1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------oOo-------
NGUYỄN THỊ ĐÔNG
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HARRY T. OSHIMA ĐỂ
ĐẨY MẠNH TĂNG TRƯỞNG NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS - TS. ĐINH PHI HỔ
TP.Hồ Chí Minh, Tháng 1 – Năm 2008
1.4.4. Bài học kinh nghiệm cho vùng ĐBSCL ....................................................32
KẾT LUẬN CHƯƠNG I ...............................................................................................33 3
CHƯƠNG II...................................................................................................................34
THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG.............................................................................................................................34
2.1 Sự phù hợp của mô hình Harry T. Oshima với bản chất vùng ĐBSCL...........34
2.1.1. Nông nghiệp lúa gió mùa mang tính thời vụ .............................................34
2.1.2. Lượng mưa cao và mưa theo mùa .............................................................36
2.1.3. Sự nghèo nàn của nền nông nghiệp lúa gió mùa .......................................37
2.1.4. Ảnh hưởng của nền nông nghiệp lúa nước đến văn hoá lao động và sự ổn
định xã hội ..............................................................................................................38
2.2 Phân tích kinh tế lượng về sự tăng trưởng nông nghiệp vùng ĐBSCL............39
2.2.1. Thiết lập mô hình kinh tế lượng ................................................................39
2.2.2. Kết quả phân tích mô hình hồi quy............................................................40
2.2.3. Ý nghĩa các tham số:..................................................................................41
2.3 Phân tích kết quả nghiên cứu mô hình kinh tế lượng về sự tăng trưởng nông
nghiệp giai đoạn 1986- 2006............................................................................41
2.3.1. Lao động trong tăng trưởng nông nghiệp ..................................................41
2.3.2. Thời gian lao động trong tăng trưởng nông nghiệp...................................48
2.3.3. Cơ giới hoá trong tăng trưởng nông nghiệp ..............................................50
2.4 Phân tích các nhân tố khác ngoài mô hình tác động đến tăng trưởng nông
nghiệp vùng ĐBSCL........................................................................................52
2.4.1. Yếu tố vốn đầu tư.......................................................................................52
2.4.2. Tác động của việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất ..............53
2.4.3. Cơ chế chính sách trong nông nghiệp........................................................53
2.4.4. Tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ............................54
5 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của một số nước (%) ………………...41
Bảng 2.2. Cơ cấu ngành kinh tế của vùng ĐBSCL …………………………………...42 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.1: Xu hướng tăng NSLĐNN trên thế giới …………………………………...37
Đồ thị 2.2: Xu hướng tăng NSLĐNN vùng ĐBSCL giai đoạn 1986 – 2006 …………38
Hình 1.1: Cân bằng cạnh tranh trên 2 thị trường lao động liên kết bằng di dân ……….9
Hình 1.2: Đường hàm sản xuất khu vực nông nghiệp: TP
A
= f(L
A
; K, T) ……………12
Hình 1.3: Đường cung lao động khu vực công nghiệp ……………………………….13
Hình 2.1: Lượng mưa trung bình hàng năm ở các vùng thuộc Châu Á ………………30
7 LỜI MỞ ĐẦU
1.
Sự cần thiết của đề tài
Đối với nhiều nước đang phát triển, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn đầu, tốc độ tăng trưởng của nông
nghiệp ảnh hưởng quyết định đến tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Theo tính
toán của các nhà Kinh tế học Mỹ, nếu ngành Nông nghiệp tăng trưởng 1% sẽ thúc đẩy
các ngành dịch vụ tăng 3%, do thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào ổn định và thị
trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, dịch vụ được mở rộng.
