1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HOC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số: 304
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - KỸ THUẬT GIỮA
NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM
CANH TẠI LONG PHÚ - SÓC TRĂNG
Sinh viên thực hiện:
TRƯƠNG HUYỀN TRÂN
MSSV: 06803051
Lớp: NTTS K1
Cần Thơ, 08/2010
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HOC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số: 304
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - KỸ THUẬT GIỮA
NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM
CANH TẠI LONG PHÚ - SÓC TRĂNG
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ths. TẠ VĂN PHƯƠNG TRƯƠNG HUYỀN TRÂN
MSSV: 06803051
Lớp: NTTS K1
Cần Thơ, 08/2010
3
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TRƯƠNG HUYỀN TRÂN
6
TÓM TẮT
Nghề nuôi tôm tại Long Phú – Sóc Trăng phát triển nhanh trong thời gian qua, trong đó
con tôm sú và tôm thẻ chân trắng được quan tâm nhất. Vì vậy đề tài được thực hiện nhằm
đánh giá hiện trạng nghề nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng, so sánh hiệu quả kinh tế của
hai mô hình này đem lại, tìm ra giải pháp khắc phục các vấn đề tồn tại trong nghề nuôi
tôm của huyện, góp phần nâng cao hơn hiệu quả kinh tế nghề nuôi. Nội dung nghiên cứu:
(i) Điều tra hiện trạng kỹ thuật và kinh tế xã hội của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân
trắng thâm canh; (ii) So sánh hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của từng mô hình nuôi nói trên.
Số liệu thứ cấp được thu từ CCNTTS và Sở NN – PTNT tỉnh Sóc Trăng. Số liệu sơ cấp
được thu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và chọn ngẫu nhiên 30 hộ/tôm sú thâm
canh và 26 hộ/nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Diện tích
mặt nước NTTS trung bình của hộ tôm sú là 2,00±2,77 ha/hộ và hộ tôm thẻ là 0,61±0,31
ha/hộ, tỷ lệ ao lắng/ao nuôi trung bình của tôm sú là 23,0±0,60% và tôm thẻ chân trắng là
22,0±5,25%. Số hộ không sử dụng ao lắng trong mô hình nuôi tôm sú chiếm 20% và tôm
thẻ là 30,7%. Tôm thẻ chân trắng có thời điểm thả giống kéo dài (tháng 1 - 10) và nuôi
nhiều vụ trong năm (2 - 3 vụ). Tôm sú có thời điểm thả giống ngắn tập trung (tháng 1 - 4)
và chủ yếu nuôi 1 vụ/năm. Thời điểm thả giống của tôm sú và tôm thẻ là từ tháng 1 - 4
đem lại hiệu quả sản suất cao. Mô hình nuôi tôm sú thâm canh có mật độ trung bình là
26,4±7,99 con/m
2
, tỷ lệ sống trung bình 64,5±16,6%, năng suất trung bình 3,83±1,43
tấn/ha. Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh có mật độ trung bình 73,0±36,2
con/m2, tỷ lệ sống trung bình 52,7±20,5%, năng suất trung bình 4,81±3,92 tấn/ha. Mô
hình nuôi tôm sú thâm canh có tổng chí phí bình quân 243±102 triệu đồng/ha, lợi nhuận
trung bình 85,6±78,4 triệu đồng/ha, số hộ nuôi tôm có lời là 83,4%, hòa vốn là 3,33% và
lỗ vốn 13,3%, tỷ suất lợi nhuận khoảng 0,43±0,21. Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng có
tổng chi phí trung bình là 206±106 triệu đồng/ha, lợi nhuân trung bình 14,4±73,5 triệu
đồng/ha, số hộ nuôi tôm có lời là 57,7% và lỗ vốn 42,3%, tỷ suất lợi nhuận dao động
8
2.3.4 Đặc điểm tài nguyên
16
2.3.5 Sơ lược tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng tại Long Phú 16
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm 19
3.2 Vật liệu 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 19
3.3.1 Thu nhập thông tin thứ cấp 19
3.3.2 Thu nhập thông tin sơ cấp 20
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Khảo sát thực trạng nuôi tôm tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng 24
