TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA LOẠI HÌNH
DU LỊCH VĂN HÓA
Họ và tên sinh viên: Hoàng Thanh Uyên Nhã
Mã sinh viên: 0951015831
Lớp: K48E-A15
Khóa: 48
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Trần Thị Phương Thủy Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI THU HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
THÔNG QUA LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA 4
1.1. Tổng quan về du lịch văn hóa 4
1.1.1. Du lịch 4
1.1.2. Văn hóa 5
1.1.3. Du lịch văn hóa 7
1.1.4. Du khách quốc tế 7
1.2. Điều kiện để thu hút du khách quốc tế đến một địa phương thông qua loại hình
du lịch văn hóa 8
1.2.1. Điều kiện khách quan 8
1.2.2. Điều kiện chủ quan 9
1.3. Tiềm năng và lợi thế của Thừa Thiên Huế trong việc thu hút du khách quốc tế
thông qua loại hình du lịch văn hóa 10
1.3.1. Vị trí địa lý thuận lợi 10
1.3.2. Tài nguyên tự nhiên phong phú 11
1.3.3. Tài nguyên văn hóa đa dạng, lâu đời 12
1.3.4. Nét đẹp con người Huế 13
1.3.5. Sự quan tâm của các cấp chính quyền 14
1.4. Sự cần thiết tăng cường thu hút du khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế
thông qua loại hình du lịch văn hóa 15
1.4.1. Vai trò, vị trí chiến lược của Thừa Thiên Huế trong tổ chức du lịch quốc tế ở
Việt Nam 15
1.4.2. Vai trò của du lịch văn hóa đối với du lịch ở Thừa Thiên Huế 16
1.4.3. Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 17
1.5. Kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc thu hút du khách quốc tế thông qua
Chương 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU
HÚT DU KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN THỪA THIÊN HUẾ THÔNG QUA LOẠI
HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA GIAI ĐOẠN 2013-2020 55
3.1. Triển vọng thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình
du lịch văn hóa giai đoạn 2013-2020 55
3.1.1. Cơ hội 55
3.1.2. Thách thức 56
3.2. Mục tiêu và định hướng của tỉnh Thừa Thiên Huế trong tăng cường thu hút du
khách quốc tế thông qua loại hình du lịch văn hóa 58
3.2.1. Mục tiêu 58
3.2.2. Định hướng 59
3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút du khách quốc tế đến Thừa Thiên
Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2013-2020 61
3.3.1. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa, chú trọng xây dựng sản phẩm đặc thù
và nâng cao chất lượng sản phẩm 61
3.3.2. Đầu tư, phát triển và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, hạ tầng 68
3.3.3. Phát triển nguồn nhân lực 70
3.3.4. Giải pháp về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 74
3.3.5. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch 76
3.4. Một số kiến nghị đối với Chính phủ và các bên hữu quan 80
3.4.1. Đối với Chính phủ 80
3.4.2. Đối với UBND Thừa Thiên Huế, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa
Thiên Huế và các sở ban ngành liên quan 82
3.4.3. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn Thừa Thiên Huế 83
KẾT LUẬN 85
tháng đầu năm 2012
Bảng 2.1: Số lượng du khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9
tháng đầu năm 2012
Bảng 2.2: Số lượt khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế trong các kỳ Festival Huế
giai đoạn 2004-2012
Bảng 2.3: Lượng vé tham quan quần thể di tích Cố đô Huế đã bán cho du khách
quốc tế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Bảng 2.4: Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9 tháng
đầu năm 2012
Bảng 2.5: Doanh thu từ hoạt động du lịch và doanh thu xã hội từ hoạt động du
lịch ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2004-9 tháng đầu năm 2012
Bảng 2.6: Tổng cơ sở lưu trú, số phòng, số giường ở Thừa Thiên Huế giai đoạn
2004-9 tháng đầu năm 2012
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
1424262728
vùng đất của du lịch. Là một ngành kinh tế quan trọng ở TTH, du lịch đã có các
bước phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt kinh tế - xã
hội, góp phần cải thiện đời sống người dân, đồng thời giới thiệu và quảng bá hình
ảnh Huế, con người Huế đến với bạn bè trong và ngoài nước.
