Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
Mục lục
Lời nói đầu.
I. Khái quát về Nho Giáo nói chung.
1. Khái niệm Nho Giáo.
2. Quá trình hình thành và phát triển của Nho Giáo.
a) Nho Giáo nguyên thuỷ.
b) Hán Nho.
c) Tống Nho.
3. Giáo lý của Nho Giáo
1. Tứ thư.
2. Ngũ kinh.
II. Sự du nhập và phát triển của Nho Giáo ở Việt Nam.
III. Vai trò của Nho Giáo trong văn hoá Việt Nam . `
1. Đóng góp về mặt hữu thế.
a) Cơ sở tạo dựng công trình, kiến trúc mỹ thuật như đình, chùa, thể
hiện trong kiến trúc của Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
b) Ảnh hưởng của Nho Giáo trong trang phục Việt Nam, đặc biệt là
trang phục vua chúa.
2. Đóng góp về mặt vô thể
a) Vai trò của Nho Giáo trong tư tưởng của người dân Việt Nam.
+ Nho Giáo và gia đình.
+ Nho Giáo và mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội (ngũ luân).
+ Nho Giáo và những phẩm chất cơ bản của con người (ngũ
thường).
b) Vai trò của Nho Giáo trong ngôn ngữ.
c) Vai trò của Nho Giáo trong văn học, nghệ thuật.
IV. Mặt ảnh hưởng tiêu cực của Nho Giáo tới văn hoá Việt Nam.
V. Kết luận
Võ Nam Thanh 1
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
chăng những thành công của việc vận dụng Nho giáo ở nhiều nước phương
Đông cũng đang trở thành những bài học quý giá đối với mọi người hôm nay?
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và mở cửa, Việt Nam đã từng
tuyên bố muốn làm bạn với tất cả cỏc nước, được cổ vũ bởi tư tưởng Nho giáo
coi “bốn bể đều là anh em”, và lấy tinh thần khoan dung để đối xử với mọi
người.
Võ Nam Thanh 2
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
I. KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO NÓI CHUNG.
1. Khái niệm Nho Giáo.
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý
và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị.
2. Quá trình hình thành và phát triển của Nho Giáo.
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu là thời
kỳ loạn lạc. Lúc đó, Trung Quốc bị xé nhỏ thành hàng trăm tiểu quốc, tranh
giành quyền lực với nhau, mà chủ yếu là “phong trào Ngũ bá” giữa Tấn, Tần,
Tống, Tề, Sở. Đây cũng là thời kỳ ở Trung Quốc mở ra cảnh xương phơi trắng
đồng, chết chóc bi thương.Trước hoàn cảnh đó, một câu hỏi lịch sử được đặt ra
cho thời kỳ này, đó là: Làm thế nào để
ổn định xã hội? Nhằm cứu vãn trật tự xã
hội, Khổng Tử (sinh năm 551, trước
công nguyên) dựa trên các tư tưởng của
Chu Công xác lập nên Nho Giáo, xác lập
lại trật tự xã hội có đẳng cấp, đặt con
người vào các giai tầng khác nhau chặt
chẽ, để tôn vinh và khẳng định địa vị của
giai cấp thống trị. Chính vì thế mà người
đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho
giáo.
b. Hán Nho.
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế
đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước
về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế
độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được
gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao
quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy
"pháp trị".
c. Tống Nho.
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với
Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách
gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Tống nho,
với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở
Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là
"Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt
của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy
từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào
tạo quan lại và cai trị.
3.Giáo lý.
Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo
nguyên thủy. Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư. Hệ thống kinh
điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết
về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về
đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia.
a. Ngũ kinh.
1. Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử,
nói nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo
dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh, cách thức diễn đạt rõ ràng và
trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả
lời "chưa". Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao"
trên lời dạy của ông soạn ra (Đại học = sự học lớn).
3. Trung Dung: dạy người ta cách sống dung hòa, không thiên
lệch. Sách này do người cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng
Tử, còn gọi là Tử Tư soạn ra (Trung = ý muốn nói cái Tâm không lệch bên này
hay bên kia, Dung = có nghĩa dung dưỡng, giữ mãi ở mức như vậy).
4. Mạnh Tử: ghi lại lời dạy của Mạnh Tử. Mạnh Tử tên thật là Mạnh
Kha, là người tiêu biểu nhất sau Khổng Tử, phát triển tư tưởng của Khổng Tử ở thời
Chiến Quốc (390-305 trước công nguyên).
II. SỰ DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHO
GIÁO Ở VIỆT NAM.
Võ Nam Thanh 5
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
Tìm hiểu đặc trưng của quá trình du nhập và phát triển Nho giáo ở Việt
Nam là một vấn đề vừa có ý nghĩa lịch sử, vừa có ý nghĩa hiện tại. Bởi vì nếu
làm sáng tỏ vấn đề này thì mới có điều kiện phân biệt Nho giáo ở Việt Nam với
Nho giáo ở các nước Á – Đông khác, mới hiểu thêm được những nét riêng của
con người Việt Nam trong quá khứ, qua đó có thể biết được khả năng hiện tại và
triển vọng tương lai của họ. Vì con người xét về mặt phát triển trong thời gian
thì ở bất kỳ một điểm nào đó, nó đều là kết quả của quá khứ và là mầm mống
của tương lai.
Nho giáo là học thuyết triết học và chính trị - xã hội của Trung Quốc, ra
đời ở thế kỷ VI trước Công nguyên và lần lượt được truyền sang các nước Á –
Đông khác. Ở Triều Tiên lần đầu thế kỷ I sau Công nguyên, ở Nhật Bản là thế
kỷ V sau Công nguyên. Ở Việt Nam là vào khoảng trước sau Công nguyên. Như
vậy, Nho giáo truyền sang Việt Nam là tương đối sớm.
