Khoá luận tốt nghiệp hình tượng nhân vật học trò và thế giới thiên nhiên trong đường về với mẹ chữ của vi hồng - Pdf 40

TRƯỜNG ĐH Sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT HỌC TRÒ
VÀ THẾ GIỚI THIÊN NHIÊN TRONG
ĐƯỜNG VÈ VỚI MẸ CHỮ CỦA VI HÔNG

KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC THIẾU NHI

Ngưòi hướng dẫn khoa học
TIẾN SĨ: NGUYỄN THỊ NHÀN

Hà Nội, 2016
1


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo ttong
khoa Giáo dục Tiểu học trong quá trình làm khóa luận này. Đặc biệt tôi xin bày
tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô TS. Nguyễn Thị Nhàn - người đã hướng dẫn
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã rất cố gắng song do thời gian
và năng lực có hạn nên khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế. Tôi rất
mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên


1.3.2. Hình tượng những học trò giàu nghị lực...............................................17
1.3.3. Hình tượng những học trò dũng cảm ....................................................22
1.3.4. Hình tượng những học trò với tính cách đa dạng .................................25
1.4.

Hình tượng thiên nhiên trong tác phẩm ................................................31

1.4.1. Hình tượng thiên nhiên hùng vĩ ............................................................31
1.4.2. Hình tượng thiên nhiên dữ dội ..............................................................34
CHƯƠNG II. NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA HÌNH TƯỢNG HỌC TRÒ VÀ
HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN .....................................................................37
2.1..........................................................................................................


Tính chất tự truyện ........................................................................................... 37
2.2. Nghệ thuật khắc họa hình tượng học trò................................................. 39
2.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình............................................................. 39
2.2.2. Nghệ thuật miêu tả hành động............................................................. 41
2.2.3. Nghệ thuật miêu tả nội tâm.................................................................. 42
2.2.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.............................................................. 44
2.2.4.1. ..................................................................................................
Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ người kể chuyện.............................................. 44
2.2.4.2. ..................................................................................................
Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhân vật........................................................... 46
2.3. Nghệ thuật miêu tả hình tượng thiên nhiên ........................................... 49
2.3.1. Nghệ thuật miêu tả cảnh ...................................................................... 49
2.3.2. Nghệ thuật miêu tả con vật ................................................................... 50
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 54
PHỤ LỤC

Lâu nay, việc nghiên cứu tác phẩm Đường về với Mẹ chữ chưa có công

1


trình toàn diện. Việc nghiên cứu tác phẩm sẽ giúp tác giả khoá luận có những
hiểu biết sâu sắc về tinh thần hiếu học của người dân tộc thiểu số Việt Nam, từ
đó khơi dậy tinh thần hiếu học cho học sinh của mình. Với tất cả những lý do
trên, chúng tôi lựa chọn “Hình tượng nhân vật học trò và thế giới thiên nhiên
trong Đường về với Mẹ chữcuả Vỉ Hồng”.
2. Lịch sử vấn đề
Đen nay, các truyện ngắn,truyện vừa, tiểu thuyết của Vi Hồng đã được tìm
hiểu, nghiên cứu khá nhiều, trong khuôn khổ khoá luận, chúng tôi xin điểm một
số công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài.
Theonhà nghiên cứu Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng trong Văn
xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam trên hành trình hội nhập(20-12-2011), có
viết: “Có thể nói, nguồn suối văn học dân gian đã tắm mát suốt tuổi thơ Vi
Hồng và còn nâng đỡ tinh thần nhà văn suốt cuộc đời dài dặc những đắng cay
và cơ cực.Thành tựu lớn nhất mà Vỉ Hồng để lại cho đồng bào các dân tộc
thiểu số được trầm kết trong các trang văn. Mạch lạc và dứt khoát đôi khi đến
cực đoan trong đời riêng, trái tim nhà văn vẫn không ngừng đập giữa hai dòng
yêu thương và hờn giận. Song trước sau ông vẫn là con người nhân hậu, giàu
lòng yêu thương và luôn khát khao được yêu thương... Là người con nặng lòng
với quê hương xứ sở, hơn ai hết, Vi Hồng thấu hiểu sâu sắc cả “giới hạn” và
“điểm sáng” của con người miền núi. Thâm nhập thật sâu vào “vùng phát
sáng” của dân tộc mình, Vi Hồng còn có những phát hiện tinh tường về sức
sống tiềm tàng âm thầm mà mãnh liệt hầu như chưa bao giờ lụi tắt trong tâm
hồn của những con người nghèo khổ nơi chốn rừng xa. Trong sáng tác của ông,
cuộc đấu tranh giành quyền sống cho con người luôn diễn ra đầy khó khăn,
nhiều thử thách và nhân vật có khi chỉ còn lại hai bàn tay trắng sau bao cố gắng

