Mục lục.
Lời nói đầu.
Chơng I: các vấn đề phật học.
Phật giáo có phải là tôn giáo hay không?
I . Các định nghĩa khác nhau về tôn giáo.
II . Đạo phật không có tín điều.
Đạo Phật với câu: "Tôn giáo là thuốc phiện của Nhân dân".
lẽ vô thờng của đạo phật và phép biện chứng mác-lênin.
I . Lẽ vô thờng trong đạo phật.
II . lẽ vô thờng trong chủ nghĩa duy vật .
Thuyết tái sinh trong đạo phật.
I . Phần lịch sử.
II . quan điểm của đạo phật về thuyết tái sinh.
III . cơ chế của thuyết tái sinh.
IV . nếu tái sinh là không có thực thì vì sao chúng ta không nhớ lại
đợc các kiếp sống trớc?
Chơng II: văn hoá phật giáo việt nam.
I . sự phát triển của văn hoá phật giáo tại việt nam.
II . phật giáo là một nhu cầu tinh thần của ngời việt nam trong lịch
sử.
III . phật giáo trong thế giới quan của ngời việt nam.
IV . những giá trị của văn hoá phật giáo trong phơng pháp t duy của
ngời việt nam.
Kết luận .
Danh mục các tài liệu tham khảo.
hay linh hồn cũng đều là những biến tớng của cái ta mà thôi. Con ngời vì
bản năng tự vệ đã tạo ra khái niệm Thợng đế để che chở phù hộ mình, lại vì
bản năng tự tồn nên tạo ra khái niệm linh hồn bất tử để an ủi mình.
Ngời đời ít ai không đam mê ngũ dục và tứ khoái nhng đạo Phật lại
giảng thuyết ly dục, xem đó nh là một biện pháp cứu cánh để đảm bảo một
đời sống thật sự an lạc. Đạo Phật nói ngời đam mê nhục dục cũng nh ngời
khát nớc mà còn ăn mặn, lại càng thêm khát.
Hơn nữa, kinh sách của Phật giáo lại quá nhiều, phần lớn bằng tiếng
nớc ngoài, các bản dịch đã ít lại khó hiểu. Đạo Phật có lắm Tông, nhiều
phái, dễ gây ấn tợng ban đầu một cái gì lộn xộn, thiếu quy củ, do đó mà
khó nghiên cứu đào sâu.
Mặc dù những khó khăn trùng điệp kể trên nhng chúng ta nên tổ
chức, nghiên cứu đạo Phật theo quan điểm khoa học. Nghiên cứu không chỉ
vì mục đích hiểu biết. Đạo Phật xuất hiện ở nớc ta vào khoảng thế kỷ thứ II
sau công nguyên. Từ đó đến nay, đạo Phật đã cống hiến cho đất nớc ta, dân
tộc ta, những giá trị văn hoá, đạo đức gì cần đợc bảo tồn và phát huy và
những ảnh hởng tiêu cực của đạo Phật cũng cần đợc xác định rõ ràng và
phê phán nghiêm túc. Ngợc trở lại dòng thời gian, đất nớc ta, dân tộc ta qua
bao nhiêu thế hệ Thiền s và Tăng Ni đạo cao, đức trọng, học hành uyên
bác, qua các bậc minh quân và sĩ phu sùng đạo đời Lý, đời Trần.v.v... đã
cống hiến gì cho đạo Phật, đem lại cho đạo Phật những bản sắc văn hoá
Việt, làm nên một Phật giáo Việt Nam với nhiều nét độc đáo. Nghĩa là
2
chúng ta sẽ nghiên cứu sự cống hiến hai chiều. Đạo Phật cống hiến gì cho
dân tộc Việt Nam? Và dân tộc Việt Nam đã cống hiến gì cho đạo Phật?
Không ai có thể nghiên cứu, tìm hiểu Phật giáo Việt Nam bằng ngời
Việt Nam chúng ta, thay chúng ta, hơn chúng ta. Trong việc nghiên cứu tìm
hiểu này, quan điểm khoa học Mác - Lênin sẽ cho chúng ta một phơng
Chơng I:
các vấn đề Phật học
Phật giáo có phải là tôn giáo hay không?