Hoàn cảnh du nhập của Nho giáo ở Việt Nam có khác với các nước khác.
Nếu với Nhật Bản sự du nhập là gián tiếp, từ Triều Tiên truyền sang và sau đó là
sự tiếp thu trực tiếp, các lưu học sinh Nhật Bản sang Trung Quốc học Nho học
và truyền bá, lúc đầu mang tính áp đặt. Người Hán xâm lược Việt Nam, đưa
Nho học vào để tăng cường sự thống trị. Vì vậy, thái độ đầu tiên của người Việt
“Tứ đoan, thất tình lý khí chi tranh”, cho “Tứ đoan” (nhân, nghĩa, lễ, trí) là do
“lý” sinh ra, “thất tình” (yêu, ghét, mừng, giận dữ, vui, buồn, dục vọng) là do
“khí” sinh ra, nếu như ở Nhật Bản có các phái chịu chủ trương lý khí hợp nhất,
có phái cho lý có trước khí, có phái thừa nhận lý nguyên, thì ở Việt Nam không
có các hiện tượng đó.
Nói về Tống Nho thì có các nhân vật tiêu biểu như Châu Đôn Di (thế kỷ
X – XI) người khởi xướng ra Lý học, Nhị Trình (Trình Hạo và Trình Di) là
những người đặt cơ sở cho Lý học và Chu Hy là người tập đại thành của Lý học.
Trong hệ thống Tống Nho ở Trung Quốc thì Chu Hy là người quan trọng hơn cả.
Ở Triều Tiên và Nhật Bản, Chu Hy cũng đứng ở vị trí hàng đầu. Ở hai nước này
đều có phái “Chu tử học”. Còn ở Việt Nam thì vai trò của Nhị Trình lớn hơn vai
trò của Chu Hy. Người Việt Nam quen nói đạo Nho là đạo “Cửa khổng sân
trình”, gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà Nho Việt Nam lớn nhất ở TK XVI là
“Trạng Trình” (có nghĩa là gốc từ học thuật của hai anh em họ Trình). Ngay một
sử gia Trung Quốc cũng nói: “An lý học hữu Trình tuyền” (tiêu biểu cho lý học
ở Việt Nam là từ suối Trình mà ra). Cách nhận định này có lý do của nó. Người
Việt Nam nói nhiều tới “lý”, “thiên lý”, là những khái niệm do Nhị Trình đặt cơ
sở ít nói đến mối quan hệ “lý – khí”, mối quan hệ mà Chu Hy thường đề cập.
Nho chỉ là một học thuyết, bản thân nó không thể hiện lên lập trường triết
học nào. Trong các giai đoạn phát triển của Nho học Trung Quốc, thời kỳ nào
cũng có các nhà duy vật và duy tâm khác nhau, đối lập nhau trên vấn đề cơ bản
của triết học. Thời trước Tần, bên cạnh Mạnh Tử là nhà duy tâm thì có Tuân Tử
là nhà duy vật. Thời Hán, bên cạnh Đổng Trọng Thư là nhà duy tâm thời có
Vương Sung là nhà duy vật; thời Tống, bên cạnh Nhị Trình, Chu Hy là những
nhà duy tâm thì có các nhà duy vật là Trương Tải, Vương Đình Tướng. Ở Việt
Nam thì hiện tượng đó không rõ. Thường là chỉ tiếp thu tư tưởng của các nhà
Nho duy tâm. Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư, Nhị Trình,… là những nhà Nho duy
tâm có vai trò rất lớn trong lịch sử Nho học ở Việt Nam.
Nho học là từ Trung Quốc truyền vào Việt Nam, vì vậy có người cho rằng
Nho học không phải là của Việt Nam, Nho học là cái “ngoại sinh”,Nho học
xã hội quan. Nó chú ý đến các tác phẩm kinh điển nào của nhà Nho nói nhiều về
nhân sinh quan, về đạo đức. Nó chú trọng đến các tác phẩm trong “Tứ thư”
(Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung), “trung kinh”, “Hiếu kinh” hơn là
các tác phẩm “Kinh dịch”, “Kinh Xuân Thu”, những tác phẩm bàn nhiều đến sự
vận động của thế giới, xã hội và con người. Sự chú ý cũng có sớm muộn khác
nhau. “Tứ thư” thì ngay từ thế kỷ XIV đã được giảng giải. Chu Văn An ở thế kỷ
này đã có cuốn “Tứ thư thuật ước”, còn về “Kinh dịch”, “Kinh Xuân Thu” thì
mãi đến thế kỷ XVIII mới được bàn bạc. Thế kỷ XVIII mới xuất hiện cuốn
“Dịch kinh phu thuyết” của Lê Quý Đôn, “Dịch nghĩa tồn nghi” của Nguyễn
Nhạc, “Xuân thu quản kiến” của Ngô Thì Nhậm,…Sự chậm trễ này có lẽ là do
nhu cầu của quần chúng cần cái gì thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống hàng
ngày của họ hơn.