Du lịch văn hóa gần đây được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước
đang phát triển, thu hút nhiều du khách quốc tế. Tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch
Đông Á - Thái Bình Dương năm 2004, với chủ đề “Du lịch văn hóa và giảm đói
nghèo”, nhiều nước đã chia sẻ kinh nghiệm, thông tin về phát triển du lịch văn hóa
và những lợi ích của hoạt động này đối với cộng đồng xã hội cũng như dân cư. Du
lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước và loại hình này rất phù hợp với bối cảnh
của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo của quốc gia, vì vậy phải
được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
Tỉnh TTH từ lâu đã được xác định là một trong những trung tâm du lịch văn
hóa quan trọng của nước ta. Tài nguyên du lịch của TTH tương đối đa dạng, phong
phú, nổi bật và có giá trị hơn cả là các tài nguyên văn hóa đặc sắc, độc đáo; trong
đó, có không ít những di sản văn hóa vật thể tầm cỡ quốc gia và quốc tế có sức thu
hút rất lớn đối với khách du lịch. Với nguồn tài nguyên du lịch vô giá như vậy, du
lịch văn hóa đã trở thành thế mạnh không chỉ của Huế mà còn có ý nghĩa quan trọng
cho sự phát triển du lịch Việt Nam.
Tuy nhiên, việc phát triển du lịch văn hóa trong thời gian vừa qua dường như
vẫn chưa khai thác hết tiềm năng du lịch của tỉnh. Vấn đề đặt ra đó chính là sự thiếu
sự đồng bộ trong việc phát triển một sản phẩm văn hóa thành một sản phẩm phục vụ
2 cho du lịch hoàn chỉnh; thiếu sự quảng bá, tuyên truyền đến du khách, đặc biệt là du
khách quốc tế. Khách quốc tế đã chiếm một phần quan trọng trong tổng lượng
khách đến TTH. Theo thống kê, tỷ lệ khách quốc tế và khách nội địa đến Huế là
tương đương nhau. Thu hút khách quốc tế đến TTH thông qua loại hình du lịch văn
hóa không chỉ giúp phát triển nền kinh tế tỉnh nhà, mà còn góp phần vào công cuộc
của tỉnh TTH, từ sách báo, tạp chí, Internet…
Bên cạnh đó, tác giả còn thu thập thông tin sơ cấp bằng phương pháp chuyên
gia. Tác giả trực tiếp phỏng vấn 4 lãnh đạo ngành du lịch Thừa Thiên Huế: TS.
Phan Tiến Dũng – Giám đốc Sở VHTT&DL Thừa Thiên Huế, TS. Phan Thanh Hải
– Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, ông Huỳnh Tiến Đạt – Phó
Giám đốc Trung tâm Festival Huế và ông Lê Văn Thuyên – Trưởng phòng Văn hóa
Thông tin Thành phố Huế, Tổng biên tập tạp chí Huế xưa và nay; về các vấn đề liên
quan đến việc thu hút khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua du lịch văn
hóa.
5. Kết cấu của đề tài
Bên cạnh lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của
khóa luận được thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về du lịch văn hóa và sự cần thiết phải thu hút du
khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa
Chương 2: Thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút du khách
quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên Huế của loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2004-2012
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp tăng cường thu hút du khách
quốc tế đến Thừa Thiên Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa giai đoạn 2013-
2020
Qua đây, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại
học Ngoại thương cơ sở II tại TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả thực
hiện khóa luận tốt nghiệp này, và đặc biệt gửi lời cảm ơn đến ThS. Trần Thị
Phương Thủy đã tận tâm trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện đề tài này.
Do hạn chế về thời gian chuẩn bị, kinh phí thực hiện, tài liệu tham khảo nên
bài viết không tránh khỏi một số thiếu sót. Kính mong nhận được góp ý của thầy cô
và người đọc để bài viết được hoàn thiện hơn.
