bộ
36,4
77,0
78,1
85,1
89,4
84,3
Đồng bằng sông Cửu Long
365,1
773,3
1002,8
1166,8
USD)
Số lượng
(nghìn
tấn)
Trị giá
(triệu
USD)
Cá Tra và Basa
644
1.460
614
1.357
362
777
Tôm
192
1.630
211
1.692
111
932
Loại khác
403
1.419
408
1.203
247
770
Tổng cộng
1.239
năm nhưng các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chủ lực vẫn còn khá đơn điệu,
chủ yếu là cá, tôm, nhuyễn thể, các loại thuỷ sản đông lạnh và thuỷ sản khô.
Vài năm gần đây cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của nước ta đã được bổ
sung thêm các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một số thủy đặc sản
khác nhưng nhìn chung vẫn còn chưa nhiều (Nghi Phương, 2010). Sau đây là
một số mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam (Hình 2.4).
Tháng