Nho học không phải là một học thuyết toàn diện, nó không đáp ứng được
mọi mặt yêu cầu của con người trong xã hội phong kiến phương Đông. Mặt
thiếu của nó thường được Phật, Lão bổ sung. Từ đó tạo nên lý thuyết “Tam giáo
nhất nguyên”. Hiện tượng này ở Nho học Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản
đều có. Nhưng ở các nước trên để xác lập nên cục diện “nhất nguyên”, đã trải
qua một quá trình đấu tranh rồi mới tiến dung hợp. Còn ở Việt Nam thì từ đầu
đã xuất hiện sự dung hợp. Ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, ở cuối thế kỷ II đầu thế kỷ
III, Mâu Bác đã nêu lên sự cần thiết phải dung hợp ba đạo trong tác phẩm “Lý
hoặc luận”. Đến thời kỳ độc lập thì hầu như triều đại nào cũng nói đến nhu cầu
dung hợp. Đặc biệt là ở các triều đại Lý, Trần (thế kỷ XI, XII, XIII) và Triều Lê
- Trịnh (thế kỷ XVIII), lý thuyết về dung hợp trình bày rất rõ rệt. Tuy rằng ở
Việt Nam có lúc Nho học phê phán Phật giáo như ở thế kỷ XIV và cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX, nhưng đó chỉ là phê phán vai trò xã hội của Phật giáo,
Võ Nam Thanh 8
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
chứ không phải là vạch ra những hạn chế về mặt lý thuyết của nó, và đó cũng là
hiện tượng tạm thời. Không lâu, khi vai trò thống trị của Nho học được xác lập
thì hiện tượng phê phán trên cũng theo đó mà mất đi. Một điều đáng chú ý là
như vậy. Lúc bấy giờ ở Trung Quốc không có một trào lưu tư tưởng nào như
thế. Có chăng chỉ đến cuối thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII trong phong trào
“thực học” của Trung Quốc mới xuất hiện hiện tượng tương tự. Đó chỉ là sản
phảm độc đáo của Hồ Quý Ly, một con người Việt Nam cuối thế kỷ XIV dám
nhìn vào thực tế, dám phát biểu ý kiến riêng của mình.
III. VAI TRÒ CỦA NHO GIÁO TRONG VĂN
HOÁ VIỆT NAM .
1. Đóng góp về mặt hữu thể.
Võ Nam Thanh 9
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
a)Cơ sở để tạo dựng công trình kiến trúc mỹ thuật như đình, chùa,
thể hiện kiến trúc cùa Văn miếu – Quốc tử giám.
Nho giáo vận dụng thuật Phong thủy, Ngũ hành để tạo dựng công trình
kiến trúc. Trải qua mấy ngàn năm bồi đắp, tích lũy, từ Cổ Loa huyền thoại đến
Hoa Lư, Thăng Long-Đông Đô và cuối cùng là Phú Xuân-Huế, kỹ thuật xây
dựng thành trì cung điện đã không ngừng được tích lũy, bồi đắp để rồi nâng lên
thành một nghệ thuật. Để hiểu sâu hơn, chúng ta hãy nghiên cứu về kiến trúc
của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, một điển hình của sự ảnh hưởng Nho Giáo
trong kiến trúc mỹ thuật.
Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 đến 1076 (thời Lý) mở rộng và
xây dựng thêm nhà Quốc Tử Giám ở phía sau. Đó là nơi học tập của các hoàng
tử và những học trò giỏi được chọn lọc trên khắp cả nước. Quần thể kiến trúc
được quy tụ trong một khuôn viên rộng rãi với năm khu chính nối tiếp nhau chủ
yếu trên trục dọc: từ Văn Miếu môn đến Đại Trung môn, Khuê Văn các, Thiên
Quang tỉnh, Vườn bia, khu Đại Thành điện, Đại Bái đường, Hậu cung và khu
nhà Thái học.
Có thể nói, kiến trúc Văn Miếu
- Quốc Tử Giám là một khu di
tích đặc biệt của thủ đô Hà Nội,
được bao quanh bởi những viên
mặt hồ Thiên Quang tỉnh (Giếng trời trong sáng). Gương nước lớn có khả năng
soi bóng hình ảnh tuyệt đẹp của Khuê Văn các, chính là cách tiếp cận Văn Miếu
- Quốc Tử Giám dưới tính đa diện và sự phân tích nguồn gốc căn nguyên của
nguyên tắc hình thể: “Gương nước” ở giữa phản chiếu ánh sáng bầu trời, là sự
hàm ý thu nhận văn hóa khai thác để khống chế ánh sáng của trời nhằm phục vụ
cho đạo học của con người. Nằm ở giữa trung tâm khu Văn Miếu, tấm gương
nước có thể soi bóng tổng thể công trình kiến trúc với hiệu quả thẩm mĩ cao
nhất, bộc lộc một nét đẹp độc đáo của kiến trúc hòa quyện với trời mây trong
sáng. Khuê Văn các, Đại Thành môn, Vườn bia… đều in hình trong đó như
thách thức với thời gian, như gợi mời những nhân tài đất Việt tạo thêm nét
duyên dáng vốn có của kiến trúc Văn Miếu.
Người xưa đã xây dựng công trình Văn Miếu - Quốc Tử Giám thuận theo
lẽ âm - dương - trời - đất và tự khẳng định chính là nơi hội tụ nhân tài, là một
quần thể kiến trúc độc đáo nơi địa linh nhân kiệt. Khởi nguồn từ địa thế: (đứng
trên cao) mở rộng tầm nhìn ra 4 phương 8 hướng, từ ci hư vô suy xét khai thác
ánh sáng vẻ đẹp của trời đất mà phục vụ cho sự học của con người - học làm
người, tinh luyện văn hóa vật chất mà gây dựng văn hóa tinh thần nhằm tiến tới
thành tựu tuyệt diệu cuối cùng của sự tu luyện học vấn một cách đạt thành.