Tác giả
Hoàng Thanh Uyên Nhã
4
các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con
5 người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác
nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ.
- Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi ở thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu thăm quan, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra rằng du lịch là một hoạt động mà
trong đó con người đi tham quan và lưu trú tại một địa điểm không phải nơi cư trú
thường xuyên của mình, để thỏa mãn một số nhu cầu như tham quan, nghỉ dưỡng,
giải trí, kết hợp công việc…
1.1.2. Văn hóa
Có nhiều khái niệm về văn hóa:
PGS.TS Trần Ngọc Thêm cho rằng: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động
thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình. (PGS.TS. Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.17)
Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ nhân học, được xem là tổng thể phức tạp
bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, các quy tắc đạo đức, luật lệ, phong tục
và bất cứ kĩ năng hay thói quen do con người, với tư cách là động vật xã hội, tạo ra
và lĩnh hội thông qua quá trình học. (Edward Burnett Tylor, 1871)
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng,
ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá
trị, truyền thống và đức tin. (UNESCO, 2002, www.unesco.org)
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát
triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham
nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc. Những nguồn lợi này
không những tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, mà còn đóng góp đáng kể cho sự
phát triển của cộng đồng xã hội.
Trong du lịch văn hóa, người ta chia ra làm nhiều loại: du lịch di tích lịch sử,
du lịch phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch di tích văn hóa… Trong đó còn có du lịch văn
hóa đại trà dành cho đa số mọi đối tượng khách du lịch, còn du lịch văn hóa chuyên
sâu chỉ dành cho những người muốn nghiên cứu về một vấn đề cụ thể.
1.1.4. Du khách quốc tế
Theo Ủy ban thống kê Liên hiệp quốc (1937), du khách quốc tế là những
người viếng thăm một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong
thời gian ít nhất 24 giờ.
Định nghĩa về du khách có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma
do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại
8 tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian
24h hay hơn”
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989, du khách
quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ
ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách
này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách
trở về nơi ở thường xuyên của mình.
Từ những định nghĩa trên, tác giải rút ra rằng du khách quốc tế là những
người đến một đất nước khác trong khoảng thời gian ít nhất là 24h, với mục đích
tham quan, nghỉ ngơi, thăm người thân và bạn bè,… loại trừ mục đích kiếm tiền.
1.2. Điều kiện để thu hút du khách quốc tế đến một địa phương thông qua loại
hình du lịch văn hóa
1.2.1. Điều kiện khách quan
Nền văn hóa đặc trưng
các điểm du lịch đáp ứng nhu cầu chi tiêu, mua sắm của khách du lịch.
Nguồn nhân lực
Ngày nay, khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận
như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng thì
một trong những yêu cầu để thu hút du khách quốc tế là phải có được một nguồn
nhân lực có đủ sức đáp ứng được những yêu cầu trình độ phát triển du lịch của khu
vực, của thế giới, của thời đại… Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số
lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể
lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc… tất cả các yếu tố đó
ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá là một chỉ tiêu
tổng hợp là văn hóa lao động. Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
du lịch văn hóa, cần có nguồn nhân lực phục vụ riêng, bao gồm: đào tạo đội ngũ
hướng dẫn viên, phục vụ có trình độ văn hóa, có kiến thức, am hiểu về văn hóa,
phong tục địa phương; cán bộ tổ chức các chương trình văn hóa, nghệ thuật; kỹ
thuật viên bảo tồn, trùng tu các di sản văn hóa, lịch sử,….
Chính sách, sự quản lý của Nhà nước
Sự quản lý của Nhà nước về du lịch có thể là chìa khóa dẫn đến thành công
cũng có thể kìm hãm nếu Nhà nước có những đường lối không phù hợp với thực tế.