Việt Nam sau năm 1975, đất nước thống nhất, chúng ta muốn tiến nhanh lên chủ
nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan, chúng ta đã xác định sai lầm bước đi, không tập trung phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ mà thiên về xây dựng công nghiệp nặng, làm cho kinh tế của đất
nước lâm vào tình trạng khó khăn: khoảng 1,8 triệu ha đất canh tác bị bỏ hoang; 70%
đầu kéo bị xếp xó; quy mô hợp tác xã quá lớn, vượt khả năng quản lý của ban chủ
nhiệm; phân phối trong hợp tác xã theo chủ nghĩa bình quân khiến xã viên không hăng
hái sản xuất; chỉ tiêu lương thực đề ra trong năm 1980 là 21 triệu tấn thì thực tế chỉ đạt
14.406.400 tấn; năm 1976 lạm phát 128% thì năm 1981 là 313% [28, tr.65]...Trước
tình hình đó, Đảng và nhân dân ta thấy không còn sự lựa chọn nào khác là phải đổi
mới, đổi mới toàn diện để phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu xuyên suốt của quá trình
đổi mới là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập - tự
chủ, thích ứng với hội nhập kinh tế thế giới. Một trong những mục tiêu chủ yếu của sự
, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu;
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và nông thôn còn chậm, nhiều nơi còn mang
tính tự phát, chưa bền vững; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
chưa được triển khai một cách bài bản; Cơ sở vật chất kỹ thuật của nông nghiệp
(đường giao thông, điện, thủy lợi tưới tiêu…) còn thấp kém đã làm hạn chế việc tiếp
cận thị trường, cũng như hỗ trợ gia tăng năng suất ruộng đất, năng suất lao động. Hệ
1
Năng suất lúa của Việt Nam đạt khoảng 45- 46 tạ/ha, trong khi Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đạt 62 tạ/ha.
Năng suất ngô của Việt Nam đạt 31- 32 tạ/ha, trong khi của Mỹ, Australia, Pháp đạt 80 tạ/ha 9
quả là, thu nhập và đời sống của nông dân còn thấp, trên 90% người nghèo sống ở
nông thôn, một bộ phận khá lớn đồng bào dân tộc vẫn sống trong đói nghèo. Làm thế
nào để nông dân ĐBSCL bắt kịp với nhịp sống của cộng đồng thế giới? Làm thế nào để
nông nghiệp vùng ĐBSCL là tiền đề vững chắc hơn trên con đường tăng trưởng kinh
tế? Đó đang là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo cũng như các nhà nghiên cứu chính
sách phát triển kinh tế của Việt Nam.
Nông nghiệp luôn làm các nhà khoa học kinh tế quan tâm, đặc biệt là nông nghiệp
trong các nước đang phát triển. Do đó đã có nhiều mô hình, lý thuyết nghiên cứu về vị
trí, vai trò, những nhân tố ảnh hưởng đến nông nghiệp như: mô hình hai khu vực của
Arthus Lewis, của trường phái Tân cổ điển; mô hình tăng trưởng kinh tế của Harry
Tatsumi Oshima... Đồng thời cũng có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả
trong nước về nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL qua từng giai đoạn khác nhau. Ở đây,
với mong muốn góp phần trong việc tìm kiếm các nguyên nhân tác động đến sự phát
triển của nông nghiệp ĐBSCL, qua đó có thể đưa ra một số gợi ý về giải pháp, tác giả
đã chọn đề tài: “ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HARRY T. OSHIMA ĐỂ ĐẨY MẠNH
TĂNG TRƯỞNG NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”
ngành kinh tế phát triển của nhà trường hay không?
Tiếp theo, ứng dụng lý thuyết kinh tế học nông nghiệp, cụ thể là thông qua mô
hình Harry Tatsumi Oshima, luận văn này có thể phân tích những nhân tố nào ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Cuối cùng, dựa trên những nhận định về các nhân tố tác động vào nông nghiệp,
cùng với tiến trình chuyển đổi kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, luận văn tốt nghiệp có thể đề
đạt những giải pháp nào để phát triển nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng
kinh tế Đồng Bằng Sông Cửu Long.
4.
Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện bằng cách tiếp cận các khung lý thuyết và mô hình về
tác động của nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển.