khá hùng hậu, được tiếp nhận nguồn cảm hứng từ lớp nhà văn đàn anh như Vi

3


Hồng. Khoảng chục năm ốm yếu,sức khoẻ suy kiệt, duy nhất sở hữu đôi mắt
sáng đầy nghị lực và trí tuệ kiên cường,Vi Hồng đã cho xuất bản 11 tiểu thuyết,
2 tập truyện ngắn, 4 tập truyện vừa, 4 tập sách thể loại nghiên cứu sưu tầm.
Thành tựu ông để lại không chỉ có số lượng tác phẩm, còn là ngọn cờ tiên
phong đổi mới tư duy sáng tạo. Từ truyện ngắn đến tiểu thuyết,từng bước ông
tự làm mới quyết liệt và táo bạo. Bứt khỏi lối viết đon giản một chiều, trực diện
những vấn đề nóng bỏng của xã hội, những nhức nhối về đạo đức con người,
những thật giả, tốt xấu,thiện ác trong mối quan hệ trí thức, quan chức đến
thường dân được thể hiện sinh động,chân thực và cuốn hút. Tiêu biểu như tiểu
thuyết Vào hang, Gã ngược đời, Người trong ổng, Chồng thật vợ giả... Qua mỗi
trang tác phẩm thấy rõ cảm xúc của người viết bấy lâu như bị dồn nén,né
tránh,lựa chiều nay như được vượt thoát, tâm thê hân hoan.Nội dung và tư
tưởng của tác phẩm luôn được nâng lên ở cấp độ mới, đỉnh điểm là tập truyện
Đường về với Mẹ chữ. Có thể nói Đường về với Mẹ chữ là tác phẩm xuất sắc
trong loạt tác phẩm Vi Hồng để lại cho văn học Việt Nam hiện đại. Nhà văn Vi
Hồng là tấm gương của thế hệ cầm bút dân tộc thiểu số hôm nay .Những nhà
văn Việt Bắc coi ông là người thầy, người bạn lớn, là tấm gương ý chí, nghị
lực, tình yêu vô hạn với núi rừng xứ sở”.
Nhưvậy, nhiều ý kiến của giới nghiên cứu đã khái quát, đã gợi ý nhiều
vấn đền về nội dung và nghệ thuật của Đường về với Mẹ chữ của Vi Hồng.
Khóa luận của chúng tôi sẽ kế thừa và khảo sát toàn diện hai loại hình tượng
con người và thiên nhiên trong tác phẩm.
3. Mục đích nghiền cứu
Nghiên cứu đề tài này giúp tác giả khoá luận hiểu sâu hơn về truyện Vi
Hồng viết cho thiếu nhi. Nghiên cứu tác phẩm cũng giúp chúng tôi hiểu sâu

7. Giả thuyết khoa học
Việc phát hiện ra những nét đặc sắc về hình tượng nhân vật và thế giói
thiên nhiên trong Đường về với Mẹ chữsẽ giúp tác giả khoá luận nâng cao được
hiệu quả dạy học ừong môn Văn học, đặc biệt là rèn luyện và nâng cao năng
lực cảm thụ văn học của học sinh và khơi dậy tinh thần hiếu học trong mỗi học
sinh.
8. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phàn mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận gồm hai chưcmg:
Chương 1: Thế giới hình tượng học trò và thiên nhiên ttong Đường về với Mẹ