4.2 Phân tích các khía cạnh kỹ thuật giữa nuôi tôm sú và thẻ chân trắng thâm canh 25
4.2.1 Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn 25
4.2.2 Thời điểm và cơ cấu mùa vụ 25
4.2.3 Diện tích nuôi 27
4.2.4 Phương pháp và thời gian cải tạo 27
4.2.5 Mật độ và kích cỡ giống thả nuôi 28
4.2.6 Thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn 29
4.2.7 Thuốc hóa chất trong quản lý và phòng trị bệnh 31
4.2.8 Thời gian nuôi, tỷ lệ sống và năng suất 32
4.3 Phân tích hiệu quả kinh tế giữa nuôi tôm sú và thẻ chân trắng thâm canh 33
4.3.1 Chi phí 33
4.3.2 Doanh thu 35
4.3.3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 36
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề xuất 38
Hình 4.15: Mối liên hệ giữa mật độ, chi phí và doanh thu của tôm thẻ chân trắng 37
12
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
FAO: Food and Aquculture Organization of the United Nations
GAP: Good Aquaculture Practice
BMP: Better Management Practice
CoC: Code of Conduct for Responsible Aquaculture
DPI: Depertment of Primary Industry and Fishereis
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
CCNTTS: Chi cục Nuôi Trồng Thủy Sản
Sở NN – PTNT: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
VASEP: The Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers
FCR: Food Conversion Ratios
PL: Postlarval
NT: Nghiệm thức
ĐLC: Độ lệch chuẩn
GTTB: Giá trị trung bình
Pr: Chân ngực
13
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Được thiên nhiên ưu đãi Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có tiềm năng cho việc
phát triển nuôi trồng thủy sản ở cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Đặc biệt nghề nuôi
tôm sú phát triển nhanh chóng trong hai thập kỷ qua (Lovatelli, 1997, trích bởi Dương
Thị Hoàng Oanh và ctv., 2008). Hàng năm vùng đóng góp sản lượng hơn 300.000 tấn
tôm sú, chiếm hơn 80% sản lượng tôm biển nuôi ở Việt Nam (Bộ Thủy Sản, 2006). Quá
trình thâm canh hóa diễn ra nhanh chóng dẫn đến những tác động tiêu cực cho môi
trường và nghề nuôi hiện nay. Môi trường suy thoái, chất lượng con giống không đảm
bảo đã làm phát sinh nhiều dịch bệnh: đốm trắng, MBV, đe dọa đến năng suất tôm nuôi
- Đánh giá hiện trạng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh tại huyện Long
Phú
- So sánh hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú
thâm canh đem lại tại huyện Long Phú
15
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú và tôm thẻ chân trắng
2.1.1 Phân loại và hình thái
Theo Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc Phú (2009) thì tôm sú và tôm thẻ chân trắng
được mô tả về hình thái rất chi tiết cùng với hệ thống phân loại hoàn chỉnh như sau:
Tôm sú có 7 - 8 răng trên chủy và 3 - 4 răng dưới chủy, chủy thẳng nhô lên. Sống gan
nghiêng, gai đuôi có rãnh nhưng không có gai bên. Phần đầu ngực và phần bụng có
những băng đen ngang, chân ngực màu đỏ. Đây là loài có kích thuớc lớn nhất trong họ
tôm he và giá trị kinh tế rất cao (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).
Tôm sú
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Crutacea
Lớp: Malacostraca
Lớp phụ: Eumalacostraca
Tổng bộ: Eucarida
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Dendrobranchiata Bate, 1888
Tổng họ: Penaeoidea
Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon (Fabricus, 1789)
Hình 2.1: Tôm sú
Hình 2.2: Tôm thẻ chân trắng
C, là loài rất rộng muối, tôm trưởng thành chủ
yếu sống ở vùng biển gần bờ, tôm con thích sống ở vùng cửa sông nhiều thức ăn để tìm
mồi. Do nhu cầu phát triển nuôi loài tôm này, hiện nay tôm thẻ chân trắng có mặt nhiều
nơi trên thế giới.