I - các định nghĩa khác nhau về tôn giáo:
Đối với ngời trí thức Việt Nam am hiểu tiếng Pháp, tiếng Anh khi nói
đến tôn giáo thì lập tức họ nghĩ đến từ Religion. Mà từ Religion này lại
không có một từ có nghĩa tơng đơng trong bất cứ một thứ ngôn ngữ á châu
nào. Giáo s Rhys David trong cuốn David Rhys - Buddhism cho rằng
Religion bắt nguồn từ chữ re và lego có nghĩa là đọc đi đọc lại các lời
tán tụng và cầu nguyện. Một kiểu giải thích khách cho rằng từ Religion
nghĩa là gắn bó thờng xuyên với các thiên thần. Theo một kiểu giải thích
thứ ba thì Religion là tinh thần tôn trọng luật với một ý thức tỷ mỉ, đầy đủ.
Nói chung các học giả phơng Tây hiểu Religion nh một hệ thống tín ngỡng
và lễ nghi; tín ngỡng có những lực lợng siêu nhiên và nếu thực hành một số
nghi lễ nhất định thì sẽ đợc những lực lợng siêu nhiên đó che chở, phù hộ.
Truyền thống tế đàn của đạo Bà la môn chính dựa trên khái niệm tôn giáo
này. Tổ chức tế đàn và những lễ nghi phức tạp nhằm mục đích kêu gọi sự
gia hộ của các thần linh.
Các nhà nhân chủng học phơng Tây khi nghiên cứu các hình thức tôn
giáo nguyên thuỷ đều có quan điểm tơng tự. Ví dụ: Tylor, trong cuốn Văn
hoá Nguyên Thuỷ cho rằng một định nghĩa tối thiểu về tôn giáo nh sau:
Tôn giáo là tín ngỡng ở thần linh. Một số tác giả khác nhận xét rằng,
điều quan trọng đối với tôn giáo nguyên thuỷ không phải là tín ngỡng và
giáo điều mà là hành, tức là lễ nghi.
Tóm lại, theo quan điểm tơng đối nhất trí của các học giả tây phơng
phải tin, không qua suy xét, phân tích, vì vậy mà Phật giáo trớc sau vẫn
tuyên bố mình là một tôn giáo có tín điều.
II- đạo phật không có tín điều:
Phật giáo có một hệ nguyên lý triết học cơ bản, nhng Phật giáo không
có tín điều. Tín điều hiểu theo nghĩa là giáo lý phải đợc tuyệt đối chấp
nhận, không cần và không qua suy xét, lập luận. Phật giáo chống mê tín và
cuồng tín dới mọi hình thức. Chúng ta biết đức tín là một sức mạnh. Còn
cuồng tín là sức mạnh của kẻ điên, một sức mạnh phá hoại ghê gớm. Mê tín
cuồng tín dẫn tới hẹp hòi, cứng nhắc và tàn nhẫn, chúng có thể dẫn tới
xung đột và chiến tranh tôn giáo, dẫn tới các phiên toà tôn giáo và kết thúc
bằng cực hình thiêu sống, lăng trì, tùng xẻo, chặt đầu... Trong lịch sử nhân
loại có hàng triệu ngời tử vì đạo, nhng lại có một số ngời lớn hơn thế phải
chết vì tội không tin đạo. Thế nhng trong hơn 2500 năm Phật giáo tồn tại
không ghi nhận một chiến tranh truyền đạo nào cả. Điều này chứng tỏ sức
mạnh thuyết phục trái tim và khối óc của đạo Phật, không phải ở gơm giáo,
súng đạn mà đạo Phật cũng không thể bị khuất phục bằng gơm giáo, súng
đạn.
5
Có sử gia nói cuộc xâm lăng của đạo quân Hồi giáo vào thế kỷ XII đã
tiêu diệt đạo Phật ở ấn Độ. Không đúng nh vậy. Nguyên nhân cơ bản khiến
cho Phật giáo suy vong ở ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ XII là sự thoái hoá của
bản thân Tăng đoàn Phật giáo ở ấn Độ thời bấy giờ và có những nguyên
nhân phụ là sự phản kích của Bà-la-môn giáo và sự xâm lăng của các đạo
quân hồi giáo.
