Một số biện pháp vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn khoa học 4 - Pdf 40

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ MAI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP
BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội

HÀ NỘI - 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ MAI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP
BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội

Người hướng dẫn khoa học
TS.PHẠM QUANG TIỆP

HÀ NỘI - 2016


PPDH

: Phƣơng pháp dạy học

PPDH BTNB

: Phƣơng pháp dạy học Bàn tay nặn bột

PPBTNB

: Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

SGK

: Sách giáo khoa

SGV

: Sách giáo viên



2.5.1. Sự hiểu biết về phương pháp Bàn tay nặn bột của cán bộ, giáo viên
ở một số trường tiểu học .......................................................................... 30
2.5.2. Thực trạng tổ chức dạy học môn Khoa học hiện nay..................... 30
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN
BÔT TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 .................................. 37
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp .............................................................. 37
3.1.1. Khai thác thế mạnh của phương pháp Bàn tay nặn bột ................. 37
3.1.2. Phù hợp với đặc trưng môn Khoa học ở Tiểu học ......................... 37
3.1.3. Phù hợp với đặc điểm của học sinh tiểu học .................................. 37
3.1.4. Phù hợp với thực tiễn dạy học ở Tiểu học hiện nay ....................... 38
3.2.2. Vận dụng linh hoạt quy trình của phương pháp Bàn tay nặn bột .. 47
3.2.3. Chuẩn bị nguồn công cụ, phương tiện, vật liệu phục vụ dạy học
môn khoa học theo phương pháp Bàn tay nặn bột ................................... 49
3.3. Minh họa thiết kế giáo án trong môn Khoa học lớp 4 theo phƣơng pháp
Bàn tay nặn bột ............................................................................................ 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 58
KẾT LUẬN .................................................................................................. 58
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 60
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 61


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hiện nay ở nƣớc ta, vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học diễn ra
một cách sôi động trên bình diện cả về lý luận cũng nhƣ về thực tiễn. Định
hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học đƣợc nghị quyết Trung ƣơng lần II Ban
chấp hành Trung ƣơng khóa VIII khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phƣơng
pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp
tƣ duy sáng tạo của ngƣời học, từng bƣớc áp dụng phƣơng pháp tiên tiến, các

trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức.
1.3.Khoa học là môn chiếm vị trí quan trọng trong các môn học ở tiểu
học. Đây là môn tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thực nghiệm
nhƣ: Vật lý, hóa học, sinh học. Vì vậy, môn này có nhiều thuận lợi để vận
dụng các phƣơng pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học để
bƣớc đầu hình thành cho học sinh phƣơng pháp học tập mang tính chất tìm
tòi, nghiên cứu, rèn luyện nếp tƣ duy sáng tạo cho học sinh.
1.4.Thực tiễn dạy học môn Khoa học ở trƣờng tiểu học cho thấy, giáo
viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng phƣơng pháp dạy học. Các
phƣơng pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ƣu thế, học sinh học tập còn thụ
động. Các thí nghiệm khoa học trong bài còn mang tính chất minh họa. Giáo
viên còn tự mình trình bày, biểu diễn các thí nghiệm thực hành để minh họa
cho kiến thức của bài học mà ít tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động này
để các em chiếm lĩnh tri thức khoa học một cách chủ động, thỏa mãn đƣợc
nhu cầu tìm tòi hiểu biết, óc tò mò khoa học của học sinh tiểu học. Vì vậy, các
giờ học còn mang tính áp đặt, kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh trong giờ học
chƣa cao, học sinh ít đƣợc tham gia vào quá trình dạy học.
Việc tìm kiếm và vận dụng các phƣơng pháp tiên tiến vào quá trình dạy
học ở tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng để