Ý nghĩa của công trình Khuê Văn các và các mối quan hệ với Thiên
Quang tỉnh và Đại Thành môn đã thuận theo quan điểm tứ trụ, không nằm ngoài
ý nghĩa hướng đạo người quân tử. Con người phải đem trí tuệ để hài hòa thiên -
địa - nhân, đem tri thức để giúp đời mới là người có tri thức. Tư tưởng Nho giáo
do Khổng tử tập hợp những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức mà cái phép lớn
nhất là phép ứng xử: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Các khoa thi, các vị Tiến sĩ của
nền giáo dục xưa được ghi danh lại nơi những văn bia; những câu đối, những
mô típ trang trí không chỉ đơn thuần làm đẹp mà còn là sự nhắc nhở những điều
hay lẽ phải. Tất cả đều là đạo đức cổ nhân. Vườn bia có 82 bia nằm thành hai
dãy cân đối hai bên Thiền Quang tỉnh, với lối kiến trúc thấp, giản dị nhưng lại
hài hòa với tổng thể. Việc chạm khắc trên bia là một công trình nghệ thuật đặc
sắc. Trán bia cong thường có hình hai rồng chầu mặt nguyệt, rồng được cách
lễ, hai cánh nhà phụ Tả Vu và Hữu Vu nằm ngay cạnh sân Đại bái. Phía sau là
Thượng điện - nơi thờ Khổng tử và các bậc hiền triết Nho giáo. Các gian nhà
chuông, nhà trống gợi không khí trường thi kết hợp với những cây cổ thụ cổ
kính tạo cho tổng thể kiến trúc một phối cảnh hài hòa tuyệt vời, mang đậm tính
nhân văn, yếu tố triết lý và những thâm ý mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Việt.
Tòa Phương đình nối tiếp Bái đường với Thượng điện. Phía sau Đại
Thành điện có cổng đi vào khu Thái học, với cấu trúc gần giống Đại Thành môn
nhưng quy mô nhỏ hơn. Đây được gọi là khu Quốc Tử Giám, từ thời Lê là nơi
giảng dạy và học tập dành cho các Thái tử. Đến đời Nguyễn, Quốc Tử Giám
chuyển vào Huế và là nơi thờ các vị phụ mẫu của Khổng tử gọi là đền Khải
Thánh. Năm 1946 bị thực dân Pháp đốt phá nhưng đến nay được trùng tu, tôn
tạo lại theo phong cách truyền thống.
Giá trị thẩm mỹ của kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ được
tạo bởi không gian kiến trúc đột phá nhưng lại hòa quyện với không gian xung
quanh nó mà hơn nữa là sự kết hợp hài hòa giữa đạo và đời, là thành phẩm của
công trình kiến trúc vĩnh cửu trước thời gian. Đó là một hệ thống văn hóa tinh
thần bao quanh kiến trúc, là sự kết hợp trọn vẹn của văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần.
Bên cạnh đó, biểu hiện rõ nhất của Nho Giáo ở Việt nam được thể hiện
trong kiến trúc đình làng. Đình làng xưa kia vốn được xem là đại diện của chính
quyền phong kiến, một dạng thức tiểu triều đình với những định chế Nho giáo
khắt khe ở làng xã Việt Nam. Hình thức kiến trúc này phát triển và thịnh hành
Võ Nam Thanh 12
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
vào thời Lê (thế kỷ XVI – XIX), khi đạo Nho ở giai đoạn hưng vượng nhất. Có
một nghịch lý là nơi này thường cấm phụ nữ bén mảng đến, nhưng hình tượng
của những người phụ nữ lại được khắc tạc một cách thừa thãi và táo bạo trên
hầu khắp các thành phần kiến trúc.
Người ta có thể nhìn thấy ở đấy muôn mặt cuộc sống đời thường và cuộc
nhiên, hoặc do sở thích của các hiệp thợ tùy tiện mà muốn chạm khắc thế nào
cũng được. Vốn là nơi thờ tự tôn nghiêm, do vậy các chạm khắc ở đây phải thể
hiện được lý tưởng, khát vọng của cả cộng đồng. Với sự thực dụng của người
Việt nền văn hoá Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử phát triển của mình
thường mang giá trị cộng nhập hơn là bài xích các yếu tố văn hóa ngoại lai. Nó
luôn tìm được những yếu tố tương đồng để dung hợp lẫn nhau. Do vậy, hình ảnh
của các cô gái, nàng tiên trong đình làng ở đây hoàn toàn mang một giá trị khác.
Họ được xem là biểu tượng đại diện cho tín ngưỡng phồn thực - một tín ngưỡng
Võ Nam Thanh 13
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
tối cổ của người Việt hơn là quan niệm giáo điều khắt khe của Nho giáo. Tuy
nhiên điều thú vị là tín ngưỡng phồn thực đó trong giai đoạn Nho giáo thịnh
hành đã tìm được một giá trị hoà nhập với lý tưởng đông con nhiều cháu và
quan niệm về phúc, thọ. Các lý thuyết của Nho gia về gia đình dòng tộc, về sự
nối dõi tông đường đã trở thành ước vọng của xã hội phong kiến xưa, và thậm
chí còn tiếp tục được phát triển duy trì trong xã hội hiện nay. Do vậy để diễn đạt
ước vọng này, người ta đã hình tượng hóa những người đàn bà để đưa lên các
chạm khắc. Thậm chí nếu có đưa vào đó cả những hình ảnh khoả thân - hình ảnh
trái ngược hoàn toàn với chữ “công dung ngôn hạnh” của phụ nữ trong Nho
giáo. Và đương nhiên để khởi sự cho các hình tượng táo bạo đó, dân gian lại bắt
đầu từ các truyền thuyết về “Con rồng cháu tiên” với những hoạt cảnh: “Tiên
cưỡi rồng”, rồi theo đó những hình tượng người phụ nữ tràn vào đình làng như
một biểu tượng không thể thay thế cho sự sinh sôi phát triển. Người ta tìm thấy
rất ít các biểu tượng khoả thân nữ trong đình làng thế kỷ XVI, kể cả trên hình
tượng của các cô tiên. Nhưng chỉ sang thế kỷ XVII, khi nghệ thuật điêu khắc
đình làng phát triển đạt đến đỉnh cao mới, các hình tượng khoả thân đó mới xuất
hiện một cách phong phú.