Đạo Phật đã xuất hiện ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ V trớc
Công Nguyên nh một tự trào cách mạng chống lại quyền uy tối thợng
lúc bấy giờ của đạo Bà-la-môn và đẳng cấp Bà-la-môn.
của khả năng tự vệ của con ngời. Chính bản năng tự vệ đó tha hoá mà thành
Đấng tạo thế. Con ngời cần tự vệ chống lại các lực lợng thù địch trong tự
nhiên và xã hội cho nên con ngời sáng tạo Đấng tạo thế cũng nh các vị thần
linh khác để cầu mong sự phù hộ, che chở (chúng ta nghĩ đến quan điểm
của Fơbach:" Thợng đế là sản phẩm tha hoá của con ngời").
Đồng thời, đạo Phật cũng bác bỏ khái niệm linh hồn nh là một biến tớng của bản năng tự tồn của con ngời. Con ngời vốn sợ chết. Con ngời vốn
cầu mong trờng sinh bất tử. Các tôn giáo đều biết đầu cơ bản năng tự tồn
đó của con ngời, cho nên đều khẳng định trong con ngời ngoài phần xác có
sinh diệt, còn có phần hồn bất tử. Sau khi ngời chết đi, linh hồn của ngời có
thể bay lên Thiên đàng sống mãi mãi với Chúa, hoặc sa xuống địa ngục
sống mãi mãi với quỷ.
Đạo Phật chủ trơng thuyết Vô ngã đối với mọi sự, mọi vật, kể cả con
ngời. Vô ngã nghĩa là không có chủ thể, vạn vật đều do nhân duyên hợp
thành. Nhân duyên hoà hợp thì gọi là sinh, nhân duyên ly tán thì gọi là diệt,
là chết. Chính vì lẽ đó mà mọi sự, mọi vật trong vũ trụ, từ cái lớn và có vẻ
vững chắc nh núi cao, biển rộng, sông dài đến những cái nhỏ nhiệm nhất,
tất cả đều biến động không ngừng, đều kinh qua các chu kỳ nối tiếp:
Thành, trụ, hoại, không. Mà sở dĩ nh vậy là vì thuyết nhân duyên, một
thuyết cơ bản của đạo Phật. Đạo Phật bác bỏ thuyết tự nhiên sinh, ngẫu
nhiên sinh cũng nh thuyết nhất nguyên sinh, dù cho cái nhất nguyên đó là
một Đấng tạo thế nhân cách hoá hay là một đại ngã theo kiểu Atman của
ấn Độ giáo. Thuyết nhân duyên sinh cũng gọi là thuyết nhân quả là một bớc tiến lớn so với bối cảnh t tởng đơng thời. Theo thuyết nhân duyên sinh,
mọi sự việc xảy ra trong xã hội và tự nhiên đều do quy luật nhân quả chi
phối chứ không phải do một Thợng đế nào an bài, cũng không phải do một
trò chơi nào của ngẫu nhiên. Đấy là quy luật hoàn thiện và công bằng nhất.
Quy luật này tác động đối với tự nhiên, xã hội cũng nh đối với cá nhân mỗi
ngời. Tuy nhiên vì cơ chế tác động của quy luật này vô cùng phức tạp, đặc
biệt trong lĩnh vực xã hội, trong khi đó thì sự hiểu biết của con ngời là có
hạn, cho nên có những sự việc xảy ra tựa hồ nh là phản quy luật, ngẫu
nhiên. Vì vậy cầu Trời, khấn Phật để thay đổi quy luật nhân quả là vô lý và
vạch ra và chỉ có thể vạch ra mà thôi. Còn chúng sinh phải tự mình đi lấy
đức Phật không đi thay chúng sinh đợc. Đức Phật nói trong kinh
Dhammapada (Pháp cú): Sai lầm hay tội ác đều do tự bản thân mình, rời
bỏ tội ác, trở nên trong sạch cũng là do tự bản thân mình. Trong sạch và
không trong sạch cũng đều do bản thân mình. Không ai có thể làm trong
sạch đợc ai cả.
Đạo Phật thờng đợc biểu trng nh ngón tay chỉ mặt trăng ,chân lý là
mặt trăng. Ngón tay là đạo Phật, là kinh sách. Nếu cho rằng đạo Phật là
chân lý thì sẽ không bao giờ thấu đạt chân lý.