2.1.3 Khả năng thích nghi với môi trường
Tôm sú là loài rộng muối 5 - 45%o và rộng nhiệt 14 - 35
o
C (Nguyễn Khắc Hường, 2007).
Nhiệt độ tốt cho tăng trưởng 25 - 30
o
C, độ mặn thích hợp nhất cho tăng truởng là 25 -
30%o, oxy hòa tan là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nuôi tôm,
hàm lượng oxy hòa tan thích hợp là 4 - 8 mg/l (Nguyễn Khắc Hường, 2007; Đoàn Xuân
Diệp và ctv., 2009). Phù hợp với khí hậu Việt Nam, đặc biệt được nuôi nhiều ở các tỉnh
ven biển. Tốc độ tăng trưởng trên 20g nhanh hơn tôm thẻ chân trắng (Briggs et al., 2005).
17
Được xem là đối tượng nuôi phù hợp và truyền thống cho nuôi tôm sinh thái tôm - rừng
kết hợp (Nguyễn Anh Tuấn và ctv., 1997).
Tôm thẻ chân trắng có năng lực thích ứng với biến động môi truờng rất cao. Theo
Nguyễn Khắc Hường (2007) tôm thẻ chân trắng chịu đựng nhiệt độ cao tốt, giới hạn tối
đa là 43,5
o
C, nhưng trái lại nhiệt độ thấp thì rất kém; dưới 18
o
C hoạt động bắt mồi giảm,
duới 9
o
C thì tôm chết; nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23 - 30
o
C.
S, pH dao động trong
khoảng 7,5 - 8,5 thì sẽ khống chế được các khí độc NH
3
, H
2
S bộc phát trong ao nuôi.
2.1.4 Tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng
Tôm sú là loài ăn tạp thiên về động vật (Dall et al., 1990). Thức ăn của tôm bao gồm các
loài giáp xác, giun nhiều tơ, nhuyễn thể, cá con, côn trùng, tảo và cả mảnh vụn hữu cơ.
Tuy nhiên tập tính ăn thay đổi theo giai đoạn phát triển. Khi còn nhỏ chúng ăn các loại
thức ăn có kích thuớc nhỏ như vi tảo, mảnh vụn hữu cơ, copepode, ấu trùng côn trùng, ấu
trùng giáp xác,…khi lớn tôm chủ yếu ăn các loại động vật không xương sống: ruốc, moi,
giáp xác, giun nhiều tơ, nhuyễn thể và cả cá nhỏ. Tôm phát hiện và bắt mồi chủ yếu nhờ
cơ quan xúc giác nằm ở đầu mút của râu, phụ bộ miệng và càng. Tôm sú có tập tính ăn
nhiều về đêm. Hiện tuợng tôm ăn thịt lẫn nhau là do thiếu thức ăn, thức ăn thiếu duỡng
18
chất, mất cân bằng dinh duỡng và khi nuôi với mật độ quá dày. Chất đạm là thành phần
quan trọng nhất và có ảnh huởng lên sự phát triển của vật nuôi. Theo Nguyễn Khắc
Hường (2007) nhu cầu về chất đạm cho nuôi tôm sú thịt khoảng 35 - 40%. Đối với tôm
giống và tôm bố mẹ thì nhu cầu nay còn cao hơn nữa. Tôm có tốc độ tăng truởng khá
nhanh, sau 5 - 6 tháng tính từ PL10 - PL17 có thể cho thu hoạch (Nguyễn Thanh Phương
và ctv., 2008).
Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp, nhưng yêu cầu về thức ăn là động vật không lấy gì làm
nghiêm ngặt. Tôm có tập tính bắt mồi vào ban đêm, khi nhiệt độ cao tôm bắt mồi tăng.
Đặc biệt vào ban ngày tôm kết thành đàn lớn trong tầng nước để bắt mồi, do đó có thể
nuôi với mật độ dày. Cũng như tôm sú, tôm thẻ chân trắng bắt mồi nhờ cơ quan xúc giác
nằm ở đầu mút của râu, phụ bộ miệng và càng.
Ưu điểm của tôm thẻ chân trắng hơn các loài tôm khác là do nhu cầu về dinh dưỡng thấp,
chủ yếu là chất đạm thấp, khoảng 20 - 35% đủ thoã mãn cho tôm tăng truởng tốt. Khả
năng chuyển hóa thức ăn của tôm rất cao, trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số chuyển
4:00 giờ, chủ yếu từ 24:00 - 2:00 giờ (Hall et al., 2002). Trứng đựơc thụ tinh ngay khi đi
qua ống dẫn tinh. Sau khi đẻ 12 - 14 giờ trứng nở ra thành ấu trùng trải qua các giai đoạn
biến thái trở thành tôm trưởng thành và tiếp tục vòng đời. Tuổi thọ của tôm sú ở con đực
khoảng 1,5 năm và con cái khoảng 2 năm (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương,
2009).
Theo Nguyễn Khắc Hường (2007), tôm thẻ chân trắng có mùa sinh sản tương đối dài,
tôm bố mẹ gần như thành thục quanh năm. Thẻ chân trắng có thelycum hở nên quá trình
giao vĩ theo trình tự: lột xác - thành thục - giao vĩ - đẻ trứng, nên việc sản xuất giống gặp
khó khăn hơn. Tôm thường giao vĩ vào lúc mặt trời lặn, thường phát sinh trước tôm cái
đẻ trứng khoảng 2 giờ. Tôm cái bắt đầu đẻ trứng, đồng thời phóng thả tinh trùng ra, quá
trình thụ tinh diễn ra trong nước rất nhanh. Tôm cái chưa giao vĩ, chỉ cần buồng trứng đã
thành thục thì vẫn đẻ trứng ra, nhưng không thể ấp. Giống như tôm sú, ấu trùng tôm thẻ
chân trắng cũng phải lột xác để biến thái qua nhiều giai đoạn thành tôm trưởng thành và
tiếp tục vòng đời. Tuổi thọ trung bình của tôm thẻ chân trắng ít nhất có thể vượt quá 32
tháng.
2.2 Tổng quan tình hình phát triển nghề nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
2.2.1 Tình hình nghề nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Ngành thủy sản có lịch sử trên 2.500 năm và hầu hết việc khai thác và nuôi được xem
như là một nghề riêng như các nghề khác, không ngừng phát triển trở thành một khoa học
hiện đại trong nửa sau của thập kỷ 20 (Silva and Davy, 2010). Mốc lịch sử đầu tiên và
quan trọng nhất là thành công trong nghiên cứu sản xuất giống tôm he Nhật Bản
(Marsupenaeus japonicus) trong bể lớn do Hudinaga thực hiên vào năm 1933 tại Nhật
Bản. Kỹ thuật này nhanh chóng lan rộng ra thế giới, mở ra một thời đại vàng cho nghề
nuôi tôm biển và phát triển không ngừng cho đến nay (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh
Phương, 2009).