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả ứng dụng mô hình Harry T. Oshima để kiểm chứng
mức độ ảnh hưởng của nhân tố khí hậu gió mùa trên địa bàn ĐBSCL, từ đó xem xét
những giải pháp để đẩy mạnh tăng trưởng nông nghiệp vùng ĐBSCL. 11
Luận văn này kết hợp các phương pháp quy nạp, diễn dịch, chứng minh, giải
thích, thống kê, tổng hợp, đồ thị, so sánh và phân tích kinh tế lượng với với sự hỗ trợ
của phần mềm Eview 5.1 và Excel 2007.
Nguồn dữ liệu chủ yếu được thu thập và khai thác số liệu thứ cấp liên quan trong
Niên giám Thống kê Việt Nam qua các năm; Tư liệu kinh tế- xã hội 64 tỉnh và Thành
phố của Việt Nam; Số liệu thống kê nông – lâm - thuỷ sản Việt Nam 1975 - 2000; Số
liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX (tập 2); Số liệu kinh tế - xã hội 13 tỉnh ĐBSCL; Các
báo cáo của các bộ ngành và từ các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đã
công bố.
5.
Ngoài ra nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp [2,
tr.312].
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hoá và dịch vụ
của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Nó vừa là mục tiêu, vừa là thước đo
quan trọng phản ánh sự tăng lên về quy mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu
người của một nền kinh tế
. Nghiên cứu của Morris và Adelman (1989) cho biết tăng
trưởng kinh tế của các nước phát triển đã tiến hành theo nhiều kiểu khác nhau [18,
tr.256]:
Nhóm các nước Pháp, Bỉ, Mỹ dựa vào cải tiến nông nghiệp, xuất khẩu hàng công
nghiệp chế biến để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nhóm các nước Úc, Achentina, Canađa và New Zealand có nhiều đất và tài
nguyên, phát triển mạnh nông nghiệp, xuất khẩu nông sản tích lũy
Nhóm các nước Đan Mạch, Hà lan, Thuỵ Sĩ có lợi thế về thể chế và tài nguyên,
tăng trưởng cân đối, phát triển nông nghiệp hàng hoá xuất khẩu có nhiều thặng dư. 13
Các nền kinh tế Đông Á gần đây lại đẩy mạnh tăng trưởng bằng cách lấy nông
nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội và tích luỹ cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu.
Như vậy, thế giới không thể có một công thức phát triển chung cho quá trình tăng
trưởng kinh tế cũng như cho vai trò của ngành nông nghiệp để các nước đang phát triển
noi theo, nhưng tựu trung lại, xuất phát điểm từ nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm nền
tảng, làm bệ phóng cho tăng trưởng kinh tế thì hầu như quốc gia nào cũng áp dụng.
Với Việt Nam, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, tăng trưởng kinh tế phải bắt nguồn
từ nông nghiệp là quan điểm phù hợp nhất. Sinh thời, Hồ Chủ Tịch đã xác định nông
nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là nguồn xuất khẩu
quan trọng. Nông thôn là thị trường tiêu thụ to lớn, cho nên cần cải tạo và phát triển
nghiệp hoá.
Thật vậy, nông thôn là khu vực truyền thống và lớn nhất ở các nước đang phát
triển. Đây là vùng có tốc độ gia tăng dân số tự nhiên nhanh hơn so với khu vực công
nghiệp và thành thị. Cùng với mâu thuẫn giữa tốc độ tăng hàng năm về lao động nông
thôn nhanh hơn so với khả năng tạo việc làm của nền kinh tế khiến thu nhập của lao
động ở khu vực nông nghiệp thường thấp hơn so với lao động ở khu vực công nghiệp.
Đây là lý do để lao động nông nghiệp có xu hướng tìm việc làm ở khu vực công
nghiệp. Giả sử nền kinh tế có hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp, hình 1.1 minh
hoạ những đường cung và cầu lao động tại khu vực nông nghiệp và công nghiệp (S
A
và
D
A
là cung và cầu lao động của khu vực nông nghiệp, S
I
và D
I
là cung và cầu lao động
của khu vực công nghiệp).