5


chữ
Chương2: Nghệ thuật thể hiện hình tượng nhân vật học trò và thế giói
thiên nhiên ttongĐường về với Mẹ chữ

6


NỘIDUNG
CHƯƠNG 1
THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG HỌC TRÒ VÀ THIÊN NHIÊN TRONGTÁC
PHẨM ĐƯỜNG VÈ VỚI MẸ CHỮ
1.1. Khái niêm hình tương nhân vât
Chúng ta đều biết văn học là một loại hình nghệ thuật, phản ánh đời sống
bằng hình tượng. Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò hết sức quan
trọng và là thành phần không thể thiếu để cấu thành nên tác phẩm.Do đó vai trò
đầu tiên và quan trọng nhất của nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát
hiện thực. Nhân vật chính là những người đầu tiên dắt người đọc vào một thế

thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại, toàn vẹn của con
người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học là
phương thức nghệ thuật nhằm khai thác hết những nét thuộc tính con người,
nhân vât cỏ ỷ nghĩa trước hết ở các loại hình văn học tự sự và kịch. Các thành tố
tạo nên nhân vật gồm: hạt nhân tinh thần của cá nhân, tư tưởng, lợi ích đời
sổng, tính xúc cảm, ý chí và các ý thức hành động. Nhân vật văn học là một đơn
vị nghệ thuật, nó mang tỉnh ước lệ không thể bị đồng nhất với con người thực,
ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét gần gũi với nguyên mẫu có
thật. Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm trọng tâm để xem xét sáng tác
của một nhà văn, một khuynh hướng, một trường phái hay phong cách.
Theo Phương Lựu [5, tr.109], Nhân vật là yểu tổ cơ bản trong tác phẩm
văn học, tiêu biểu để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lần lượt mình nó lại
được các yểu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ. Nhân
vật do dó là nơi tập trung các giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Từ điển thuật ngữ văn học của nhiều tác giả cho rằng: “Nhân vật văn học
là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có
thể có tên như (Tẩm, Cám, chị Dậu, anh Pha...) cũng có thể không có tên riêng
như “thằng bán tơ”, “một mụ nào đó” trong Truyện Kiều” [6, tr.235].
1.2. Thống kê nhân vật trong Đường về với Mẹ chữ
Khi khảo sát Đường về với Mẹ chữcủa Vi Hồng, chúng tôi chia thành hai loại
nhân vật là nhân vật chính và nhân vật phụ. Sau đây là bảng thống kê nhân vật
trong tác phẩm:

8


Loại nhân vật
STT

Tên nhân vật

3

Phan Văn Hỏn

s

cao 2m, nặng 80 kg

4

Đặng Lư

s

Là học sinh,ở Hoà An
Là học sinh, trán cao, dô, rất

5

Trần Bằng Tập

thông minh, mặt vuông,mắt
sáng
Là học sinh, nói tiếng hơi

6

Trần Lạng

•/


mường
Bố mẹ các học sinh

11

Ông bà chủ trọ

V

12
13

Hai tên cướp



Anh giao thông



14

Ông chủ quán cơm



15

Phường đi săn

giả đưa các em vào một cuộc hành trình, có không ít hồi hộp, lên
10


vùng cao - miền núi, nơi vẫn còn phong tục lạc hậu, những chuyện kỳ lạ,nhưng
bao giờ cũng đằm thắm tình người. Con người miền núi qua bút pháp của Vi
Hồng, tuy chỉ đôi nét phác hoạ, vẫn nổi lên tính cách trung thực, đôn hậu và có
sức dẻo dai trước mọi hoàn cảnh .Đường về với Mẹ chữ vẫn tiếp tục mạch nhận
thức và khám pháấy.
Thiên truyện đã mô tả lại quá trình gian khổ và đầy ý chí của nhóm học
sinh tỉnh Cao Bằng, trong đó có tác giả đến học tập tại trường Lương Ngọc
Quyến. Biết bao là khó khăn và nguy hiểm trên chặng đường đi bộ xuyên rừng
suốt chín ngày đêm về ôn thi nhưng lại bị hoãn thi. Đường đi chui dưới mái đại
ngàn âm u, ánh sáng mờ mờ ảo ảo như men theo bờ vực thẳm của địa ngục. Họ
phải đi bộ nhiều ngày,rách giầy nhưng họ vẫn tiếp tục đi, khi không gặp bản thì
họ phải ngủ rừng. Họ phải đối đàu vói hổ, rết, chó sói, cướp.. .đói và rét và nếu
đi xe đạp xuyên rừng thì khó khăn cũng chẳng kém. Đi bộ xuyên rừng là điều có
thể hiểu, còn đi xe đạp qua bao đèo dốc thì đâu dễ hình dung.Nhưng họ đã vượt
qua tất cả để đến với cái chữ và dạt được nhiều thành công nhờ vào sự cố gắng
học tập không mệt mỏi của chính mình.Mười phần của văn bản như mười mẩu
chuyện ngắn kể lại một kỷ niệm trên hành trình đi tìm Mẹchữ.
Đường về với Mẹ chữ,cái tên truyện nghe lạ và ngộ nữa.Nhưng sau khi đọc
xong thấy không có tên truyện nào hợp hơn thế. Sao lại “Mẹ chữ”?Tác giả giải
thích tên truyện như sau: Với những gì quý giá và có vẻ như sinh sôi nảy nở được
người Tày chúng tôi đều gọi là “mẻ” (mẹ)... Không chỉ có người và động vật,
mọi vật đều có thể được gọi là mẹ. Ngày nay, người Tày vẫn nói mẹ Đá, mẹ
Nước. Trường học, “nơi sinh ra cái chữ” cho mọi học trò gom nhặt lẩy, người
Tày gọi là mẹ Chữ. Vì thể chúng tôi rong ruổi đường dài chẩy học cũng gọi theo
các già xưa nói rằng mình đang đi tìm Mẹ chữ[7, tr.801].
Tác giả không đặt tên truyện là “Đường đến với Mẹ chữ” mà lại đặt là

cuốc bộ hoặc đi xe đạp (nếu có) về Thái Nguyên khoảng 250 km,300 km tuỳ
huyện gần, huyện xa. Qua những từ ngữ đó ta thấy được tinh thần hiếu học của

12


các học ttò Cao Bằng.
Tám học trò trong truyện ngắn đó là: Vi Hồng (nhân vật tôi), Phan Soong,
Đặng Lư, Trần Bằng Tập, Trần Lạng, Lê Văn Hoảnh, Bế Tâm. Họ đều là những
người con Cao Bằng đi học cấp III đầu tiên ở Thái Nguyên. Ở lúc đó, trường học
không nhiều như bây giờ nên việc đi học xa là việc phổ biến. “Những năm năm
mươi tất cả các tỉnh miền núi ở miền Bắc chỉ có mỗi một trường phổ thông cấp
III hoàn chỉnh, đó là trường Lương Ngọc Quyến, đặt tại thị xã Thái Nguyên”[3,
tr.5]. Tám học trò băn khoăn không biết nên chọn trường nào. “ Trường Hùng
Vương thì xa xôi, ở tận Phú Thọ. Còn trường phổ thông cấp III Ngô SĨ Liên ở
Bắc Giang thì cũng có thể.Nhưng lại là trường ở nơi đồng rộng sợ không
quen.Hơn nữa có thể đi xa hơn, chúng tôi lại không hề biết tí gì về con đường từ
Cao Bằng đến thị xã Bắc Giang” [3, tr.6].Và cuối cùng họ chọn trường cấp III
Lương Ngọc Quyến ở thị xã Thái Nguyên bỏi “Với Thái Nguyên thì người Cao
Bằng quen lắm. Con cháu Cao Bằng cảm thấy xử Thái và con đường về với xử
Thái gần gũi như đã quen thân. Vì thế bọn chúng tôi quyết định tìm đường về vói
Mẹ chữ Lương Ngọc Quyến ở xử Thải” [3, tr.6].
Khi đến được trường cấp III Lương Ngọc Quyến, các học trò rất phấn khỏi
và tích cực ôn thi để đỗ vào trường. Việc con em các dân tộc thiểu số đi học và
có trình độ văn hoá hết cấp III là rất hiếm. Chỉ những gia đình có điều kiện mới
cho con đi học nên đa số họ chỉ học hết cấp I, cấp II. Cho nên tám học trò ở Cao
Bằng đi học xa nhà ngày ấy trở thành hiện tượng trong tỉnh bàn ra tán vào, kẻ
khen ngưòi chê, kẻ khinh,ngưòi trọng.Để có số tiền lớn đủ cho con ăn học ba
năm xa nhà xa quê thì không còn cách nào khác là phải bán trâu, bán ruộng
.Nhưng những người Tày Nà (Tày làm ruộng) lại thường cho rằng “Bán ruộng là

