SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG DẠY HỌC SỬ 9
Người thực hiện: Mai Thị Hiên
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: THCS Nga Văn
SKKN thuộc lĩnh vực: Lịch sử
THANH HÓA NĂM 2015
1
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử là một một môn học đặc thù với những chuỗi sự kiện, diễn biến
đã diễn ra trong quá khứ. Vì vậy, nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục
lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào
trong cuộc sống hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, hiện nay phần đông học sinh không thích học lịch sử vì đây là
môn học được các em coi là rất khó, lại là môn phụ, nên việc dạy học lịch sử
của giáo viên trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Vậy làm thế nào để học sinh sẽ
yêu thích môn học và tự giác trong học tập, ham muốn tìm tòi, sáng tạo. Một
trong những phương pháp quan trọng để đem lại hiệu quả cho người giáo viên
dạy lịch sử ở trường THCS là vấn đề tự học của học sinh.
Trước hết, cần quan niệm như thế nào về việc tự học của học sinh? Trong
việc tự học, không chỉ chú ý đến việc học sinh tự đọc sách, làm việc không có
được, không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến
thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh này khi đọc
sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin,
lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Vì vậy, việc đi sâu vào hoạt
động tự học của học sinh trong dạy học sẽ giúp các em học được phương
pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy của bản
thân
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trước khi thực hiện đề tài này tôi đã khảo sát chất lượng của học sinh và
thu được kết quả như sau:
Lớp
9B
Tổng
số HS
43
Giỏi
SL
%
2
4.7
Khá
SL
13
%
30.2
chán nản về môn học, kết quả làm bài không cao.
- Vì lượng kiến thức trong các tiết học tương đối nhiều, lại kèm theo
nhiều sự kiện lịch sử cùng với các mốc thời gian, số tiết làm bài tập thì không
có trong chương trình như các khối dưới, nên giáo viên cũng không có nhiều
thời gian để dẫn dắt học sinh rèn luyện kĩ năng trình bày suy nghĩ của mình
thông qua lời nói nhằm phát triển khả năng đàm thoại trước mọi người.
III- GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Căn cứ vào tình hình thực tế trên, vấn đề đặt ra với giáo viên là làm như thế
nào để giúp học sinh hiểu được lịch sử tức là phải nắm được bản chất của sự
kiện, từ đó các em thấy được lịch sử là môn học bổ ích, dễ hiểu, các em sẽ trở
nên yêu thích môn học, tự giác học tập, luôn tìm tòi và sáng tạo. Muốn vậy,
trong các tiết giảng dạy, giáo viên cần khuyến khích năng lực tự học của học
sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên thông qua những hoạt động độc lập chủ
yếu của học sinh như sau:
1.Những hoạt động tự nhận thức khi nghe giáo viên giảng bài
a) Sử dụng sách giáo khoa trên lớp:
Trước giờ học, học sinh có thể đã đọc bài viết trong sách giáo khoa ở nhà
theo sự hướng dẫn của giáo viên. Vì vậy, trong quá trình giáo viên trình bày,
học sinh kết hợp theo dõi bài giảng và bài viết trong sách giáo khoa. Do đó ở
trên lớp, giáo viên không nên trình bày lại sách giáo khoa, điều đó làm mất
hứng thú của học sinh khiến các em có suy nghĩ: ở trong sách đã có cả rồi nên
không cần ghi chép hay lắng nghe và suy nghĩ. Đôi khi nên cho học sinh đọc
to, cả lớp cùng nghe một đoạn trong sách giáo khoa để thay cho phần trình
bày tài liệu mới, nếu phần đó chỉ cần thông tin tài liệu mới. Cũng có thể giáo
viên để cả lớp tự đọc một đoạn trong sách rồi đặt câu hỏi để học sinh trả lời.
Điều quan trọng trong việc sử dụng sách giáo khoa trên lớp là gíao viên
hướng dẫn học sinh nắm vững những nội dung quan trọng cần ghi nhớ, phân
tích những sự kiện cơ bản, rút ra kết luận khái quát, trả lời câu hỏi đặt ra.
Giáo viên phải làm cho học sinh thấy được sự thống nhất giữa bài giảng với
sách giáo khoa, hiểu được ý đồ của thầy khi bổ sung kiến thức ngoài sách
+ Trong khi học sinh trả lời, giáo viên kết hợp ghi bảng ngắn gọn sự
kiện:
- Nội dung: phân chia khu vực ảnh hưởng (sgk)
-> Xác lập Trật tự hai cực Ianta
+ Sau đó giáo viên nêu câu hỏi đòi hỏi tư duy độc lập của HS:
? Tại sao những thỏa thuận quy định trong hội nghị đã trở thành khuôn khổ
của một trật tự thế giới mới ( em hiểu như thế nào là “trật tự”, “khuôn khổ”)
5
? Tại sao gọi là trật tự hai cực do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực
Đối với hai câu hỏi trên, nếu HS không thể trả lời ngay thì GV cần đưa
ra các câu hỏi gợi mở, hoặc lấy những ví dụ đơn giản, gần gũi, để các đôí
tượng HS đều dễ hình dung và đưa ra câu trả lời. Từ đó, GV kết luận nội dung
của tiểu mục và dẫn dắt sang tiểu mục mới.