Nhà nước trên cương vị của mình sẽ quản lý các hoạt động du lịch đồng thời ban
hành các chính sách để thúc đẩy du lịch phát triển. Chính quyền cần có các chính
sách bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương để các giá trị này được lưu giữ trong
10 cộng đồng, có thể được vận dụng vào việc xây dựng các sản phẩm du lịch để thu hút
du khách quốc tế. Để làm được điều này cần có nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác
bảo tồn, phục dựng các giá trị văn hóa và nâng cao nhận thức của người dân địa
phương.
Chất lượng sản phẩm
Du khách đến thăm quan một địa danh, không chỉ để ngắm nó mà còn để sử
Đông – Tây nối Thái Lan – Lào – Việt Nam theo đường 9. Huế ở vào vị trí trung độ
của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung
tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao thoa giữa điều kiện
tự nhiên – kinh tế – xã hội của cả hai miền Nam – Bắc. TTH là một trong những
trung tâm văn hoá, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của cả nước và là
cực phát triển kinh tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ
sâu 18 – 20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng hàng
không quốc tế Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy
dọc theo tỉnh, có 81 km biên giới với Lào.
Nằm trên “Con đường di sản miền Trung”, TTH vừa là nơi giàu thắng cảnh,
vừa là địa bàn đa văn hóa, quy tụ nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, công trình
kiến trúc độc đáo và bảo tồn không ít giá trị văn hóa phi vật thể khác nhau. TTH là
địa phương đầu tiên trong cả nước có hai di sản văn hóa thế giới.
Vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho TTH mở rộng giao lưu
kinh tế – xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế và cũng là lợi thế để thu hút
khách du lịch quốc tế đến địa phương. (Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế,
2010)
1.3.2. Tài nguyên tự nhiên phong phú
Tạo hóa ban tặng cho TTH một địa hình độc đáo – về tổng thể toàn tỉnh có
kiến trúc giống như một công viên, với khung cảnh thiên nhiên đa dạng. Đây là nơi
hội tụ của núi đồi và đồng bằng, là chỗ gặp nhau của sông, đầm phá và biển. Từ hệ
thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến sông Hương, núi Ngự, Vườn Quốc gia
Bạch Mã, Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tất cả đều cho thấy đây là một vùng
đất của sự cộng sinh và hội tụ của vũ trụ.
Khái niệm “Nơi trời và đất giao hòa” hàm chứa một cảm giác về thiên nhiên
hữu tình của Huế, chốn bồng lai mà ngay từ đầu đã làm say đắm và mê hoặc sự lựa
chọn của các chúa Nguyễn khi chọn Huế là thủ phủ của triều đại mình. Khái niệm
12
toàn cầu, văn hóa vật thể - quần thể di tích Huế (1993) và văn hóa phi vật thể - Nhã
nhạc cung đình Huế (2003). Di sản Huế là một hệ phức hợp bao gồm cả quần thể di
13 tích cố đô đồ sộ với thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, đài tạ, chùa quán,
cầu cống, phủ đệ; hệ thống kiến trúc cộng đồng, tôn giáo và kiến trúc dân gian; các
văn hóa phi vật thể phong phú; các giá trị cảnh quan môi trường độc đáo.