chăm chỉ. “Chúng tôi chỉ có một cách là phải chăm chỉ học tập cho thật giỏi” [3,
ữ. 22]! Với tinh thần học tập như vậy nên “Cả sáu,bảy con cháu Cao Bằng học
với Mẹ chữ Lương Ngọc Quyến ngày ấy rất đỗi chăm chỉ” [3, tr.22], và họ đều là
những học sinh giỏi hoặc khá của trường Lương Ngọc Quyến, và đều được
phong vua ở các môn học “Tràn Lạng và Phan Soong giữ ngôi vua môn Toán.
Be Tâm giữ ngôi vua môn Vật lý. Trần Bằng Tập giữ ngôi vua môn Sử. Còn tôi
thỉnh thoảng cũng lên ngôi vua môn Văn” [3, tr.26].

14


Các học trò luôn cố gắng chăm chỉ học hành để trả được cái ơn lớn đối với
bố mẹ và họ hàng đã đã vất vả để dành dụm từng đồng tiền cho họ đi học nên
“Mỗi lần được điểm chín điểm mười trong các bài tập chúng tôi đều thấy thanh
thản và nhẹ nhõm” [3, tr.26] .Nhiều lúc,khi đêm đến, tiếng côn trùng ri rỉ,tỉ tê, có
lúc lại ran ran làm cho khung cảnh quê nhà hiện lên trước mặt các học trò, nơi có
gia đình và người thân ở đó. Những tiếng côn trùng này cứ lặp đi lặp lại như một
khúc nhạc giục giã những kẻ tha phương nhớ nhà.Muốn học được cái chữ, muốn
làm cho cha mẹ tự hào về con mình và cũng muốn xoá đi cái hủ tục lạc hậu
không cần học nhiều của người Tày Nà thì các học trò của chúng ta phảiđi học.
Xa quê,xa gia đình nên nỗi nhớ quê hương, gia đình, người thân và sự học luôn
đấu tranh giằng co trong mỗi học trò,nhiều lúc đến đau đớn. Chúng ta có thể hiểu
được nỗi giằng co trong mỗi học trò bởi họ còn rất trẻ, có người mười bảy tuổi,
người mười chín tuổi, thêm vào đó họ cũng chưa phải xa gia đình của mình bao
giờ. Học tập trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn cộng thêm với nỗi nhớ nhà
dường như đã làm chùn ý chí học của các học trò. Nhưng không ý chí quyết tâm
học cho giỏi của các học trò đã chiến thắng tất cả.
Được nghỉ Tết, các học trò lại tiếp tục đi bộ vượt rừng chín ngày để về nhà
ăn Tết. Tết với người miền núi rất thiêng liêng. Những người lớn, người già đi
công tác ở xa còn tìm đường về ăn Tết, huống chi các học trò của chúng ta còn