Với cách dạy như trên, học sinh sẽ không bị nhàm chán bởi giáo viên chỉ
tập trung nói lại và ghi lại những kiến thức đã có trong SGK, các em sẽ được
làm việc tích cực bằng chính tư duy của mình để lí giải cho những kiến thức
mà SGK đã cung cấp, đồng thời kết hợp ghi dàn ý vào vở như giáo viên đã
ghi trên bảng, ngoài ra các em còn có thời gian để ghi thêm một số kiến thức
mà các em cảm thấy quan trọng cần phải lưu lại .
b) Ghi bài trên lớp:
Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi chép trên lớp ở những công việc sau:
* Thứ nhất, ghi dàn bài học, theo dàn bài của giáo viên trên bảng đen và
đối chiếu khi theo dõi sách giáo khoa để ghi những sự kiện chính.
* Thứ hai, vẽ lại trong vở ghi những hình vẽ giáo viên trình bày trên
bảng đen để minh hoạ cho bài giảng (những hình vẽ đơn giản song có nội
dung kiến thức).
Ví dụ: Khi dạy tiết 19-Bài 16- MụcII Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô(19231924). Khi GV nói đến sự kiện:Nguyễn Ái Quốc trình bày quan điểm về mối
quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách
Hoàn thành cải cách ruộng -Đấu tranh chống Mĩ-Diệm,
đất
giữ gìn và phát triển lực
lương.
-“Đồng khởi” thắng lợi
Từ 1961-1965 Thực hiện kế hoạch nhà nước Đấu tranh chống chiến lược
5 năm nhằm bước đầu xây “Chiến tranh đặc biệt” của
dựng cơ sở vật chất cho Mĩ
CNXH
Từ 1965-1968 Vừa chiến đấu chống chiến Đấu tranh chống chiến lược
tranh phá hoại lần thứ nhất “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ
của Mĩ, vừa sản xuất thực
hiện nghĩa vụ hậu phương
Từ 1969-1973 -Khôi phục và phát triển kinh Đấu tranh chống chiến lược
tế-văn hóa
“Việt Nam hóa chiến tranh”
- Chiến đấu chống chiến và “Đông Dương hóa chiến
tranh phá hoại lần thứ hai, tranh” của Mĩ
vừa sản xuất và làm nghĩa vụ
hậu phương
Bảng niên biểu này giúp các em hệ thống được kiến thức trong suốt
chặng đường dài của lịch sử thời kì đất nước bị chia cắt thành hai miền, các
em sẽ không bị lẫn lộn nhiệm vụ của mỗi miền trong mỗi giai đoạn lịch sử
* Thứ tư, ghi các tài liệu lịch sử gốc, câu nói nổi tiếng của các danh
nhân, câu trích trong tác phẩm các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin,
Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng và Nhà nước... ghi chép phải liên hệ sự
kiện đang học với câu trích.
7
Tất cả những công việc giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà đếu
được giáo viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá và cho điểm vào đầu giờ học.
Như vậy, việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của bộ môn sẽ trở thành thói
8
quen tốt, giúp các em không ngừng tìm tòi nâng cao hiểu biết, không bị giới
hạn bởi những kiến thức trong SGK
Ví dụ: Khi dạy sử 9- Tiết 14- Bài 13- Mục I-Những thành tựu chủ yếu
của cách mạng khoa học -kĩ thuật
- HS cần ghi lại ngắn gọn các nội dung cơ bản:
+ Những thành tựu trong lĩnh vực khoa học cơ bản
+ Những phát minh về công cụ sản xuất mới
+ Tìm ra những nguồn năng lượng mới
+ Sáng chế ra những vật liệu mới
+ Cách mạng xanh trong nông nghiệp
+ Tiến bộ trong giao thông vận tải, thông tin liên lạc
+ Thành tựu trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ
- Vì đây là phần kiến thức mang tính tổng hợp của các nghành khoa học
nên có nhiều khái niệm khó hiểu. Vì vậy các em cần ghi lại những nội dung
khó hiểu để tìm câu trả lời, trong trường hợp các em không thể tìm được câu
trả lời thì giờ học ở trên lớp sẽ là mong đợi của các em để các em có thể tìm
thấy đáp án dưới sự chỉ dẫn của giáo viên hoặc thông qua sự hiểu biết của các
bạn trong lớp
- Câu hỏi cuối tiểu mục I: Cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật trong thời
gian gần đây có những thành tựu nào quan trọng đáng chú ý?