Về biểu tượng tiên cưỡi rồng – phượng, có lẽ không phải đợi đến khi có lý
thuyết về Nho giáo mới tràn ngập đình làng. Ban đầu nó đã hiện hữu khá đa
dạng trong các kiến trúc chùa Việt, như các chạm khắc ở chùa Thái Lạc là một
nghi lễ như “nừ nường” trong lễ hội đầu năm ở Phú Thọ. Trò diễn này thường
được diễn ra vào lúc nửa đêm sau khi cụ chủ tế khấn và lui ra, từng đôi nam nữ
bước vào chiếu, Nam cầm dùi gỗ tượng trưng cho sinh thực khí nam, Nữ cầm
vật biểu tượng sinh thực khí nữ vừa múa vừa biểu hiện hành động tính giao cấu,
sau mỗi tiếng trống, hai vật này lại được lồng vào nhau một lần. Ngoài ra, người
ta còn để thóc lúa giống dưới gầm giường của các đôi vợ chồng mới cưới, để
mong rằng những hạt lúa gạo học theo, bắt chước hành động của con người mà
sinh sôi nảy nở. Từ những trò diễn trong những phong tục, tập quán của người
Việt, thì việc xuất hiện của các biểu tượng trên trong các chạm khắc ở chốn linh
thiêng đình làng chỉ là một cách lưu giữ hình ảnh về những phong tục mà thôi.
Chúng thể hiện một niềm tin rằng quanh năm các thần linh sẽ chứng giám mà
phù hộ cho mùa màng tươi tốt và bội thu đem lại sự no ấm cho dân làng.
Một bức khác rất dễ nhận thấy là bức chạm lễ hội ở đình Ngọc Canh
(Vĩnh Phúc). Trong khung cảnh nhộn nhịp, nép vào một góc của cốn xà nách là
một đôi trai gái đang đạt đến cực điểm khoái lạc. Có lẽ bức chạm khắc này đã
mô tả sinh động nhất hiện tượng tháo khoán ở các lễ hội. Như hiện tượng “tắt
đèn” trong lễ hội làng La Cả (Hà Tây), hay trò chơi “bắt trạch trong chum”
(Vĩnh Phúc). Bình thường, trong sự hạn định của giáo lý Nho giáo với phụ nữ
phải đặt chữ tiết nghĩa lên hàng đầu trong xã hội phong kiến. Nên con gái chửa
hoang thường phải chịu phạt vạ ở giữa đình làng, gọt đầu bôi vôi, thậm chí thả
trôi sông. Điều này cũng tìm thấy trên một hoạt cảnh gần như tương phản của
chính ngôi đình được xem là có nhiều các cảnh hoan lạc nhất – Đình Phự Lóo đã
được nhắc đến ở trên. Cảnh phạt vạ một cô gái chửa hoang khiến người ta phải
rùng mình về thân phận thực tế của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.
Hoạt cảnh này cũng cho thấy, cái khuôn khổ của Nho giáo vẫn là cái khung
chính của các định lệ của đình làng và nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên trong
tính mềm dẻo của văn hóa Việt, thì những cô gái sau những lần tháo khoán như
vậy mà có chửa, lại là điềm may mắn của cả làng. Các đứa trẻ đó theo quan
niệm của người dân lại là những đứa con do thần linh ban tặng. (Và tất nhiên
quan niệm này sẽ còn có giá trị gỡ rối cho các cô gái “chót dại” vào các khoảng
thế vật dụng hàng ngày của vua, con của Trời,
người có quyền lực cao nhất thường mang hình
ảnh của những con vật này. Điều đó thể hiện ngay
trong cả tên gọi những vật mà vua chúa sử dụng:
long bào (áo vua), long sàng (giường vua), …
Đặc biệt, các y phục của vua quan là nền
vải đều dệt và thêu các hoa văn với nhiều ý nghĩa
tượng trưng khác nhau, trong đó trang trí phổ biến
là:
a. Long (con rồng): độc tôn của nhà vua,
tượng trưng cho vương quyền. Trong
trang trí, nó có thể biểu hiện nguyên
con hoặc có lúc cách điệu như rồng hóa
mây, rồng ổ, cửu long
b. Lân (kỳ lân): con vật biểu tượng cho sự tôn trọng với tư cách giám sát
sự trung thành của các quan lại đối với nhà vua.
c. Phụng (phượng hoàng): tượng trưng cho sự giàu đẹp, thịnh vượng. Nó
thường gắn với nữ giới.
d. Quy (con rùa): biểu tượng của sự trường tồn và bền vững.
e. Bát bửu: là những đồ quý tượng trưng cho nhiều ý nghĩa khác nhau
như hạnh phúc, giàu có, sức khỏe hoặc sự cầu mong mọi sự tốt đẹp.
