khóa luận tốt nghiệp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dịch vụ phân phối bán lẻ theo lộ trình cam kết wto - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO NGÀNH DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ THEO
LỘ TRÌNH CAM KẾT WTO Sinh viên thực hiện : Nguyễn Đức Thiện
Lớp : Nhật 3
Khóa : 45E
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phạm Thị Mai Khanh

1.2.3.3. Hệ thống các chuỗi cửa hàng bán lẻ 21
1.2.3.4. Hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống, kinh doanh nhỏ lẻ . 22
1.2.4. Doanh thu và tốc độ phát triển 23
1.3. Sự cần thiết phải mở cửa dịch vụ phân phối bán lẻ cho các nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài 25
1.3.1. Mở cửa để phù hợp yêu cầu của tiến trình hội nhập 251.3.2. Mở cửa để phát triển phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của
người dân 26
1.3.3. Mở cửa để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong
nước 30
1.3.4. Mở cửa để hạn chế tình trạng độc quyền trong phân phối 32

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI VÀO NGÀNH DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ VIỆT NAM SAU
KHI GIA NHẬP WTO 34
2.1. Các quy định của Việt Nam đối với thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài vào ngành dịch vụ phân phối bán lẻ 34
2.1.1. Cam kết và lộ trình mở cửa dịch vụ phân phối bán lẻ trong WTO . 34
2.1.2. Các quy định của Việt Nam đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào ngành dịch vụ bán lẻ 37
2.2. Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào dịch vụ bán lẻ 39
2.2.1. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dịch vụ phân phối
bán lẻ trước khi gia nhập WTO 39
2.2.2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ phân
phối bán lẻ sau khi Việt Nam gia nhập WTO 43
2.2.2.1. Về quy mô 43
2.2.2.2. Về cơ cấu vốn 45
2.2.3. Đánh giá tác động của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

3.2.2.2. Tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư 84
3.2.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 85
3.2.2.4. Xây dựng chính sách về mặt hàng, giá, phương thức và hình
thức bán hàng, khuyến mại 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

DANH MỤC BẢNG

Trang
Bảng 1: Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối 8
Bảng 2: Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối 9
Bảng 3: Tổng hợp các chỉ tiêu về mạng lưới chợ trên cả nước năm 2006 19
Bảng 4: Tổng hợp số liệu về siêu thị trên cả nước đến năm 2006 21
Bảng 5: Bảng tổng hợp xếp hạng về độ hấp dẫn thị trường bán lẻ của Việt
Nam giai đoạn 2004 - 2008 25
Bảng 6: So sánh tổng mức bán lẻ hàng hóa với quỹ tiêu dùng cuối cùng thời
kỳ 1996-2008 27
Bảng 7: FDI đăng ký vào dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo
thời gian nhận vốn đầu tư trước khi gia nhập WTO 40
Bảng 8: FDI đăng kí vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam sau khi gia
nhập WTO 43
Bảng 9: FDI đăng ký vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo
đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2008 46
Bảng 10: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo địa bàn
đầu tư tính đến tháng 3/2008 47


FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Gross domestic product
Thu nhập bình quân đầu
người
GRDI
Global Retail Development
Index
Chỉ số bán lẻ toàn cầu
HTX

Hợp tác xã
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
OECD
Organisation for Economic
Co-operation and
Development
Tổ chức hợp tác phát triển
kinh tế
POS
Point of sales
Hệ thống thanh toán tiền tại
cửa hàng bán lẻ
TTTM

Trung tâm thương mại

động từ quá trình mở cửa thị trường, nhất là khi chúng ta thực hiện các cam
kết và lộ trình mở cửa trong thỏa thuận gia nhập WTO.
Hội nhập kinh tế thế giới là một điều tất yếu và sớm hay muộn, chúng
ta đều phải mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài tham
gia dẫu biết rằng nguồn vốn FDI đó không chỉ sẽ tác động về mặt kinh tế mà -2-
còn tạo ra không ít những tác động về mặt xã hội ở Việt Nam. Làm thế nào để
vừa có thể thu hút FDI một cách có chọn lọc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
vừa có thể hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn này chính là chìa
khóa cho sự phát triển kinh tế nước ta. Nhận thức được tính cấp thiết của vấn
đề, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
ngành dịch vụ phân phối bán lẻ theo lộ trình cam kết WTO” làm đề tài khóa
luận của mình.