Những cống hiến của Cook & Murphy (1966) có ý nghĩa to lớn cho sự phát triển sản xuất
giống nhân tạo của nhiều loài tôm biển trong thập kỷ 60 - 70, đặc biệt là tôm sú (Penaeus
monodon). Trong thập kỷ 70 - 80 việc sử dụng tôm bố mẹ cho sản xuất giống được thu từ
các ao, đầm, hay nuôi vỗ thành công trong trại thay thế cho nguồn tôm bố mẹ tự nhiên
(Fast, 1992) là động lực lớn cho sự phát triển sản xuất giống nhân tạo và nghề nuôi tôm
nhiều nước khác (Briggs et al., 2005). Đến nay tôm thẻ chân trắng được nuôi phổ biến ở
những quốc gia này, Trung Quốc và Thái Lan là hai nước có sản lượng tăng rất nhanh từ
1.340.000 tấn (2004) và trên 2.200.000 tấn (2007), trở thành quốc gia có sản lượng tôm
nuôi dẫn đầu thế giới. Mặt khác từ năm 2003 trở lại gần đây, sản lượng tôm sú trên thế
giới gần như chửng lại và có xu hướng giảm. Năm 2007 sản lượng đạt dưới mức 600.000
tấn. Sự phát triển nhanh chóng của tôm thẻ chân trắng trong những năm gần đây đã ảnh
hưởng giá cả nói chung và cả tôm Sú, điều đó đã ảnh hưởng lớn đến nghề nuôi tôm sú ở
nhiều nơi trên thế giới.
21
Bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng sản lượng tôm nuôi nói chung và phát triển đa dạng
các hình thức nuôi: quảng canh, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh có thể lên
đến 300 - 400 con/m
2
(Briggs et al., 2005). Đã dẫn đến nhiều tiêu cực: tác động xấu đến
môi trường làm suy thoái môi trường, dịch bệnh lây lan, mặn hóa đất, cạn kiệt nguồn
nước ngầm, nạn phá rừng ngập mặn, suy giảm sản lượng và tính đa dạng của nguồn lợi
thủy sản, di nhập giống loài lạ, ảnh hưởng đến quần thể địa phương. Ngoài ra còn tác
động tiêu cực lớn về kinh tế xã hội như mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế; thay đổi
quan hệ xã hội và phân cấp; thất nghiệp và di dân; đe dọa an toàn lương thực do tập trung
nuôi tôm (Primavera, 1998; Federica, 2001).
Nhằm hướng đến phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên thế giới, các mô hình nuôi cải
tiến không ngừng đảm bảo an toàn sinh học, an toàn tiêu dùng và thân thiện môi trường
được ứng dụng rộng rải giúp quản lý nghề nuôi tốt hơn như: thực hành nuôi tốt (GAP -
good aquaculture practice), thực hành quản lý tốt (BMP - best management practice),
nuôi an toàn sinh học (Bio - security shrimp culture), nuôi có trách nhiệm, nuôi kết hợp,
nuôi sinh thái (Chopin et al., 2001; Boyd, 2003; Word Bank - Ministry of Fisheries, 2006;
FAO - NACA - UNEP - WB - WWF, 2006 và DPI, 2006).
2.2.2 Tình hình nghề nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
Trại nghiên cứu sản xuất giống đầu tiên được thành lập vào 1982, tại Qui Nhơn, do FAO
tài trợ. Từ 1984 - 1985, sản xuất thành công tôm sú (P. monodon) tại Nha Trang, và tôm
ha, trong đó diện tích nuôi bán thâm canh chiếm khoảng 65.067 ha và thâm canh là
52.000 ha (Word Bank - Ministry of Fisheries, 2006).