2


hình thành cho học sinh những phƣơng pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó
nâng cao chất lƣợng dạy học. Một trong những phƣơng pháp có ƣu điểm, đáp
ứng đƣợc mục tiêu trên và có thể vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn
Khoa học ở tiểu học là phƣơng pháp Bàn tay nặn bột. Trong những năm gần
đây, phƣơng pháp Bàn tay nặn bột bƣớc đầu đƣợc thử nghiệm vào quá trình
dạy học môn Khoa học ở một số trƣờng tiểu học ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu chỉ ở mức độ hạn hẹp, mang tính chất thử nghiệm ở một số bài

5.2. Tìm hiểu thực trạng vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột trong
dạy học môn Khoa học lớp 4.
5.3. Đề xuất một số biện pháp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài giới hạn nghiên cứu dạy học Bàn tay nặn bột trong dạy học
môn Khoa học lớp 4.
- Địa bàn điều tra: Trƣờng Tiểu học Trƣng Nhị, thị xã Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích các tài liệu có liên quan đến phạm vi, nội dung nghiên cứu để
thu tập thông tin, tổng hợp các vấn đề mà xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Phương phápnghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phƣơng pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học môn Khoa
học ở trƣờng tiểu học để thu tập những thông tin cần thiết cho đề tài.
7.2.2. Phƣơng pháp điều tra: Điều tra đƣợc tiến hành theo mẫu phiếu
hỏi để thu đƣợc những thông tin làm rõ thực trạng giảng dạy và những hiểu
biết của giáo viên về phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
7.2.3. Phƣơng pháp thống kê toán học

4


Sử dụng thống kê toán học để tổng hợp kết quả điều tra của các kết quả
nghiên cứu.
8. Cấu trúc khóa luận
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn
bột trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
Chƣơng 2: Thực trạng của việc vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột

cho học sinh một cách đơn giản “chân lý là thế” và bắt các em phải chấp
nhận. Sau một năm thực nghiệm, bắt đầu từ năm học 2001 – 2002, PPBTNB
chính thức đƣợc Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp đƣa vào chƣơng trình dạy học

6


các môn Khoa học ở trƣờng tiểu học. Sau đó, chƣơng trình này tiếp tục đƣợc
phổ biến dần trên thế giới.
Tháng 8/2001, chƣơng trình “Learning by doing” do Bộ Giáo dục
Trung Quốc, Hội Khoa học và công nghệ Trung Quốc khởi xƣớng chính thức
khởi động với sự giúp đỡ của Viện hàn lâm khoa học Pháp và ISCU đã vận
dụng PPDH BTNB vào dạy học ở các trƣờng tiểu học. Bƣớc đầu chỉ ở một số
thành phố lớn và nay đã đƣợc thực nghiệm rộng rãi trên nhiều tỉnh.
Tháng 12/2002, Hội thảo quốc tế lần hai về dạy học các môn Khoa học
ở trƣờng tiểu học diễn ra htại Braxin. Sau đó, một loạt các lớp bồi dƣỡng về
PPDHBTNB đƣợc tổ chức ở Braxin, Mexico và một số nƣớc châu Phi.
Tháng 9/2003, tại Kuala Lumpua (Malayxia), lần đầu tiên Hội thảo
dạy học các môn Khoa học – PPDH BTNB đƣợc tổ chức với sự tham gia của
10 nƣớc Asian cùng Trung Quốc và Pháp.
Ở Việt Nam, dƣới sự giúp đỡ của GS.Trần Thanh Vân, nhóm giảng
viên ngành Vật lý trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội và nhóm sinh viên khoa
vật lý của trƣờng đã đƣa PPDH BTNB vào thử nghiệm ở một số trƣờng tiểu
học ở Hà Nội nhƣ: Trƣờng tiểu học Đoàn Thị Điểm, Trƣờng tiểu học
SOS,…Thêm vào đó, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội chủ trì tổ chức, phối
hợp tất cả các lực lƣợng trong nƣớc để triển khai theo tiêu chí cụ thể “Mỗi
năm, mỗi một nội dung có thêm giáo án dạy theo bàn tay nặn bột”.
1.1.2. Khái niệm phương pháp Bàn tay nặn bột
Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột (Tiếng Anh gọi là “Hands on”, tiếng
Pháp là La Main à la Pate, dịch sang tiếng Việt Nam là “Bàn tay nặn bột”) là