Nhìn trên phương diện mỹ thuật mỗi một bộ trang phục chính là các tác
phẩm nghệ thuật. Đó là sự kết hợp của nghệ thuật may thêu, hội họa với nền kim
Võ Nam Thanh 16
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
hoàn. Phong cách trang trí từ các họa tiết rồng mây đến hồi văn thủy ba, chữ
thọ Những mô tuýp ấy đã xuất hiện rất nhiều trong trang trí cung đình Huế
trên các chất liệu gỗ, đồng, vôi vữa, gốm sứ cũng như việc trang trí trên các
chất liệu khác, trang trí trên vải cũng có sự chuyển qua từng thời đại và mỗi giai
đoạn lịch sử đã để lại những dấu ấn khó phai mờ trên các tác phẩm ấy. Trên ý
chung và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa
các mối quan hệ xã hội. Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người
cá nhân, một cái tôi tách khỏi xã hội. Chính việc nhìn nhận con người trong các
mối quan hệ xã hội đó giúp Nho giáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội.
Theo quan niệm Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi
năm mối quan hệ tự nhiên. Đó là quan hệ cha - con, vợ - chồng, anh - em, vua -
tôi, bạn - bè. Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là
quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia
Võ Nam Thanh 17
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ
xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan
hệ đó là những yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải
thực hiện.
Tương ứng với mỗi quan hệ, Nho giáo đặt ra những yêu cầu mang tính
quy phạm đạo đức và được pháp luật ngầm bảo trợ. Tất cả những mối quan hệ
trên và các phương thức ứng xử hội tương ứng với nó, theo Nho giáo, là cái trời
đã định sẵn cho con người. Đã là gia đình thì phải có vợ - chồng, cha - con, anh
- em. Trong gia đình thì vợ - chồng phải hòa thuận, phu xướng thì vợ phải tùy, là
cha - con thì cha phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm
gương cho con cái học tập. Ngược lại, phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn
sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ. Đã là anh em thì
phải biết đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, là anh chị thì phải biết nhường
nhịn, thương yêu, là em thì phải biết nghe lời và lễ phép với anh chị. Trong quan
hệ xã hội, Nho giáo đòi hỏi trước hết phải có lòng trung thành trong quan hệ vua
tôi và trên dưới. Người dưới phục vụ người trên phải lấy chữ trung làm đầu. Kẻ
trên đối xử với kẻ dưới phải lấy chữ nhân làm đầu, phải biết giữ lễ và phải có
lòng tín thật. Xét chung trong mọi mối quan hệ, Nho giáo yêu cầu mỗi cá nhân
phải lấy mình làm mốc mà yêu cầu đối với người. Cái gì mình muốn thì cũng
làm hết lòng cho người khác và ngược lại, cái gì mình ghét thì cũng đừng đem
giữ gìn và tuân theo lễ, bởi cho rằng, chỉ có lễ con người mới trở thành con
người trong xã hội: "Chim anh vũ có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài chim,
con tinh tinh có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài cầm thú. Làm người mà không
có lễ thì tuy biết nói đấy nhưng có khác gì loài cầm thú? Chỉ có loài cầm thú là
không có lễ, cho nên cha con ở lẫn lộn với nhau. Vì vậy việc làm của bậc thánh
nhân là lấy lễ dạy người khiến người ta ai cũng biết lễ để tự phân biệt mình với
cầm thú" (Kinh Lễ, Khúc lễ thượng). Nhờ có lễ, con người mới có thể biết được
như thế nào là có hiếu với cha mẹ, là kính với người trên, là từ đễ với anh em
thân thích, là bạn hiền của bằng hữu, là nhân với người chung quanh, là tín thực
với thân thuộc. Theo lễ, người con có hiếu và biết lễ phép thì "Khi ở trước mặt
cha mẹ ruột hoặc cha mẹ chồng, nếu có lệnh phải vâng dạ kính cẩn, tiến thoái
phải chu toàn thận trọng, lên xuống ra vào phải cung kính, không dám ho hoẹ,
đằng hắng hay ngáp dài, không được đứng dựa nghiêng ngả liếc ngang liếc
dọc, không dám phun nước bọt chùi nước mũi… Nếu như cha mẹ có lỗi lầm gì,
mình vẫn phải vui vẻ hoà nhã dùng lời nói ôn hoà mà can gián. Nếu can mà
(cha mẹ) không nghe lại càng phải giữ thái độ hoà nhã cung kính hơn, đợi cha
mẹ nguôi ngoai rồi lại can gián. Nếu cha mẹ không nghe để đến nổi phạm lỗi
lầm có tội với bạn bè hàng xóm, ta vẫn phải ôn hòa khuyên can. Nếu cha mẹ
nóng giận đánh ta đến chảy máu, ta vẫn không dám giận oán mà vẫn phải kính
trọng hiếu thuận với cha mẹ" (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 2). Ngược lại, ngay từ
khi con cái đến tuổi biết ăn cơm, cha mẹ "cần thiết phải dạy nó biết sử dụng tay
phải, con trai phải biết thưa dạ, con gái phải biết nhu hòa… Khi con lên sáu
tuổi, hãy dạy chúng về số học và đếm số… Tám tuổi, dạy chúng khi ra vào hay
khi ngồi vào bàn ăn, nhất nhất phải theo sau bậc trưởng thượng, bắt đầu dạy
cho chúng biết nhường nhịn Mười tuổi, cho ra ngoài học thêm sách vở khác…
bắt đầu hướng dẫn chúng về lễ, sớm tối tuân theo nghi thức của trẻ nhỏ… Hai
mươi tuổi là làm lễ đội mũ, bắt đầu học lễ… dạy chúng thuần hậu về hiếu lễ"
(Kinh Lễ, Chương XII, tiết 3). Nho giáo khẳng định, nếu xây dựng được một gia
đình hoà thuận, con cái biết hiếu đễ cha mẹ biết từ nhượng thì đó cũng là làm
chính trị rồi. Bởi nước cũng chỉ là một cái nhà to. Các căn nhà nhỏ - gia đình mà
quan hệ xã hội. Trước hết, là 5 mối quan hệ gọi là Ngũ luân: Vua tôi, cha con,
chồng vợ, anh em, bạn bè.