Đối với câu hỏi này, tất cả các đối tượng HS đều có thể trả lời vì các em
đã tóm tắt được những vấn đề cơ bản trước đó. HS cũng sẽ trả lời được một
cách cụ thể chi tiết thành tựu của mỗi lĩnh vực dựa vào SGK nếu như GV yêu
Sóng vô dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương…
…Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng Bác chống lại cả mùa đông băng gía
Và sương mù thành Luân Đôn có nhớ
Giọt mồ hôi người nhỏ giữa đêm khuya.
Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi
Những đất tự do những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi
Đêm mơ nước ngày thấy hình của Nước
Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
10
Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa…
…Nước Việt Nam nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê
Thành nước Việt Nam nhân dân mát suối
Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc mới
Những đời thường cũng có bóng hoa che
Ôi đường đến với Lê Nin là đường về tổ quốc
Tuyết Mát cơ va sáng ấy lạnh trăm lần
Trông tuyết trắng như đọng nghìn nước mắt
Lê Nin mất rồi nhưng Bác chẳng dừng chân
Luận cương của Lê Nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa nhưng Bác đã đến rồi
Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đất
* Dựa trên các nguồn tư liệu đó, tích cực tư duy bằng cách tự đặt ra
những vấn đề cần giải quyết giúp nâng cao kiến thức
Ví dụ: Qua việc quan sát bức ảnh “Một người thoát chết trong nạn diệt
chủng đang khấn trước đầu lâu của các nạn nhân”, em có nhận xét gì về chế
độ phân biệt chủng tộc mà chính quyền da trắng đã áp dụng ở Cộng hòa Nam
Phi?
4. Sử dụng bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một
ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết
hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy
tích cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Đặc biệt bản đồ tư duy là một
sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ
thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc,
hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người
có thể “thể hiện” nó dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc
lập bản đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của học sinh. Có
thể vận dụng bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến
thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương và giúp
học sinh hiểu bài, nhớ lâu, nhớ sâu.
13
Giáo viên hướng dẫn học sinh đi từ khái quát đến cụ thể, hướng dẫn học
sinh lập bản đồ tư duy: ( Nội dung chìa khóa là cây
cành
nhánh)
từ đó học sinh mở rộng, phát triển thêm.
Ví dụ: Sau khi học xong sử 9- Tiết 6-Bài 5: Các nước Đông Nam Á. GV
hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy khái quát lại nội dung kiến thức cơ bản mà
14
%
32,5
Yếu - kém
SL
%
0
0
14
- So với trước khi thực hiện đề tài này, số học sinh đạt điểm khá- giỏi tăng
lên, số học sinh trung bình giảm xuống, đặc biệt là số học sinh yếu- kém
không còn
- Góp phần nâng cao và mở rộng kiến thức cho học sinh
- Phát triển năng lực tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ, mạnh dạn trình bày
suy nghĩ của bản thân và say mê học tập môn lịch sử hơn
3. Bài học kinh nghiệm:
- Bản thân tôi luôn cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình
theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh thông qua các phương
pháp dạy học trên
- Tôi đã tích cực hướng dẫn học sinh phương pháp học tập để các em có
thể tự học mọi lúc chứ không chỉ dừng lại học ở trên lớp, học với nhiều nguồn
tư liệu trên nhiều kênh thông tin, không ngừng trau dồi kiến thức. Thông qua
hoạt động này những học sinh yếu kém được làm việc một cách tích cực dưới
sự hướng dẫn của giáo viên, nắm chắc kiến thức, khắc sâu về bản chất của sự
kiện, hiện tượng lịch sử.
cách giảng dạy bộ môn lịch sử
* Đối với giáo viên:
- Soạn bài, nghiên cứu kĩ bài giảng, lựa chọn kiến thức, dạy học bằng
phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, hệ thống câu hỏi rõ ràng, chuẩn
mực, lôgic
- Cần khen-chê kịp thời, bổ sung thiếu sót và cố gắng tìm ý đúng trong
câu trả lời của học sinh để kích thích các em học tập, tổ chức cho học sinh
làm việc độc lập, đàm thoại, trao đổi bài chéo, đồng thời thường xuyên kiểm
tra việc chuẩn bị bài ở nhà, chấm vở bài tập để kiểm tra việc học của học sinh.
- Tổ chức tốt hoạt động học tập nhóm và cá nhân để thực hiện tốt việc đối
thoại và đàm thoại trong học tập.
- Tăng cường hoạt động chuyên môn theo nhóm, tổ, cụm và có sổ dự giờ,
góp ý, rút kinh nghiệm.
*Đối với học sinh:
- Có đầy đủ SGK, sách bài tập, vở bài tập
- Cần tự giác, tích cực, chủ động trong học tập
- Biết vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tế
Hướng dẫn, rèn luyện khả năng, thói quen tự học cho học sinh còn thể hiện
việc tôn trọng nhân cách của các em, gây cho các em lòng tự tin, chống ỷ lại,
lười biếng trong làm việc và suy nghĩ. Hiện nay, chúng ta đã có nhiều điều
16
kiện để mở rộng việc tự học của học sinh trong môn Lịch Sử. Cần thực hiện
phương châm “Lấy học sinh làm trung tâm” chống việc học thụ động.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