- Phƣơng pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà nghiên cứu Khoa
học đứng trƣớc một tình huống có vấn đề các em tự mình tìm tòi, khám phá ra
kiến thức thông qua việc tiến hành thí nghiệm, trao đổi, thảo luận ý kiến với
mọi ngƣời dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên.

8


- Học sinh học tập bằng hành động học sinh sẽ thấy mình học tập tiến
bộ dần qua quá trình tƣ duy, thắc mắc khi đứng trƣớc một vấn đề nào đó,
cùng thảo luận với bạn bè để đối chiếu quan điểm, tìm ra kiến thức đúng đắn
thông qua việc thiến hành làm thí nghiệm để kiểm chứng.
- Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột cho phép học sinh thoải mái đƣa ra
quan điểm của mình về sự vật, hiện tƣợng đó là những hiểu biết ban đầu của
học sinh. Những hiểu biết này có thể đúng, có thể không đúng, chƣa đầy đủ,
ngây ngô,…nhƣng vẫn đƣợc tôn trọng và khích lệ, giúp tạo niềm tin cho các
em. Và với những kiến thức đó học sinh sẽ tự mình nhận thức, sửa chữa tính
chính xác hay không sau khi tiến hành làm thí nghiệm kiểm chứng.
- Thƣờng các buổi học ở lớp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
chủ đề thƣờng xoay quanh những vấn đề gần gũi với học sinh để giúp học
sinh tiếp thu kiến thức, nắm đƣợc cách tiến hành và rèn luyện ngôn ngữ.
- Dụng cụ để học tập thực hành PPBTNB cũng vô cùng đơn giản, gần
gũi, dễ tìm với các em học sinh ví dụ nhƣ: con dao, cái cốc, chai nƣớc, hạt
đậu, nụ hoa, cát, nƣớc, túi nilon,…
- Các thao tác trên thí nghiệm cũng vô cùng đơn giản.
1.1.4. Cơ sở khoa học của phương pháp Bàn tay nặn bột
1.1.4.1. Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu
Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phƣơng pháp dạy
và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh,
bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũng

Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với học sinh theo độ tuổi là
một vấn đề quan trọng đối với giáo viên. Giáo viên phải tự đặt ra các câu hỏi
nhƣ: Có cần thiết giới thiệu kiến thức này không? Cần thiết giới thiệu kiến
thức này vào thời điểm nào? Cần yêu cầu học sinh hiểu kiến thức này ở mức
độ nào? Giáo viên có thể tìm câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu chƣơng
trình, sách giáo khoa và tài liệu hỗ trợ giáo viên (sách giáo viên, sách tham

10


khảo, hƣớng dẫn thực hiện chƣơng trình) để xác định rõ hàm lƣợng kiến thức
tƣơng đối với trình độ cũng nhƣ độ tuổi của học sinh và điều kiện địa phƣơng.
c.Cách thức học tập của học sinh
Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho
phép giáo viên hiểu rõ hơn cách thức mà học sinh tiếp thu các kiến thức khoa
học. Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột cho thấy cách thức học tập của học sinh là
tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình qua
việc tham gia các hoạt động nghiên cứu. Các hoạt động nghiên cứu cũng gợi ý
cho học sinh tìm kiến thức để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sự
tƣơng tác với các học sinh khác cùng lớp để tìm phƣơng án giải thích các hiện
tƣợng. Các suy nghĩ ban đầu của học sinh rất nhạy cảm, ngây thơ, có tính logic
theo cách suy nghĩ của học sinh, tuy nhiên thƣờng là sai về mặt khoa học.
d.Quan niệm ban đầu của học sinh
Quan niệm ban đầu là những biểu tƣợng ban đầu, ý kiến ban đầu của
học sinh về sự vật, hiện tƣợng trƣớc khi đƣợc tìm hiểu về bản chất sự vật,
hiện tƣợng. Đây là những quan niệm đƣợc hình thành trong vốn sống của học
sinh, là các ý tƣởng giải thích sự vật, hiện tƣợng theo suy nghĩ của học sinh,
còn gọi là “các khái niệm ngây thơ”. Thƣờng thì các quan niệm ban đầu này
chƣa tƣờng minh, thậm trí còn mâu thuẫn với các giải thích khoa học mà học
sinh sẽ đƣợc học. Biểu tƣợng ban đầu không là kiến thức cũ, kiến thức đã