15
A
). Lao động nông nghiệp muốn dời đến khu vực công nghiệp, khiến
đường cung lao động nông nghiệp chuyển dịch sang bên trái. Cung lao động công
nghiệp do được tiếp nhận thêm nhân công nên có xu hướng chuyển dịch về bên phải.
Sự dịch chuyển lao động này, theo cách gọi của Oshima, đó là “sự quá độ nông - công
nghiệp”[16, tr.92]. Oshima cho rằng quá độ về cơ cấu từ nông nghiệp sang công
nghiệp, trong đó sức lao động nông nghiệp chiếm phần lớn (khoảng ba phần tư tổng số
sức lao động, bao gồm cả nông nghiệp, chăn nuôi, đánh cá và lâm nghiệp) đã bắt đầu
giảm. Sự quá độ nông - công nghiệp hoàn thành khi sức lao động nông nghiệp rút
xuống ngang bằng với mức tăng của sức lao động công nghiệp (bao gồm cả khai
khoáng, chế tạo, xây dựng, vận tải và hoạt động công ích trong công nghiệp), khoảng
từ một phần tư đến một phần ba. Khi hai khu vực đạt đến mức lương cân bằng W* như
trên hình vẽ, khi ấy có thể nói nền kinh tế đã kết thúc sự quá độ về cơ cấu từ kinh tế do
nông nghiệp chiếm ưu thế sang nền kinh tế công nghiệp.
• Nông nghiệp cung cấp một phần vốn để công nghiệp hoá
Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn cho phát triển kinh tế, với ý nghĩa
lớn lao là vốn tích luỹ ban đầu cho công nghiệp hoá. Kinh nghiệm của Đài Loan, Trung 16
Quốc cho thấy vốn tích luỹ từ nội bộ khu vực nông nghiệp chiếm vai trò quan trọng.
Tại Đài Loan, nhờ giao thông giữa thành thị và nông thôn phát triển, nông dân tăng thu
nhập phi nông nghiệp bằng cách làm thêm ở các thị trấn lân cận [20]. Khu vực nông
nghiệp phát triển và tỉ lệ thu nhập ngoài nông nghiệp tăng làm cho mức sống và tỉ lệ
tiết kiệm của người dân nông thôn tăng theo. Tiền tiết kiệm này lại được huy động vào
việc phát triển công nghiệp nông thôn.
Còn Tại Trung Quốc, trong giai đoạn đầu của cuộc cải cách (1978-1984), nông
dân được giải phóng ra khỏi những trói buộc của cơ chế công xã nhân dân, xác lập lại
cơ chế nông nghiệp theo đơn vị hộ gia đình. Đồng thời, giá cả nông sản được tự do
1.2.2.
Nông nghiệp góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế
Simon Kuznets (1964)
2
đã tìm ra cách định lượng về đóng góp của nông nghiệp
đối với tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Ông gi
ả định rằng, nền kinh tế bao
gồm hai khu vực: khu vực nông nghiệp và khu vực phi nông nghiệp (tức các ngành
công nghiệp và dịch vụ còn lại), và gọi:
o Y : tổng GDP của nền kinh tế;
o Ya và Yn : GDP của khu vực nông nghiệp và khu vực phi nông nghiệp;
o Rn và Ra : tốc độ tăng trưởng GDP tương ứng của khu vực nông nghiệp và
khu vực phi nông nghiệp;
o Pn và Pa : lần lượt là tỷ trọng GDP của khu vực nông nghiệp và khu vực phi
nông nghiệp so với GDP nền kinh tế.