2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả hy vọng sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan về
thực trạng phát triển ngành dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam. Khóa luận
phân tích hoạt động thu hút FDI vào dịch vụ phân phối bán lẻ và những tác
động của nó đến nền kinh tế - xã hội nước ta, đặc biệt là giai đoạn sau khi
nước ta gia nhập WTO. Từ những phân tích trên cũng như định hướng thu hút
FDI của chính phủ, khóa luận đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút FDI một
cách hợp lý và có chọn lọc vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam trong
bối cảnh thực hiện cam kết gia nhập WTO.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt
Nam.

Ngoại Thương Hà Nội, những người đã trực tiếp truyền đạt kiến thức về
Kinh tế và Kinh doanh quốc tế cho tác giả trong suốt bốn năm học tập tại
trường.

-4-
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
THU HÚT FDI ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ
PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngành dịch vụ phân phối bán lẻ
1.1.1. Khái niệm dịch vụ phân phối bán lẻ
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ phân
phối bán lẻ.
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ tài liệu số MTN.GNS/W/120
(W/120) vòng đám phán Uruguay của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và
danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) thì dịch vụ bán
lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính (dịch vụ đại lý ủy quyền, dịch vụ bán
buôn, dịch vụ bán lẻ, nhượng quyền thương mại (franchising)): Theo đó, dịch vụ
bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu
dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán
trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan. [33]
Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều định nghĩa về dịch vụ phân phối
bán lẻ.
Trong sách “Quản trị Marketing”, Philip Kotler định nghĩa bán lẻ như sau:
Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng
hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào

liên tục 24/24 giờ mỗi ngày.
1.1.2.2. Dịch vụ bán lẻ luôn theo sát nhu cầu thực tế và thỏa mãn nhanh nhất
nhu cầu đó
Nhà bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng nên họ là
người am hiểu nhất những mong muốn và những thay đổi trong nhu cầu của
người tiêu dùng, từ đó nhanh chóng phản ánh các thông tin này cho nhà sản
xuất để giúp nhà sản xuất điều chỉnh quy trình sản xuất, chất lượng, mẫu mã -6-
sản phầm cho phù hợp. Với vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu
dùng, nhà bán lẻ đóng vai trò quan trọng truyền tải những thông tin về chương
trình ưu đãi, khuyến mại, thông điệp từ nhà sản xuất hay các thông tin mới
nhất về sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng. Có thể nói, dịch vụ bán lẻ
phản ánh chính xác nhu cầu thực tế thông qua quá trình theo sát người tiêu
dùng từ lúc chuẩn bị mua hàng đến sau khi mua và thỏa mãn nhanh nhất
những nhu cầu ấy.
1.1.2.3. Dịch vụ bán lẻ hướng tới người tiêu dùng cuối cùng
Dịch vụ bán lẻ là quá trình chuyển giao hàng hóa từ người bán lẻ đến
tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân hay gia đình của
họ chứ không vì mục đích mua về để bán lại, thu lợi nhuận. Người tiêu dùng có
thể nhận hàng hóa trực tiếp từ nhà bán lẻ hoặc gián tiếp thông qua đường bưu
điện, qua mạng internet, máy bán hàng… tùy theo sự tiện lợi của từng phương
thức này với cá nhân họ. Sự phát triển của ngành bán lẻ phụ thuộc chủ yếu nhu
cầu hàng hóa trên thị trường. Đó là lý do tại sao dịch vụ bán lẻ luôn hướng tới
người tiêu dùng cuối cùng và thị trường bán lẻ luôn diễn ra sôi động với sự xuất
hiện ngày càng nhiều chính sách lôi kéo khách hàng như: chương trình ưu đãi,
khuyến mại, phiếu quà tặng, chính sách “giá thấp cho mọi nhà”, “tối đa lợi ích cho
người tiêu dùng” hay “dịch vụ hấp dẫn, phục vụ tận nơi”…
1.1.3. Các mô hình tổ chức bán lẻ chính