Đạo Phật cũng đợc biểu trng bằng hình tợng chiếc bè đợc kết bằng cỏ
cây dùng để vợt qua những khúc sông rộng rồi sẽ đợc bỏ đi. Nh thế Phật
pháp mà chúng ta nơng tựa để vợt qua dòng sông sinh diệt đến bên bở bên
8
kia, đến cõi niết bàn chẳng phải là mục đích mà là một phơng tiện để đạt
đến mục đích. Nói theo cách nói ngày nay, chức năng của nó chỉ là chức
năng của một công cụ thuần tuý, cho nên chỉ có giá trị tơng đối mà thôi. Dĩ
nhiên, điều này không có nghĩa là Phật pháp không cần thiết. Khi đã an
toàn vợt qua đến bờ bên kia thì chiếc bè quả thực có thể bỏ đi, nhng chừng
nào chúng ta còn đang ở bên bờ này hoặc đang lặn ngụp giữa dòng sinh
diệt thì không thể thiếu một chiếc bè nh thế.
Trong kinh sách Phật cũng nhắc đến tám vạn bốn nghìn pháp môn.
Pháp môn là cửa pháp. ý nói có thể thấu đạt chân lý bằng 84.000 con đờng
khác nhau. Tất nhiên con số này chỉ dùng để biểu trng cho số nhiều mà
thôi.
Từ những điều nói trên, có thể rút ra hai kết luận rất quan trọng để
chúng ta có thể nắm đợc tinh thần, cốt tuỷ của đạo Phật.
1- Đức Phật không phải là Thợng đế cứu rỗi, xuống trần gian để
tuyên cáo chân lý bất di, bất dịch. Đức phật chỉ là một ông Thầy vạch ra
xảy ra từ những đẳng cấp khác, họ bèn suy tôn Veda là Thánh điển do
chính Phạm thiên nói ra. Nhng đức Phật nói rằng: Tất cả những gì mà
theo sự thể nghiệm trực tiếp của bản thân và sau khi suy nghĩ sâu sắc mà
thấy hợp với lý trí của bản thân, đem lại hạnh phúc hết thảy cho mình và
cho mọi ngời khác thì hãy thừa nhận những điều ấy là chân lý và sống theo
chân lý đó.
Tóm lại, đối với đạo Phật, tiêu chuẩn của chân lý không phải là sự
phù hợp với sách vở mà là sự phù hợp với lý trí, với kinh nghiệm của bản
thân và của những ngời khác. Nhờ quan điểm này mà đạo Phật không bị
lúng túng nh các tôn giáo khác, một khi các Thánh điển của họ ghi
những điều mà khoa học và thực nghiệm khách quan không chấp nhận đợc. VD: Nếu thánh điển ghi: Mặt trời xoay quanh trái đất, nhng quan sát và
thực nghiệm khoa học lại cho biết Trái đất xoay xung quanh mặt trời!.
Đạo Phật không bị những lúng túng nh vậy. Hơn nữa, các học giả phơng
Tây đều thừa nhận những phát hiện mới nhất của khoa học đều không mâu
thuẫn vơí những giáo lý căn bản của đạo Phật.
ý nghĩa cách mạng của việc đức Phật Thích- ca bác bỏ quyền uy tối
thợng của cái gọi là Thánh điển Veda chính là ở chỗ đó. Tức là khôi phục
và khẳng định giá trị của trí tuệ, của con ngời nhng việc bác bỏ quyền uy
tối thợng của Thánh điển Veda kèm theo hai hệ quả lớn nữa là:
1- Bác bỏ quyền uy xã hội tối thợng của đẳng cấp Bà-la-môn.
2- Bác bỏ tín ngỡng ở một đấng tạo thế sáng tạo và ngự trị muôn loài.
Đẳng cấp Bà-la-môn thâm thù đức Phật Thích ca là ở chỗ, do đức Phật bác
bỏ Thánh điển Veda và một cách tự nhiên, đức Phật cũng bác bỏ luôn
địa vị độc quyền của đẳng cấp Bà-la-môn trong việc giải thích sách Veda
và tổ chức tế đàn. Đức Phật nói ngời ta không phải do cha mẹ sinh mà
thành Bà-la-môn hay thành Thủ đà la. Mà chính do hoạt động của bản thân
mình mà trở thành một Bà-la-môn hay Thủ đà là. Ngời có địa vị cao nhất là
ngời có giới hạnh và trí tuệ đầy đủ, chứ không phải do xuất thân ở giai cấp
này hay giai cấp khác. Có ngời giải thích sự xuất hiện của đạo Phật nh là
một sự phản ứng đẳng cấp Sát-đế-ly (đẳng cấp vua chúa, tức là đẳng cấp
thật, và mọi điều khác là sai lầm.