Tôm thẻ chân trắng được biết đến ở Việt Nam từ năm 2000, việc nuôi thử nghiệm tôm
này đã cho năng suất cao và thu hút được sự chú ý của các nhà nuôi tôm. Tuy nhiên,
nguồn giống phải nhập từ nước ngoài, nhằm phát triển đối tượng này trên qui mô bền
vững ở Việt Nam thì việc sản xuất giống nhân tạo trong nước là việc cần thiết. Năm 2002,
tôm thẻ chân trắng được nhập và thử nghiệm sản xuất giống thành công. Năm 2003 bắt
đầu sử dụng tôm mẹ là tôm thẻ chân trắng F1 (trích bởi Thạch Thanh, 2003), năm 2003
Bộ thủy sản cho phép nuôi tôm này ở các tỉnh miền Trung và cấm nuôi ở các tỉnh
ĐBSCL. Đầu năm 2008, Bộ NN - PTNT ban hành quyết định cho phép nuôi tôm thẻ
chân trắng ở các tỉnh ĐBSCL, nhằm đa dạng đối tượng nuôi và đáp ứng kịp thời nhu cầu
thị trường. Đến cuối năm 2008, tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng khu vực Duyên
Hải Nam Trung Bộ được thống kê là 4.227 ha. Và tháng 9/2009, diện tích nuôi tôm thẻ
chân trắng trong vùng đã tăng đến 9.131 ha, hơn gấp đôi (Báo Nông nghiệp Việt Nam,
2009). Theo Bộ NN - PTNT, hiện nay diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL phát triển được trên
540.000 ha, chiếm gần 90% diện tích nuôi tôm của cả nước. Trong đó, tôm sú 538.800 ha,
tôm thẻ chân trắng 807 ha tập trung ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng,
và Trà Vinh (Bộ NN - PTNT, 2009).
Nhìn chung sự thâm canh hóa trong nghề nuôi tôm của Việt Nam đã tác động tiêu cực lên
môi trường, sự cân bằng sinh thái, các vấn đề kinh tế xã hội như nhiều nước trên thế giới.
Nghề nuôi tôm đang gặp nhiều trở ngại từ sự suy thoái môi trường, dịch bệnh và biến
động giá cả thị trường. Một số giải pháp nâng cao sự quản lý cho nghề nuôi tôm và thân
thiện môi trường như các mô hình GAP, BMP, nuôi tôm có trách nhiệm, nuôi tôm an
toàn sinh học và nuôi sinh thái đang được ứng dụng và thúc đẩy thực hiện có hiệu quả
nhiều nơi, cùng với không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng tôm nuôi để giúp phát
triển nghề nuôi tôm một cách bền vững.
23
2.2.3 Sơ lươc một số bệnh phổ biến trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Việc phát triển quy mô thâm canh trong nghề nuôi tôm hiện nay đang đối mặt với nguy
cơ dịch bệnh nguy hiểm và gây ra không ít tổn thất cho người nuôi tôm ở nhiều quốc gia.
nhỏ 0,05g - 5,0g hoặc có thể xuất hiện ở tôm lớn hoặc tôm thương phẩm có thể xảy ra.
Dịch bệnh TSV gây chết từ 40 - 90% tôm nuôi từ post, tôm giống, tôm giống lớn. Năm
1992 bệnh đã xuất hiện ở tôm L. vannamei nuôi ở Ecuador (6/1992), bệnh phát triển rất
nhanh trên toàn bộ vùng nuôi tôm châu Mỹ nhiễm từ post đến tôm bố mẹ. Trong thời
24
gian ngắn dịch bệnh lan rộng nhiều nước: Hawai, Peru, Mexico, Atlantic, ven biển Tây
Thái Bình Dương,…tại Đài Loan tôm nhập từ Trung Mỹ đã bị bệnh TSV tới 90% (Chien
et al., 1999 được trich dẫn bởi Bùi Quang Tề, 2003), đến nay bệnh đã lan sang Trung
Quốc và một số nước châu Á khác.