Lư,Giám đốc mỏ thiếc Cao Bằng; Ông Trần Bằng Tập, Giám đốc Sở thuỷ lợi
Cao Bằng; Ông Lê Văn Hoảnh, Tổng công trình sư ở Tây Nguyên; Ông Bế Tâm,
Giám đốc xưởng dược Cao Bằng; Ông Tràn Lạng vì những lý do cá nhân đã về
nghỉ tại quê nhà từ lâu; Ồng Vi Hồng, nhà văn dạy Khoa văn trường Đại học Sư
phạm Việt Bắc”[3, tr.3]. Những thành công này đã chứng minh cho mọi người
thấy tinh thần hiếu học của bảy học ttò Cao Bằng đi học ở trường cấp III Lương
Ngọc Quyến. Sự thành công của các học trò đã trở thành tấm gương sáng cho
con cháu Cao Bằng sau này học tập và noi theo. “ít nhất cũng là để làm gương
cho con cháu chứng ta chăm học hơn. Bởi vậy, tôi viết ra đây mong lớp con cháu

16


người các dân tộc thiểu số, trước hết là con cháu các dân tộc Cao Bằng hiểu một
phàn lớp người đi trước ngày xưa quý cái chữ nghĩa như thê nào,vất vả nhọc
nhằn ra làm sao mới có được một ít chữ trong bụng” [3, tr.4].
1.3.2. Hình tượng những học trò giàu nghị lực
Để về với Mẹ chữ Lương Ngọc Quyến, các học trò đã phải trải qua rất
nhiều khó khăn,gian khổ. Khó khăn đàu tiên chính là khoảng cách địa lý xa xôi.
Con đường đi học thật vất vả, xa xôi.Họ phải đi bộ xuyên rừng chín ngày đường,
vượt gàn ba trăm cây số để tới trường cấp III Lương Ngọc Quyến. “Chúng tôi
phần lớn đều ở huyện Hoà An, đi về đến Thái khoảng hai trăm năm mươi cây số.
Còn bạn Phan Soong ở Hà Quảng và nhất là bạn Phan Văn Hỏn ở huyện Trùng
Khánh thì cách Thái Nguyên gần ba trăm cây hoặc trên ba trăm cây số” [3, tr.7].
Họ đi học xa xôi như vậy bởi những năm đó đất nước ta còn nhiều khó khăn nên
tất cả các tỉnh miền núi ở miền Bắc chỉ có một trường phổ thông cấp III hoàn
chỉnh. Đó là trường Lương Ngọc Quyến, ở thị xã Thái Nguyên.
Đi đứng chín ngày đường đến thị xã Thái Nguyên.Các học trò xin trọ ở
một nhà dân, hôm sau, các học trò vào Ty Giáo dục hỏi địa điểm thi tuyển sinh ở
nơi trường tản cư. Ngôi trường hiện ra với “Hai lớp học, hai căn nhà dựng tạm

tiết kiệm. Không có tiền mua đủ giấy bút “Trong bảy anh em con cháu Cao Bằng
học chữ với Mẹ chữ Lương Ngọc
Quyến ngày ấy, chỉ có một hai bạn đủ tiền mua giấy bút để viết. Còn mấy anh
em khác thì không đủ tiền dù là mua loại giấy xoàng xĩnh nhất” [3, tr.25], nhưng
họ vẫn quyết tâm học. Dường như cái khó không bó được cái khôn, họ đã có
những phát kiến vĩ đại. Vì không có tiền mua vở nên họ đã luộc những quyển vở
cũ ừong nước vôi để cho chữ cũ mất hẳn để lấy giấy viết.Luộc vở, cách làm nghe
thật lạ, bởi chúng ta bây giờ thường viết hết là bỏ và mua quyển vở mới để viết.
Còn đối với các học trò này, họ phải luộc vở viết rồi để viết lại. Đa số họ đều là
những con em dân tộc nghèo, không có điều kiện thì luộc vở là việc làm để tiết
kiệm chi phí cho các học trò.“Đem những giấy đã viết rồi, tức là những quyển vở
cũ luộc trong nước vôi. Cụ thể là cho vôi vào khoắng trong một cái nồi to rồi đun
sôi lên, bỏ cả giấy viết vào ninh như ninh xưomg khoảng nửa tiếng đồng hồ thì
vớt ra, nhúng vào nước sạch để rửa rồi đem phơi khô. Những tờ giấy này dù là