Đối với học trò của mình, đức Phật cũng nói lại lời khuyên đó: Một
hôm, đức Phật giảng lý nhân quả, các học trò nghe và tha lại rằng họ đã
hiẻu rõ điều ấy, ngài liền nói:
Hỡi các tỳ-kheo, ngay cả điều ấy, minh bạch và rõ ràng nh thế, nhng
nếu các Thầy bám chặt vào nó, quý trọng nó, nếu các Thầy cất giữ nó, ràng
buộc nó thì tức là các Thầy không hiểu rằng giáo lý cũng nh chiếc bè, cốt
dùng qua sông, chứ không phải để ôm giữ lấy.
Đạo Phật không phải chỉ để nghiên cứu, học hỏi, quan trọng hơn nữa
là đạo để tu hành, thực nghiệm, thực chứng. Vì vậy, thực hiểu lầm đạo Phật
12
khi buộc tội đạo Phật là tiêu cực, bị động, thụ động. Đạo Phật coi trọng
hành, cho nên đạo Phật là đạo của hành động tích cực, lạc quan. Bản thân
đức Phật thờng ví ngời học rộng không tu hành nh một đoá hoa không có
mùi hơng.
Chính vì các lẽ trên mà đạo Phật là một tôn giáo đặt biệt, chống mọi
biểu hiện mê tín và cuồng tín, một tôn giáo của lòng thơng và trí tuệ, một
tôn giáo hớng tới hành động và thực chứng, một tôn giáo không tín điều và
giáo điều.
đạo Phật với câu:
"Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân".
Đạo Phật và Phật tử nên trả lời thế nào trớc câu thời danh: Tôn giáo
là thuốc phiện của nhân dân .
Theo tôi, trong kinh sách Phật đã chỉ dẫn sẵn cho chúng ta những câu
trả lời:
17
phẩm "chống Duyring", nhng cái mới của đạo Phật là thừa nhận quyết định
luận không những trong phạm vi tự nhiên, xã hội mà cả trong cuộc sống cá
nhân nữa.
Trong Bát chánh đạo, tức tám phép tu chân chánh, chúng ta cũng
không thấy một phép tu nào mang màu sắc thần bí, tám phép tu là:
1. Chánh tri kiến: tức có sự thấy biết đúng đắn về mọi vấn đề
cuộc sống.
2. Chánh t duy: tức suy nghĩ đúng đắn.
3. Chánh ngữ: tức nói năng đúng đắn.
4. Chánh nghiệp: tức hành động đúng đắn.
5. Chánh mạng: tức làm ăn sinh sống đúng đắn.
6. Chánh tinh tấn: tức siêng năng đúng đắn, bỏ điều ác, làm điều
lành.
7. Chánh niệm: nghĩ nhớ, chú ý đúng đắn vào điều hay lẽ phải.
8. Chánh định: tức tập trung t tởng đúng đắn.
Ngoài Bát chính đạo, đức Phật còn giảng thuyết Thất giác chi cũng gọi
là bảy yếu tố của sự giác ngộ. Bảy yếu tố cả sự giác ngộ theo thứ tự là:
1
1. Niệm: tức là nghĩ nhớ đúng đắn.
2. Trạch pháp: tức là nghiên cứu khảo sát suy xét nhận thức
đúng đắn.
3. Tinh tấn: tức là siêng năng đúng đắn.
2
4. Hỉ: tức là vui vẻ.
3
5. Khinh an: tức là thân tâm nhẹ nhàng, thoả mái.
4
tồn tại chỉ là một quá trình liên tục không ngứt đoạn của trở thành và diệt
vong.
Rất rõ ràng, quan điểm của đạo Phật và chủ nghĩa Mác về lẽ vô th ờng,
lẽ biến động của sự vật là nhất trí. Bây giờ chúng ta hãy xem cách giải
thích của hai bên và nhất là kết luận dẫn tới hành động thực tiễn của hai
bên khác nhau , hoạt động trong khung cảnh của một hiện tợng nhất định,
một sự vật nhất định.