của học sinh. Do vậy việc hiểu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học cũng
là một thuận lợi lớn cho giáo viên khi giảng dạy theo phƣơng pháp Bàn tay
nặn bột.
1.1.4.2. Tiến trình cụ thể khi dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Bao gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Quá trình chuẩn bị
Đây là giai đoạn định hƣớng cho quá trình dạy học bằng phƣơng pháp
Bàn tay nặn bột, do đó giáo viên phải chuẩn bị kỹ từ việc xác định mục tiêu,

12


nội dung bài học đến việc lựa chọn tình huống xuất phát, chuẩn bị cơ sở vật
chất cần thiết cho bài dạy đồng thời cần phải dự kiến các vấn đề nảy sinh,
những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình dạy để có thể chủ động xử lý
một cách thích hợp.
- Về mục tiêu: giáo viên cần xác định đƣợc những mục tiêu cơ bản nhƣ
kiến thức, kỹ năng, thái độ mà học sinh cần đạt đƣợc sau bài học. Việc xác
định đúng trọng tâm bài học thì việc tổ chức dạy học theo PPBTNB mới tiến
hành đúng hƣớng và đạt kết quả tốt.
- Về đồ dùng dạy học: Từ mục tiêu đề ra của bài học mà GV chuẩn bị
các dụng cụ thích hợp với nội dung bài học. Khi dạy bằng PPBTNB ngoài
việc chuẩn bị dụng cụ dạy học đầy đủ theo nội dung bài, GV cần phải dự kiến
trƣớc những dụng cụ mà HS có thể đề xuất ra trong quá trình làm thí nghiệm
để chuẩn bị thêm. Các dụng cụ dạy học bao gồm: tranh, ảnh, máy chiếu, vật
dụng thí nghiệm, mãu vật, vật thật,…Chú ý dụng cụ học tập phải đảm bảo phù
hợp với trình độ nhận thức của học sinh, phù hợp với nội dung bài học, điều
kiện vật chất của nhà trƣờng và địa phƣơng bên cạnh đó cũng càn phải đảm
bảo tính khoa học và tính sƣ phạm.
Đây là bƣớc quan trọng nhất đối với PPBTNB. Nếu không có đồ dùng

tƣợng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học
có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình bày
biểu tƣợng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của
học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết
hay vẽ biểu hiện suy nghĩ.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án tìm tòi
Đề xuất câu hỏi:
Từ những khác biệt và phong phú về biểu tƣợng ban đầu của HS, GV
sẽ giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó, đặc biệt là sự khác biệt liên
quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. Vì đây là một bƣớc khá khó khăn