Theo thống kê chưa đầy đủ, Huế có tới 500 lễ hội và ngày nay phổ biến hơn
100 lễ hội, chủ yếu là lễ hội dân gian và lễ hội liên quan đến tín ngưỡng tâm linh
của nhiều cộng đồng dân cư trong lịch sử. Những ngày sau Tết Nguyên Đán là
những ngày tưng bừng lễ hội dân gian: Hội vật làng Sình, làng Thủ Lễ; Hội Cầu
Ngư; Hội đu tiên, Điền Hòa, Phong Điền; Hội đua thuyền, Lăng Cô, sông Vực,…
Phản ánh những ước vọng thiêng liêng của con người trong sự kết nối với trời, đất,
sông núi, tổ tiên, và gửi gắm niềm tin vào khát vọng hòa bình của Phật giáo, là
những nét đặc trưng nổi bật trong văn hóa lễ hội của Huế. Nhiều lễ hội vẫn được
duy trì trong đời sống cộng đồng từ đời này sang đời khác, nhiều lễ hội mới được
khôi phục lại, nhưng được cộng đồng dân cư Huế và nhiều địa phương trong cả
nước đổ về tham dự vì tính lịch sử và “thực” của nó. Có lẽ vì vậy, ở Huế, không cần
phải có sân khấu hóa lễ hội hay biểu diễn lễ hội. Khách đến Huế, vào bất cứ mùa
nào trong năm cũng có thể bắt gặp lễ hội. Du khách có thể hòa mình vào lễ hội, là
một phần của lễ hội, để có những khoảng khắc phương Đông trong chuyến hành
trình tới Huế. (Thái Quang Trung, Hà Bích Liên, Tay Kheng Soon, Hans Hoefer,
2012, tr.140)
Với nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng và lâu đời như vậy, đây chính là nền
tảng, nhân tố chính trong việc phát triển du lịch văn hóa ở Huế.
1.3.4. Nét đẹp con người Huế
Dấu ấn của một vùng đất hội tụ nhiều nền văn hóa khác nhau qua các thời kì
của nhiều lớp dân cư, dấu ấn của một thời kì lịch sử dài là chốn kinh kì, đã tạo nên
những nét riêng biệt trong tính cách Huế. Ngay khi bắt đầu đặt chân đến Huế, du
được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản văn hóa thế giới. Tiếp đó Dự án Quy
hoạch Bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, giai đoạn 1996-2010 đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 105/TTg ngày 12/02/1996, tạo cơ
sở vững chắc cho chiến lược bền vững cho công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị di
sản văn hóa. Ngày 07/06/2010, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký Quyết định
818/QĐ-TTg, phê duyệt Dự án điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy di tích
Cố đô Huế, giai đoạn 2010-2020. Đó là một trong những cơ sở pháp lý quan vô
cùng quan trọng cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế.
Việc thành lập các trung tâm chuyên phục trách việc bảo tồn di tích hay tổ
chức các lễ hội du lịch, như TTBTDTCĐ Huế (tiền thân là Công ty Quản lý Di tích
15 Lịch sử và Văn hóa Huế, 1982), Trung Tâm Festival Huế,… là một trong các hành
động của tỉnh nhằm phát triển tối ưu loại du lịch văn hóa ở Huế.
1.4. Sự cần thiết tăng cường thu hút du khách quốc tế đến tỉnh Thừa Thiên
Huế thông qua loại hình du lịch văn hóa
1.4.1. Vai trò, vị trí chiến lược của Thừa Thiên Huế trong tổ chức du lịch quốc
tế ở Việt Nam
Bảng 1.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam và đến Thừa Thiên Huế
giai đoạn 2004 – 9 tháng đầu năm 2012
Đơn vị: Nghìn lượt người
Năm Lượng khách quốc tế
đến Việt Nam
Lượng khách quốc
tế đến TTH
Tỷ trọng (%)
2004 2972,9 260,0 8,7
2005 3477,5 369,0 10,6
2006 3582,5 436,0 12,2
cùng nhiều hoạt động du lịch thành công khác, năm 2008, Thủ tướng Chính phủ
chính thức phê duyệt Đề án Xây dựng Thành phố Huế thành Thành phố Festival
của Việt Nam - thành phố du lịch trong mối gắn kết hài hòa một thành phố Festival.
Có thể nói, đây là một trong những minh chứng quan trọng cho vị trí chiến lược của
TTH trong tổ chức du lịch quốc tế tại Việt Nam.