Mức độ đóng góp của nông nghiệp (ký hiệu là
C
a
GDP%
) đối với tăng trưởng chung
của nền kinh tế được xác định bởi biểu thức mang tên Kuznets như sau:
a
GDP%
C
=
1
1
Ya
RnPn
Y
Mô hình hai khu vực (two-sector model) của Arthur Lewis đưa ra vào giữa thập
niên 1950. Mô hình của Lewis dựa trên giả định nền kinh tế gồm hai khu vực:
• Khu vực nông nghiệp truyền thống:
Hình 1.2: Đường hàm sản xuất khu vực nông nghiệp: TP
A
= f(L
A
, K, T)
TP
A
TP
A2
= TP
A3
L
A
L
A1
TP
A1
L
A3
L
A21
Đường biểu diễn hàm sản xuất của khu vực nông nghiệp TP
A
= f(L
A
D
1
D
2
D
3
D
4
D
5
S
LM
L
M4
0
L
M1
L
M3
Theo Lewis, đường cung lao động của khu vực công nghiệp được chia thành hai
giai đoạn: Giai đoạn 1 xuất phát từ W
Mo
là mức tiền công đủ để thu hút người lao động
từ nông nghiệp sang. Đường cung này có dạng nằm ngang, mang tính chất hoàn toàn
co giãn, biểu hiện mức tiền công ngang nhau mà khu vực công nghiệp phải trả cho lao
động di chuyển từ khu vực nông nghiệp. Lewis cho rằng mức tiền công này phải cao
hơn khoảng 30% so với mức tiền công tối thiểu ở khu vực nông nghiệp hiện họ đang
được hưởng. Đến khi khu vực nông nghiệp hết dư thừa lao động, cung lao động của
đa dạng, sử dụng công nghệ sinh học làm tăng năng suất trong nông nghiệp. Do đó, sản
lượng nông nghiệp lúc này gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện
tích đất nông nghiệp và sản xuất đã hướng tới thị trường.
Giai đoạn 3 là bước phát triển cao nhất của nông nghiệp. Ở giai đoạn này, vốn và
công nghệ trở thành yếu tố quyết định đối với tăng sản lượng nông nghiệp, sản xuất
nông nghiệp cũng được cung ứng hoàn toàn cho thị trường và lợi nhuận thương mại là
mục tiêu của người sản xuất. Nông nghiệp nên dựa vào lợi thế về quy mô, áp dụng tối
đa công nghệ mới và hướng vào sản xuất một vài loại sản phẩm riêng biệt.
21
1.3.3.
1.3.4.
Mô hình hàm sản xuất tăng trưởng nông nghiệp theo các giai
đoạn phát triển của Sung Sang Park
Sung Sang Park cũng chia quá trình phát triển nông nghiệp thành 3 giai đoạn: sơ
khai, đang phát triển và phát triển. Mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ
thuộc vào các yếu tố khác nhau và được mô tả dưới dạng hàm sản xuất.
Ở giai đoạn sơ khai, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào lao động và các yếu tố
tự nhiên như đất đai, thời tiết khí hậu. Lao động nông nghiệp dư thừa nhưng không
chuyển được sang khu vực công nghiệp và dịch vụ nên năng suất biên giảm dần trong
sản xuất.
Đến giai đoạn đang phát triển, ngoài yếu tố lao động và tự nhiên, sản lượng nông
nghiệp còn phụ thuộc vào việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ sinh học, và nhất
là phụ thuộc các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp như phân bón,
thuốc hoá học. Ông cho rằng lúc này sản lượng trên một ha đất nông nghiệp tăng lên
tương ứng với lượng phân bón và thuốc hoá học sử dụng tăng lên.
Giai đoạn cuối cùng của sự phát triển, nền kinh tế đạt đến mức toàn dụng, không
Oshima đồng tình với lý thuyết của trường phái Tân cổ điển khi đặt vấn đề ngay
từ đầu phải quan tâm đến cả hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp, nhưng ông lại
cho rằng chủ trương của trường phái này khó thực hiện được nếu không nói là thiếu
thực tế trong điều kiện của các nước đang phát triển. Các nước này còn thiếu rất nhiều
khả năng các nguồn lực, nhất là nguồn lực về vốn đầu tư và lao động có kỹ thuật cao,
kỹ năng quản lý và trình độ quan hệ kinh tế quốc tế.
Oshima đánh giá các lý thuyết kể trên chú ý chưa đầy đủ đến vấn đề chất lượng
công nhân, có thể họ gộp cả khối đồng nhất các lực lượng lao động chân tay lại
4
.