18


giấy trắng tinh hay giấy loại xoàng đều biến thành một màu vàng úa. Các dòng
chữ viết cũ đã mất hẳn” [3, tr.25]. Những quyển vở đã luộc có màu vàng úa, các
học sinh dùng để viết những kiến thức chung, những kiến thức mà để các học trò
đọc. Những quyển vở,những bài làm cần thầy đọc để chấm thì viết vào giấy
trắng. Hành động đó tuy nhỏ, nhưng cho chúng ta thấy các học trò rất tôn trọng
thầy cô giáo, tôn trọng những người dạy bảo và truyền kiến thức cho mình. Với
cách làm này, những cậu học ưò Cao Bằng đã có vở để viết. Trước khi phá minh
ra cách luộc giấy, các học trò phải viết trên giấy “bụng bò” - một loại giấy được
người Dao làm bang phương pháp thủ công. Do loại giấy này không viết được
bút sắt, nên các học trò phải vót bút bằng tre, bằng nứa để viết. Dù khó khăn như
vậy nhưng các học trò không hề nao núng, không hề từ bỏ niềm khao khát học,
nó đã trở thành động lực để các học trò cố gắng trong học tập.

mùa đông bắc lùa đủ bốn chiều” [3, tr.24]. Họ không có bàn học riêng, chỗ ngủ
đồng thời là bàn viết,bàn học. “Đó là những chiếc chõng tre rẻ tiền bán ngoài chợ
thị xã Thái Nguyên” [3, tr.25].Việc ăn uống của các học trò cũng gặp nhiều khó
khăn. Học ở xứ người với bao vất vả. Ăn uống thiếu thốn cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến kết quả học tập của các học ttò. Họ phải ăn mỡ để có sức học. Với bản
chất “Con cháu Cao Bằng rất thích ăn thịt mỡ” [3, tr.23]. Các học ưò đã chọn
mua loại mỡ rẻ nhất, đó là mỡ chài. Họ mua về rán lấy mỡ dùng để xào rau
muống và họ ăn rất ngon lành. “Mỡ xào rau muống, giập thêm vài múi tỏi cho
vào. Rau muống tắm trong mỡ bóng loáng” [3, tr.23]. Nhờ có mỡ rẻ, nên các học
trò không đến nỗi sút cânlắm. Chính những cân thịt mỡ, đặc biệt là mỡ chài, mỡ
lá đã giúp sức cho họ học và học giỏi. Tất cả các khó khăn, vất vả như muốn vùi
dập những ngưòi học sinh xa xứ,nhưng với các học trò giàu nghị lực thì điều đó
không hề có nghĩa lý gì, nó còn trở thành động lực để các học trò vưcm lên trong
học tập.

20


Đến khoảng những năm 1965 đã có những chiếc xe quân đội, xe chở hàng
hoá , những người đi bộ có thể xin đi nhờ, vì thế các học trò đi học vói nhiều
phương tiện khác nhau, không phải đi bộ như trước. “Đôi ba ngưòi có xe đạp thì
đạp xe từ Cao Bằng xuống Thái Nguyên. Đôi ba người khác thì đi bộ xuống Bản
Trại,mất chừng hai ngày đường đi bộ để đi xe khách về Lạng Sơn rồi lên Tàu về
Hà Nội. Từ Hà Nội thì có sẵn xe khách lên Thái Nguyên. Hoặc đi bộ theo quốc
lộ số ba phụ, gặp xe hàng, xe quân đội xin đi nhờ về Thái”[3,tr.49]. Nhưng đi
bằng phương tiện nào thì đều gặp những khó khăn riêng. Đi bộ thì mất chín ngày
ừên con đường dài gần ba ừăm cây số, họ vượt rừng vượt núi mới đến nơi. Trên
đường đi các học trò còn gặp bao khó khăn, nguy hiểm, đi bộ đến nỗi nát cả giày,
sưng cả chân... Đi xe đạp thì cũng chẳng kém gì. Đoạn đường gàn ba trăm cây
số, vượt hàng mấy chục đèo cao, dốc thẳm thì chậm nhất mất hai ngày xe đạp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status