1.4.2. Vai trò của du lịch văn hóa đối với du lịch ở Thừa Thiên Huế
Với sự ưu đãi của tạo hóa mà Huế có một nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân
văn phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch: du
lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng,… Nhưng loại hình
du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ đạo trong hệ thống các loại hình du lịch ở
Huế. Theo thống kê, số lượt khách đến Huế với mục đích tham quan, tìm hiểu lịch
sử văn hóa, hay đơn giản là chỉ đến để tận mắt chiêm ngưỡng một di sản thế giới
chiếm tới gần 80% tổng lượt khách du lịch. Điều này chứng minh được giá trị và
sức hấp dẫn của di sản Huế, văn hóa Huế, đồng thời đây cũng là thước đo và căn cứ
để ngành Du lịch có kế hoạch lâu dài trong phát triển sản phẩm quảng bá và phát
triển văn hóa của Huế đến với bạn bè thế giới. (Trần Viết Lực, 2010)
Du lịch văn hóa cũng tạo nguồn thu lớn cho ngành du lịch Huế, thông qua
các hoạt động bán vé tham quan, lễ hội, ẩm thực, dịch vụ trong khu di tích, hàng lưu
niệm… Ngoài ra, loại hình du lịch văn hóa phát triển, cũng kéo theo sự phát triển
của các loại hình du lịch khác, nhằm tận dụng nguồn khách do du lịch văn hóa đem
lại, khai thác tối đa tiềm năng phát triển du lịch của Huế.
17 1.4.3. Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Di sản văn hóa Huế là một kho báu, một bộ phận cấu thành sinh thái văn hóa
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó cũng là mấu chốt mở rộng phát triển du
lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động du lịch văn hóa đã góp phần
tạo sự thay đổi tích cực trên nhiều lĩnh vực của kinh tế - xã hội ở tỉnh TTH:
Tăng nguồn thu ngân sách, nguồn thu ngoại tệ và đầu tư từ nước ngoài
GDP của tỉnh thì chiếm từ 34-35%, trong năm 2010 vừa rồi, thì con số này là
43,8%, đến 2015 thì tỉnh phấn đấu đưa tỷ trọng của du lịch và dịch vụ lên đến 49-
50% GDP” (TS. Phan Tiến Dũng, 2012). Hoạt động du lịch nói chung và du lịch
văn hóa nói riêng đã giúp TTH từ một tỉnh lấy nông nghiệp là chính, giờ đây trở
thành một tỉnh lấy ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn.
Quảng bá thương hiệu du lịch Huế
Du lịch là hình thức trực tiếp nhất thể hiện nét văn hóa và nếp sống văn mình
của một đất nước khi mà du khách sẽ là người được trực tiếp trải nghiệm những nét
độc đáo ấy. Du lịch phát triển, đặc biệt là du lịch văn hóa, sẽ giúp nâng cao hơn nữa
hình ảnh, thương hiệu của Huế, của Việt Nam tới bạn bè thế giới, đem được hình
ảnh một cùng đất thanh bình, đậm đà bản sắc văn hóa và giàu tiềm năng du lịch đến
du khách bốn phương.
1.5. Kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc thu hút du khách quốc tế thông
qua loại hình du lịch văn hóa và bài học đối với Thừa Thiên Huế
Hội An, Siem Reap, Bangkok được xem là thành phố tổ chức thành công và
thu hút hàng triệu du khách quốc tế đến với loại hình du lịch văn hóa. Cùng nằm
trong khu vực Đông Nam Á, và có nhiều đặc điểm tương đồng với du lịch Huế về
văn hóa, xã hội hoặc định hướng phát triển du lịch, những kinh nghiệm học hỏi từ
Hội An, Siem Reap và Bangkok sẽ mang đến tính khả thi cao nếu được áp dụng tại
TTH.
1.5.1. Kinh nghiệm của thành phố Hội An
Hội An là một thành phố cổ giàu truyền thống văn hóa và cũng là một trong
những địa điểm thu hút nhiều du khách quốc tế nhất Việt Nam. Phố cổ Hội An đã
được UNSECO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999. Theo thống kê của
Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An thì Hội An hiện nay có 1360 di tích
danh thắng với 1273 di tích kiến trúc nghệ thuật. Bên cạnh quần thể kiến trúc đa
dạng, người dân Hội An còn lưu giữ những phong tục tập quán, sinh hoạt tín
ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa các làng nghề truyền thống, các món ăn