người đặc quyền đã tạo ra. Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biến đối
với thức ăn nhanh, cửa hàng video, trung tâm phục hồi sức khỏe, hiệu cắt
tóc, cửa hiệu cho thuê ô tô, motel, công ty du lịch, bất động sản và hàng
chục các sản phẩm cùng lĩnh vực dịch vụ khác.
Tập đoàn bán lẻ: Các tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do,
kết hợp với một số hướng và hình thức bán lẻ khác nhau dưới quyền sở hữu
tập trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và
quản lý của mình. Tập đoàn bán lẻ gồm các công ty có mối quan hệ gắn bó
với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và liên kết với nhau bằng
quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của thị trường bán lẻ
hàng hóa.
-8-
1.1.4. Vị trí và vai trò của dịch vụ bán lẻ
1.1.4.1. Vị trí của bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối
1.1.4.1.1. Vị trí của phân phối bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối
Theo phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ phân phối được chia
thành 5 tiểu ngành và phân phối bán lẻ là một trong 5 tiểu ngành đó (5 tiểu
ngành này gồm: Dịch vụ đại lý hoa hồng, Dịch vụ bán buôn, Dịch vụ bán
lẻ, Cấp phép, Các dịch vụ khác).
Tuy nhiên, cũng theo tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 được hầu
hết các thành viên WTO sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng lộ trình cam
kết, thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối
(xem Bảng 1). [33]

Bảng 1: Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối Nguồn: Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống kê, HN, trang 596

Nguồn: Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống kê, HN, trang 596

Như vậy, người bán lẻ sẽ trực tiếp nhận hàng hóa từ nhà sản xuất, nhà
nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi chuyển tới người tiêu dùng. Nhà bán lẻ là mắt
xích cuối cùng trong chuỗi giá trị của hàng hóa. Vai trò của nhà bán lẻ là cực
kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán lẻ, người tiêu dùng có cơ hội
chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng. Người bán lẻ là
người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán lẻ
cũng chính là người nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu
hướng tiêu dùng của khách hàng.
1.1.4.2. Vai trò của ngành bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân
Nếu như sản xuất là gốc rễ, cung cấp hàng hóa vật phẩm cho nền kinh
tế thì hệ thống phân phối chính là huyết mạch của nền kinh tế ấy. Phân phối
bán lẻ đứng vị trí cuối cùng trong hệ thống nên nó đóng vai trò rất quan Nhà SX

cấp
hai
Kênh
cấp
ba
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng

Người
tiêu dùng

Người
tiêu dùng

Nhà bán
lẻ -10-
trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt trong
bối cảnh toàn cầu hóa với cơ cấu kinh tế chuyển dần từ công nghiệp - nông
nghiệp - dịch vụ sang dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.
Thứ nhất, phân phối bán lẻ cung cấp hàng hóa đến tay ngƣời tiêu
dùng cuối cùng
Khi phát sinh nhu cầu thì người ta mới có mong muốn về hàng hóa
nhưng không phải lúc nào người tiêu dùng có thể đến mua hàng hóa trực tiếp
từ các nhà sản xuất, nhà bán buôn được. Nhà bán lẻ mới thực sự có vai trò
thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa

tiêu thụ. Và ngược lại thì khi hàng hóa được tiêu thụ các doanh nghiệp mới
có thể tiếp tục sản xuất. Các nhà bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc
kích thích tiêu thụ và truyền bá những thông tin về hàng hóa cho nhà sản
xuất. Điều này có được là do họ tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối
cùng và hiểu được nhu cầu của người tiêu dùng. Các nhà bán lẻ sẽ có thể
tiếp tục những biện pháp kích thích tiêu thụ của nhà sản xuất, hoặc có thể có
phương pháp kích thích tiêu thụ của riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể nhận
hàng hóa đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hoặc nhà bán buôn, nhưng với nhiều
mặt hàng nhà bán lẻ cũng đảm nhiệm vai trò phân loại, sắp xếp, sơ chế, đóng
gói… để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và
dưới hình thức phù hợp nhất từ đó sẽ thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Hơn nữa, nhà bán lẻ còn có chức năng thiết lập mối liên hệ, tạo dựng và duy
trì mối liên hệ với người mua tiềm ẩn. Các doanh nghiệp có thể lôi kéo thêm
được khách hàng cũng một phần không nhỏ là dựa vào nhà bán lẻ. Sản xuất là
cái gốc của phân phối bán lẻ và bán lẻ tự nó có thể kích thích sản xuất mở rộng
và phát triển. Một doanh nghiệp thành công không chỉ làm tốt nhiệm vụ sản
xuất mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ hàng hóa của mình và
ai nắm được khâu phân phối bán lẻ thì qua đó sẽ điều phối cả sản xuất.
Thứ tƣ, phân phối bán lẻ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngƣời
lao động
Thống kê từ năm 2000 trở lại đây cho thấy, tỉ trọng lao động trong
ngành dịch vụ phân phối hàng hóa ngày càng gia tăng từ 10,4% (năm 2000) -12-
lên 12% (năm 2006). Nếu so sánh với ngành nông nghiệp thì đóng góp của
dịch vụ phân phối trong GDP không thấp hơn đáng kể so với ngành nông
nghiệp, nhưng lao động của lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hóa chỉ bằng
1/6 so với ngành nông nghiệp. Xu hướng chung là tỉ trọng lao động làm việc
trong lĩnh vực dịch vụ phân phối sẽ ngày càng gia tăng, còn trong ngành

Các nhà bán buôn, bán lẻ khi liên kết có hiệu quả với nhà sản xuất đã
tạo lập được lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho lợi ích của mình trước các đối
thủ cạnh tranh nước ngoài khi nước ta thực hiện các cam kết hội nhập kinh
tế quốc tế, vì họ phải mất thời gian và tiền của để tạo lập được mối liên kết
này. Mặt khác cùng với các cam kết tự do hóa thương mại và đầu tư để hội
nhập kinh tế quốc tế, nhà nước sẽ dỡ bỏ dần các rào cản thuế và phi thuế bảo
hộ cho các ngành sản xuất trong nước, khi đó liên kết hiệu quả giữa các nhà
bán buôn, bán lẻ và nhà sản xuất sẽ là các rào cản hiệu lực nhất của doanh
nghiệp Việt Nam để bảo vệ mình trước đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài.
1.2. Tổng quan về ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam
1.2.1. Chủ thể tham gia vào dịch vụ phân phối bán lẻ
Nếu như trước đây nền thương mại chủ yếu là do nhà nước độc
quyền thì giờ đây đã chuyển sang một nền thương mại đa thành phần. Sự
phát triển nhanh của khu vực kinh tế tư nhân, sự xuất hiện các nhà đầu tư
có vốn nước ngoài và quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
đã làm cho ngành thương mại biến đổi sâu sắc. Đến năm 2004 cả nước có
khoảng 54.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trên 1.000 DN có cổ phần
của nhà nước, trên 15 doanh nghiệp FDI và 1,16 triệu hộ gia đình (trong
tổng số 2,9 triệu hộ kinh doanh của cả nước) hoạt động trong lĩnh vực
thương mại trong nước. Ngoài ra, còn có trên 50 chi nhánh và trên 5.000
văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tham gia các hoạt động
hỗ trợ như nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại… [6]
Thêm vào đó là việc hội nhập ngày càng sâu sắc và toàn diện với
nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã và sẽ tiếp tục triển khai thực hiện những
cam kết của mình trong lĩnh vực dịch vụ phân phối, đặc biệt là những cam -14-
kết trong khuôn khổ của WTO. Theo đó, các nhà phân phối nước ngoài sẽ
từng bước được tham gia vào thị trường dịch vụ này ở Việt Nam một cách