Những lý thuyết trên đặt ra nhằm dành cho các nước chậm phát triển, nhưng lại thích
hợp đối với các nước phát triển đứng đầu về kỹ thuật. Đề cập tới những nền kinh tế
châu Á gió mùa, nghĩa là đang nói đến những nước có mật độ dân số cao, bản chất gió
4
Ở đây Oshima giải thích rằng, chuẩn mực xã hội tồn tại trong mỗi nước là khác nhau. Ở một nước, có thể là lao
động 40 giờ một tuần, ở nước khác là 50 giờ, hoặc cao hơn nữa ở những nước khác nữa. Do đó, chuẩn mực về
chất lượng lao động cũng thay đổi từ nước này sang nước khác 23
mùa đã làm cho nửa năm mưa nhiều và nửa năm rất ít mưa, tạo ra một kiểu nông
nghiệp khác về nhiều mặt so với phương Tây. Mưa nhiều dẫn tới việc trồng lúa nước,
một công việc đòi hỏi phải tập trung lao động cao độ trong mùa gieo cấy và gặt hái,
đây chính là nguyên nhân của việc tăng dân số. Song nửa năm mùa khô lại không có
đủ việc làm cho số lao động khổng lổ này. Kết quả là sản lượng hàng năm tính theo
đầu người thấp. Vấn đề cơ bản của nền kinh tế gió mùa là phải thay đổi một nền kinh
tế đi từ chỗ sử dụng không hết lao động tiến lên tận dụng hết lao động ở mức cao.Với
những nhận định trên, Oshima đã đưa ra hướng quan tâm đầu tư phát triển nền kinh tế
quy mô tăng sẽ tạo thêm việc làm cho các hoạt động không thuộc diện cày cấy (như
chăn nuôi, nghề cá, sản phẩm lâm nghiệp), một số sản phẩm có thể xuất khẩu ra nước
ngoài vì chế biến và canh tác tốt hơn.
Bốn là, nông nghiệp đa dạng hoá làm tăng việc
làm phi nông nghiệp cho các thành viên trong gia đình (như điều khiển, phân loại,
đóng gói...), tác động của ngành phi nông nghiệp này ngày càng mở rộng vì nó liên kết
việc xây dựng các kết cấu hạ tầng nông thôn với các hoạt động sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Cuối cùng,
bước thứ năm, thu nhập cao đẻ ra nhu
cầu sử dụng các hàng hoá công nghiệp, tạo ra thị trường cho ngành công nghiệp thay
thế nhập khẩu, khiến ngành này có thể tăng quy mô sản xuất. Khi đó di dân từ các khu
vực nông thôn đến thành thị để phát triển các ngành công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ
ngày càng tăng. Quá trình này diễn ra liên tục, trong nhiều năm. Dấu hiệu kết thúc giai
đoạn hai là tốc độ tăng trưởng việc làm có biểu hiện lớn hơn tốc độ tăng trưởng lao
động, làm cho thị trường lao động bắt đầu bị thu hẹp, tiền lương thực tế tăng.
• Giai đoạn 3: Sau khi có đầy đủ việc làm
Vì rằng quá trình diễn biến các bước kể trên tiếp tục và kéo dài trong nhiều năm
làm cho các ngành kinh tế trong nước phát triển khá mạnh. Khu vực dịch vụ cũng ngày
càng được mở rộng nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, các ngành công nghiệp thay
thế nhập khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Tất cả đã làm cho hiện tượng
thiếu lao động trở nên ngày càng phổ biến trong tất cả các ngành và các khu vực của
nền kinh tế. Vì vậy, quan điểm của Oshima trong giai đoạn này là phải đầu tư phát
triển theo chiều sâu trên toàn bộ các ngành kinh tế.
Một mặt, trong nông nghiệp cần
hướng tới sử dụng máy móc thiết bị thay thế lao động và áp dụng phương pháp công
nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng.
Mặt khác, khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển 25