14


vì GV phải chọn lựa các biểu tƣợng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu
tƣợng của HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ
dạy học. GV cần khéo léo chọn lựa, gợi ý, định hƣớng mốt số biểu tƣợng ban
đầu khác biệt trong lớp để giúp HS so sánh những điểm giống nhau và khác
nhau giữa các biểu tƣợng để từ đó có thể giúp học sinh dễ dàng đề xuất câu hỏi.
Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ những câu hỏi đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề
xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó.
GV nên khuyến khích các em đề xuất phƣơng án thực nghiệm, không nên
nhận xét đúng hay sai. Nếu ý kiến của học sinh nêu có ý đúng nhƣng ngôn từ
chƣa chuẩn xác hoặc diễn đạt chƣa rõ thì GV có thể gợi ý và từng bƣớc giúp
HS hoàn thiện diễn đạt.
Sau khi HS đề xuất phƣơng án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, GV
nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phƣơng pháp thí nghiệm đã chuẩn
bị sẵn. Trƣờng hợp HS không đƣa ra đƣợc phƣơng án thí nghiệm tìm tòi –
nghiên cứu thích hợp, GV có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phƣơng án nếu gợi

nghiệm vào vở thực hành. Việc ghi chép này GV nên để HS ghi chép tự do
bằng chính ngôn ngữ của các em. Giáo viên cũng có thể thiết kế một mẫu sẵn
để HS điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm vào phiếu, đối với các thí
nghiệm phức tạp.
Bước 5: kết luận kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần
dần đƣợc giải quyết, kiến thức đƣợc hình thành, tuy nhiên vẫn chƣa có hệ
thống hoặc chƣa chuẩn xác một cách khoa học.
Giáo viên nên tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở
coi nhƣ là kiến thức của bài học. Trƣớc khi kết luận chung, giáo viên nên yêu
cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm (rút

16


ra kiến thức của bài học). Đến bƣớc này HS sẽ có cơ hội nhìn nhận, so sánh,
đối chiếu lại với những biểu tƣợng ban đầu mà mình nêu ra từ đó giúp các em
tự thấy đƣợc mình sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp
đặt. Từ đó HS sẽ có thể tự sửa chữa, điều chỉnh lại kiến thức cho mình một
cách chủ động. Ddieuf này sẽ giúp HS nhớ kiens thức lâu hơn, sâu sắc hơn.
1.2. Dạy học môn Khoa học lớp 4
1.2.1. Mục tiêu môn khoa học lớp 4
Về kiến thức: HS có một số kiến thức cơ bản, ban đầu, thiết thực về:
- Sự trao đổi chất của cơ thể ngƣời, cách phòng tránh một số bệnh
thông thƣờng và bệnh truyền nhiễm.
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động, thực vật.
- Đặc điểm và ứng dụng một số chất, một số vật liệu và năng lƣợng
thƣờng gặp trong đời sống và sản xuất.
Về kỹ năng: Bƣớc đầu hình thành và phát triển một số kỹ năng:
- Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức

qua đƣờng tiêu hóa đặc biệt nếu biết đƣợc trạng thái nhƣ thế nào khi bị bệnh
và khi đã bị bệnh thì phải ăn uống ra sao? Bài học cuối cùng trong chủ đề này
cho ta biết đƣợc những việc làm để phòng tránh tai nạn đuối nƣớc, có ý thức
phòng tránh.
Chủ đề: Vật chất và năng lượng (Nƣớc; Không khí; âm thanh; Ánh
sáng; Nhiệt) gồm 38 bài. Ở chủ đề này HS sẽ biết đƣợc nƣớc có tính chất gì?
Tồn tại nhƣ thế nào? Biết đƣợc vòng tuần hoàn của nƣớc trong tự nhiên, vị trí,
vai trò của nƣớc trong cuộc sống, những việc làm cần thiết để bảo vệ nguồn
nƣớc. Nƣớc và không khí là hai yếu tố quan trọng của sự sống vì vậy trong
chủ đề này cung cấp cho HS những kiến thức liên quan đến không khí nhƣ:
cách nhận ra không khí, khong khí có những tính chất gì, có những thành
phần nào, vai trò, tác dụng của không khí,…Ngoài nƣớc và không khí âm
thanh cũng đƣợc đề cập đến trong chủ đề này. Biết đƣợc sự hình thành của

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status