doanh nghiệp phân phối hàng đầu Việt Nam gồm Satra, Hapro, Saigon
Co.op và Tập đoàn Phú Thái liên kết thành lập Công ty cổ phần Đầu tư và
Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) với số vốn lên đến 6.000
tỉ đồng. Với sự tự đổi mới, các doanh nghiệp cũng đã đạt được những
thành công đáng kể như chuỗi siêu thị Saigon Co.op đã được bầu chọn
nhà nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam và nằm trong top 500 nhà bán lẻ trong
khu vực Châu Á Thái Bình Dương. [9] [40]
Như vậy, có thể nói đây là khu vực có những chuyển biến tích cực
nhất trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, các doanh nghiệp
nhà nước nhìn chung có tiềm lực về tài chính và lợi thế về các cơ sở sản
xuất hơn nên đóng vai trò vừa là nhà phân phối vừa là nhà sản xuất và thu
mua hàng hóa để kinh doanh trong hệ thống phân phối của mình. Trong
khi đó, các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chủ yếu tập trung vào
hoạt động phân phối để tạo nên những hệ thống chuyên doanh phân phối
mà thường không tham gia vào hoạt động sản xuất như nhiều doanh
nghiệp nhà nước. Đây cũng là một trong những đặc điểm khá đặc thù của
Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống phân phối nói
riêng và hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa nói chung. Tuy
nhiên, nhìn chung các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối trong
nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức
quản lý kinh doanh, trình độ đội ngũ cán bộ so với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài cùng hoạt động trong lĩnh vực này.
- Nhóm đối tượng thứ hai - Các tập đoàn phân phối nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam. Trong những năm qua, các tập đoàn phân phối
nước ngoài đã bắt đầu tiếp cận, xâm nhập vào thị trường Việt Nam và đã
nhanh chóng có những đóng góp không nhỏ tạo nên một thị trường kinh
doanh hàng hóa và dịch vụ nội địa của Việt Nam đa dạng, phong phú và -16-

-17-
vực đối tượng này là hoạt động kinh doanh mang nặng tính tự phát, thiếu
kiến thức và kỹ năng để chống đỡ những rủi ro, biến động có thể xảy ra
trên thị trường và hầu hết đây là những lao động phổ thông, gần như
không qua bất kỳ trường lớp, khóa đào tạo nào về kỹ năng kinh doanh.
Hơn nữa, thông thường ở Việt Nam những hộ kinh doanh cá thể kiểu này
lại thường là đối tượng tạo ra thu nhập chính cho gia đình. Chính vì vậy,
những tác động dù nhỏ tới khu vực này cũng có thể dẫn tới ảnh hưởng lớn
tới cuộc sống của nhiều người khác là thành viên trong gia đình họ.
1.2.2. Hàng hóa lưu thông trên thị trường phân phối bán lẻ
Các loại hàng hóa tham gia lưu thông trên thị trường bán lẻ trong
nước cũng ngày càng đa dạng, phong phú cả về chủng loại và cấp độ sản
phẩm. Bên cạnh những hàng hóa được sản xuất trong nước, cùng với quá
trình mở cửa thị trường trong những năm gần đây, rất dễ để nhận ra rằng
ngày càng có nhiều loại hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài về phục
vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, đã và đang tạo nên một thị
trường nội địa hoạt động sôi động, đa dạng và nhiều màu sắc. Trong các
trung tâm thương mại lớn như Diamond plaza, Parkson, Zen Plaza, các
thương hiệu thời trang nổi tiếng trong và ngoài nước đã tập trung về đây.
Trong đó có những thương hiệu lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam như CK
(Anh), Mo&Co (Pháp) đã tạo nên các hiệu ứng không nhỏ đối với
người tiêu dùng.
1.2.3. Các hệ thống tổ chức bán lẻ tại Việt Nam
Khi nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên, thị trường hàng hóa trở
nên sôi động, các hệ thống bán lẻ cũng tự nó có những chuyển biến một
cách rất tích cực để đáp ứng nhu cầu đó. Từ hệ thống bán lẻ truyền thống
đến hệ thống hiện đại đều tăng đáng kể về cả số lượng và chất lượng.
1.2.3.1. Hệ thống chợ truyền thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status