2.2.3.2 Bệnh phổ biến trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng Việt Nam
Các virus gây bệnh gan tụy
Đặc điểm của loại virus gây bệnh này là nhân tố gây tổn thương các tế bào gan tụy như
MBV (Monodon baculovirus), HPV (Hepatopancreas parvovirus) và làm tôm dễ mẫn
cảm trước những bất lợi về môi trường hay các bệnh khác. Ở Việt Nam từ tháng 10 -
11/1994 Bùi Quang Tề lần đầu tiên đã nghiên cứu về mức độ nhiễm bệnh MBV trên tôm
sú ở các tỉnh ven biển phía Nam: tôm sú nuôi nhiễm virus MBV khá cao: tôm thịt ở Minh
Hải 50 - 85,7%, ở Sóc Trăng 92,8%, tôm giống ở Bà Rịa - Vũng Tàu 5,5 - 31,6%, tôm
giống Nha Trang 70 - 100%. Bệnh MBV là nguyên nhân làm chết tôm hàng loạt ở các
tỉnh phía Nam năm 1993 - 1994. Tiếp theo là Đỗ Thị Hòa từ tháng 4/1994 - 7/1995 cũng
đã nghiên cứu bệnh MBV trên tôm sú nuôi ở các tỉnh Nam Trung Bộ, kết quả cho thấy:
tỷ lệ nhiễm virus ở ấu trùng tôm sú là 33,8%, tôm giống là 52,5%, tôm thịt là 66,5%.
Năm 1995 sơ bộ điều tra bệnh tôm sú ở các tỉnh phía Bắc: Nghệ An, Thanh Hóa, Hải
Phòng, vì những tỉnh này đều lấy tôm từ Nha Trang ra nuôi (Bùi Quang Tề, 1997). Đến
nay kiểm tra tôm post từ miền Bắc ở Quảng Ninh đến các tỉnh phía Nam ở Cà Mau hầu
hết chúng đều nhiễm mầm bệnh MBV, ở mức độ khác nhau. Bệnh MBV không gây chết
tôm hàng loạt, nhưng tôm chậm lớn và chết rải rác. Khi thu hoạch tỷ lệ tôm sống rất thấp,
gây nhiều tổn thất về kinh tế cho người nuôi, trở thành vấn đề nan giải của nghề nuôi tôm
các tỉnh ven biển (Bùi Quang Tề, 2003).
Các virus gây chết cấp tính
Bệnh đốm trắng(White spot syndrome virus - WSSV): trong những năm gần đây bệnh
bệnh phát sáng,… đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nghề nuôi tôm ở nước ta.
Đặc biệt bệnh phát sáng trên tôm chủ yếu do Vibrio harveyi gây ra, tôm bệnh có biểu
hiện phát sáng, đỏ thân và bị ăn mòn phụ bộ. Trong môi trường giàu dinh dưỡng, xác bã
hữu cơ bệnh có thể xuất hiện quanh năm, là cơ hội cho bệnh đốm trắng xâm nhập. Bệnh
phổ biến ở các vùng nước lợ, trong sản xuất giống bệnh được lây truyền từ ruột giữa của
mẹ cho trứng trong quá trình sinh sản. Tỷ lệ chết tùy theo mức độ bệnh, tôm chết từ rải
rác tới hàng loạt (Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv., 2005).
Bệnh do các tác nhân khác
Những phát hiện và nghiên cứu về nguyên sinh động vật gây hại trên tôm, cá cho thấy ký
sinh trùng ở động vật thủy sản Việt Nam, thường gặp một số giống: Aspisoma, Epistylis,
Zoothamnium, Vorticella. Khi tôm bị nhiễm nặng có thể gây chết tôm. Đặc biệt là ở giai
đoạn tôm giống (Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv., 2005).
Bệnh nấm xuất hiện trên các loài tôm, cá nước lợ và mặn. Bệnh phát triển quanh năm khi
điều kiện môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt là vào cuối chu kỳ nuôi tôm sú thâm canh và
bán thâm canh (Bùi Quang Tề, 2003).
Bên cạnh những yếu tố hữu sinh gây bệnh trên tôm thì các yếu tố vô sinh như mất cân
bằng dinh dưỡng, các yếu tố môi trường không đảm bảo điều gây bất lợi cho quá trình
sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi (Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv., 2005).
Trong những năm gần đây ngành thủy sản Việt Nam phát triển rất nhanh, mục tiêu của
người nuôi là thu lại hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, một quy luật tự nhiên khi nghề nuôi
phát triển thì dịch bệnh sẽ tăng lên. Những hậu quả nghiêm trọng mà dịch bệnh trên tôm