Còn đạo Phật thì giải thích hiện tợng biến động của sự vật bằng lý nhân
duyên sinh. Vì tất cả mọi sự mọi vật đều do nhân duyên sinh, hoà hợp là
sinh, ly tán là diệt. Vì vậy vạn vật trong vũ trụ đều không ngớt trải qua các
chu kỳ: thành, trụ, hoại, không. Mọi sinh vật trong đó con ngời cũng vậy,
cũng là tớng hoà hợp của nhiều nhân duyên mà thành. Đạo Phật gọi là năm
uẩn, năm nhóm của sự sống. Tất cả đều vận động và biến đổi không ngừng.
Cần chú ý là đạo Phật bác bỏ thuyết linh hồn, nh một cái gì siêu vật
chất, thoát vật chất mà vẫn tồn tại đợc, cái thân vật chất chết đi, hoại đi nhng phần linh hồn vẫn tồn tại hoặc lên Thiên đàng vĩnh viễn hoặc xuống địa
ngục vĩnh viễn (theo đạo Gia-tô) hoặc đi đầu thai một nơi khác( theo ấn Độ
giáo) và chính ở đây là ranh giới phân biệt rõ Phật giáo và các tôn giáo
khác.
Thế thì đạo Phật có nói đại não sinh ra t tởng, ý niệm hay không?
Không, đạo Phật không nói nh vậy, bốn công thức của lý nhân duyên sinh
là:
-Cái này có mặt thì cái kia có mặt
-Cái này sinh ra thì cái kia sinh ra
-Cái này không có mặt thì cái kia không có mặt
-Cái này diệt thì cái kia diệt.
Riêng giữa tâm thức hay các tâm sinh lý khác thì đạo Phật không nói cái
này sinh ra cái kia hoặc ngợc lại, mà hai nhóm này nơng tựa nhau mà tồn
tại.
thực (ăn uống), thụy (ngủ). Đam mê năm dục là khổ vì đối tợng của năm
dục là vô thờng. Chính lòng đam mê năm dục trói buộc chúng ta vào bánh
xe sinh tử, luân hồi. Bởi vì có đam mê nên mới nắm lấy, vơ lấy, chúng ta
phải thi hành trăm phơng , nghìn kế: giết ngời, trộm cắp, tà dâm, nói dối,
nói ác Đạo Phật gọi đó là nghiệp, là karma. Nên hiểu karma là một hành
động có dụng ý, nó là một cái lực chi phối chúng ta, dắt dẫn chúng ta trong
cuộc sống hiện tại cũng nh trong cuộc sống sau này. Đây là thuyết mời hai
nhân duyên, một trong các thuyết cơ bản của đạo Phật , giải thích vòng
quay sinh tử luân hồi vô tận của tất cả các loài hữu tình, trong đó có con
ngời.
Vì trong năm dục, sắc dục là cái đáng sợ hơn cả, cho nên để trị sắc
dục, đạo Phật dạy các phép quán thụ: thụ là khổ, thân là không sạch. Tức là
mọi cảm thụ đều là đau khổ, hoặc là đau khổ trực tiếp hoặc là gây đau khổ
24
trong tơng lai. Quán thân không trong sạch tức là xem xét mọi thân thể đều
là nhơ bẩn, không đáng thèm muốn.
Nói tóm lại, theo đạo Phật , ngời chỉ là một tập hợp của năm uẩn, tức là
năm nhóm của sự sống. Các nhóm kể trên nơng tựa mà thành không có
nhóm nào tồn tại độc lập. Và cũng không có một chủ thể nào, một cái "ta"
nào thờng còn, bất biến đứng đằng sau năm nhóm cả, hoặc là tách rời năm
nhóm mà có đợc. Năm nhóm đó biến động, sinh diệt không ngừng không
khác nào một dòng chảy liên tục. Điều này không thấy rõ ở thân thể, tuy
rằng các tế bào luôn luôn bị đào thải và sinh nở mới. Nhng trên bình diện
tâm thức thì dòng ý niệm thay đổi trong nháy mắt, không bao giờ yên nghỉ
dù chỉ là một khoảng khắc. Decarter nói" Tôi suy nghĩ, cho nên tôi tồn
tại".
Phật nói: " ở đằng sau dòng ý niệm nối tiếp nhau không ngừng đó