Những nước châu Á theo Nho giáo đã khai thác những quan điểm trong
Ngũ luân để nâng cao tình cảm và trách nhiệm của mỗi con người đối với gia
đình, đối với xí nghiệp, đối với nơi công tác, đối với tổ quốc và xã hội. Sự khai
thác Nho giáo như thế đã có tác dụng lớn là nâng cao tình cảm và ý chí của mọi
người trên cương vị và trách nhiệm cụ thể của mình.
Nhưng những nhu cầu về quyền tự do của cá nhân và đời sống riêng tư,
về ý thức dân chủ của con người đang trở thành những vấn đề mà chúng tôi nghĩ
rằng các nước theo Nho giáo cần vượt qua quan hệ Ngũ luân để giải quyết. Ở
Việt Nam, sự nghiệp cách mạng đưa con người vượt ra khỏi phạm vi của gia
đình để cùng lo lắng chung đến công việc của tổ quốc, với nhiều tình cảm rộng
lớn đối với cả nhân loại bị áp bức. Qua hai cuộc kháng chiến , nhân dân Việt
Nam đó đặt lợi ích của tổ quốc lên trên hết, sẳn sàng hy sinh cả tính mạng và
hạnh phúc. Nhưng con người vẫn là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động xã
hội, của mỗi tập thể cũng như của mỗi cá nhân. Quan hệ giữa người và người ở
Việt Nam không thể chỉ giới hạn trong Ngũ luân. Vấn đề của chúng ta là xây
dựng mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội. “Một người lo cho tất cả,
tất cả lo cho một người”. Câu nói đó vẫn là mục tiêu phấn đấu trên con đường
xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.
Nho Giáo và những phẩm chất cơ bản của con người (ngũ
thường).
Võ Nam Thanh 20
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
Ngũ thường trong Nho giáo bao gồm 5 đức hạnh nhằm phục vụ 5 mối
quan hệ là Ngũ luân. Ngũ luân và Ngũ thường gọi tắt là Luân thường, đó là lý
tưởng đạo đức của người theo Nho giáo. Ngày nay, lý tưởng đạo đức của nhân
dân Việt Nam là: Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Thay cho Ngũ thường của Nho giáo là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Hồ Chí
Minh cũng nêu lên “Ngũ thường” ở Việt Nam là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.
quả của sự độc lập trong văn hoá người Việt, mà nó còn là tiền đề cho sự ra đời
của một hệ thống chữ viết mới ở Việt Nam, đây cũng là một sáng tạo văn hoá
lớn của những học sĩ phong kiến người Việt. Lúc này, tuy chữ Hán là hệ thống
chữ viết duy nhất ở Việt Nam, nhưng nó vẫn chưa đủ để ghi chép tất cả những
âm của tiếng Việt. Đó chính là hạn chế lớn của chữ Hán, bởi văn hoá truyền
thống của người Việt có một quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời với
những giá trị không thể phủ nhận. Ví dụ như trong âm Hán chữ huyết (nghĩa là
Võ Nam Thanh 21
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
máu) ghép lại với chữ khẩu, được đọc là hoét, một âm không có trong hệ thống
chữ Hán mà chỉ người Việt mới có. Cứ như vậy, những con chữ Nôm được các
học sĩ Việt Nam sáng tạo ra trên cơ sở chữ Hán, để có thể ghi được những âm
mà tiếng Hán không tồn tại. Thành tựu ấy được các tầng lớp Nho sĩ người Việt
sáng tạo từ những con chữ Hán gốc. Có thể nói, chữ Nôm không chỉ là một
thành tựu trong học thuật từ xưa của người Vệt Nam. Chữ Nôm còn là một biểu
tượng bất diệt cho tinh thần dân tộc được hình thành từ muôn đời, được hun đúc
qua nhiều thế hệ và kết tinh trong tâm hồn của giới trí thức Việt Nam. Nhưng
cũng không thể phủ nhận vai trò của hệ thống chữ Hán trong việc tạo lập ra chữ
Nôm. Ngoài việc đóng vai trò là nguyên liệu cho kết cấu của chữ Nôm. Văn tự
Hán còn tạo cho những tầng lớp Nho sĩ người Việt một nền tảng sơ khai về quan
niệm chữ viết, điều kiện quan trọng cho quá trình hình thành chữ Nôm. Còn chữ
Nôm, sau thời gian đầu chập chững với những quy tắc, kết cấu, dần dần đó đạt
được một sự thống nhất nhất định và trở thành phương tiện ghi chép mới.
Với nền tảng là một kho tàng văn hoá vốn phong phú, lại thêm quá trình
giao lưu với những nền văn minh bên ngoài, chữ Nôm có được một môi trường
hết sức thuận lợi cho việc hoàn thiện và phổ biến rộng rãi. Lúc này, bên cạnh
những trước tác nổi tiếng được ghi bằng chữ Hán, những thư tịch của Việt Nam
lại có sự góp mặt của các tác phẩm chữ Nôm, và chỉ trong một thời gian không
dài, chữ Nôm đã xác định được chỗ đứng vững chắc trong đời sống sinh hoạt và
hoạt động văn hoá của người dân nước Việt. Thời gian trôi đi, loại văn tự này
thường đến độ khắc nghiệt khiến nảy sinh ra câu: "Quân xử thần tử, thần bất tử
bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu".
Trước đây, trong điều kiện xã hội phong kiến, nhiều người quan niệm học
để làm quan, có cuộc sống an nhàn sung sướng, nên đã tạo ra tâm lý chạy theo
danh vọng, bổng lộc. Các bậc cha mẹ cố gắng nuôi con ăn học mong con thi đỗ
được làm quan và hưởng lộc. Từ đó nảy sinh thái độ coi nhẹ lao động chân tay,
coi việc cày cuốc là việc của những kẻ tiểu nhân, chỉ có kẻ sĩ, người quân tử mới
là hạng thanh cao, họ đọc sách và dạy người.
Tinh thần học không biết chán, dạy không biết mỏi hơn bao giờ hết đang
là những truyền thống đạo đức tốt đẹp cần tiếp tục khơi dậy và phát huy trên
toàn xã hội trong điều kiện hoàn cảnh mới. Đảng và Nhà nước ta đã chủ chương
“giáo dục là quốc sách hàng đầu”, đẩy mạnh giáo dục để nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Cần tạo điều kiện để khuyến khích cả người
dạy và người học, để việc học trở thành nhu cầu tất yếu của tất cả mọi người,
nhưng cũng tránh kiểu học “khoa bảng” học để “làm quan” dẫn đến tình trạng
chạy bằng cấp, gian lận, tiêu cực trong thi cử. Trong xã hội phong kiến trước
đây, người đi học phải tự tìm thầy dạy, và việc đầu tiên phải làm lễ nhập môn.
Trong quá trình học cứ phải răm rắp nghe theo và thực thi lời dạy của thầy mà
không được phản đối. Tư tưởng ấy đó phần nào kìm hãm sự vươn lên, sức sáng
tạo của người học. Nó nhằm đào tạo ra những con người suốt đời chỉ biết phụng
sự, phục tùng, tuân thủ theo kiểu một chiều. Ngày nay ở ta, nhìn chung quan hệ
thầy trò không còn là quan hệ một chiều nữa, mà thay vào đó là thái độ tôn
trọng, cùng trao đổi và biết lắng nghe, giúp cho học sinh có điều kiện phát huy
hết tài năng và sức sáng tạo của mình. Tuy nhiên, vẫn còn đâu đó trong đời sống
xã hội có những người thầy bị mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến nhân
phẩm, họ vẫn là biểu hiện của sự quyền uy, trách phạt học trò khi bị phật lòng,
sẵn sàng bạt tai, trù dập, những học trò nào không làm theo ý của thầy, có cô
Võ Nam Thanh 23
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
giáo vì bêu xấu học trò khi chúng phạm lỗi đã đẩy học sinh tới chỗ tự vẫn.
vua (Thiên tử), cố định hoá trật tự và cơ cấu giai cấp của xã hội phong kiến. Rõ
ràng, cái xã hội lý tưởng, theo quan niệm của các nhà Nho, phải là một xã hội
mà ở đó, đứng đầu nhà nước là Thiên tử và Thiên Tử là người có uy quyền cao
nhất, dưới Thiên Tử là vua chư hầu, dưới vua chư hầu là các quan đại phu, dưới
quan đại phu là thần dân trong thiên hạ. Nói cách khác, cái xã hội đó phải luôn
đặt trong vũng trật tự có lợi cho giai cấp thống trị và vì vậy, kẻ nào phá hoại
"trật tự" đó sẽ bị Thiên Tử trừng phạt - đúng như các nhà Nho luôn luôn chủ
trương: Lễ nhạc, chinh phạt đều từ Thiên Tử mà ra.
Khi đưa ra quan niệm về một xã hội lý tưởng, các nhà Nho đều mong
muốn rằng trong xã hội đó, bằng mọi cách, phải duy trì được nguyên tắc: giai
cấp địa chủ phong kiến mãi mãi là giai cấp "cai trị người" và được người phụng
dưỡng, còn các giai cấp, tầng lớp khác mãi mãi ‘bị người cai trị" và phải nuôi
Võ Nam Thanh 24
Tìm hiểu sự du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt nam
dưỡng người. Đôi khi, trước một thực trạng xã hội mà trong đó, mâu thuẫn giữa
các giai cấp và mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị diễn ra gay gắt, hầu
như không thể điều hòa được, cũng như tình trạng rối loạn xã hội hầu như không
chấm dứt, các nhà Nho phải viện tới "ý trời", “mệnh trời". Theo đó, cái trật tự
đẳng cấp, phân vị ấy là do trời sắp đặt, là ý trời và không thể đảo ngược được.
Và những hành vi hành động nào làm nguy hại đến trật tự đó là “có tội với trời
và dù có cầu đảo thì trời cũng không tha thứ" (Khổng Tử). Như vậy, dù Nho
giáo có đưa ra quan niệm về một xã hội đại đồng lý tưởng thì chẳng qua cũng
chỉ nhằm tô vẽ, bảo vệ sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ phong kiến cũng như
quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến, nhằm duy trì vĩnh
viễn sự bất công, bất bình đẳng. Xét đến cùng, quan niệm của Nho giáo về một
xã hội lý tưởng - thái bình, ổn định, có trật tự, kỷ cương là hết sức nghiệt ngã,
hết sức hình thức và thù địch với cuộc sống, với con người, với nhân dân, là cản
trở và đi ngược lại xu thế phát triển tất yếu của lịch sử.
Mặc dự quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng có những điểm hạn
chế, song nó vẫn có một ý nghĩa nhất định đối với chúng ta trong việc nhận thức