BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THU THẢO
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN
Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THU THẢO
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN
Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2
Chuyên ngành
: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số
: 60 14 01 01
Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Thu Thảo
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
VD
: Ví dụ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu............................................................................. 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
6. Giả thuyết khoa học .............................................................................. 4
7. Những đóng góp của luận văn .............................................................. 4
văn bản kể chuyện ........................................................................... 62
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM .................................................... 71
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm....................................................... 71
3.2. Đối tượng và phạm vi thực nghiệm sư phạm................................... 71
3.3. Kế hoạch và cách thức thực nghiệm ................................................ 72
3.4. Nội dung thực nghiệm...................................................................... 73
3.5.Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm............................................ 73
3.5.1.Những căn cứ để đánh giá kết quả thực nghiệm ................... 73
3.5.2.Kết quả thực nghiệm .............................................................. 74
3.6. Kết luận về thực nghiệm .................................................................. 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 83
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, khi thế giới bắt đầu chuyển mạnh sang nền
kinh tế tri thức và xã hội tri thức thì tư duy sáng tạo là một năng lực quan
trọng của con người hiện đại. Nước ta khi bước vào thời kì công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tất yếu đòi hỏi nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu của thời đại. Trong bối cảnh đó, ngành Giáo dục có trách nhiệm đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó năng lực tư duy sáng tạo cũng được
các nhà giáo dục xác định đó là một trong những năng lực cần phát triển cho
HS ở mọi cấp học.
Tiểu học là cấp học đầu tiên của bậc phổ thông, là cấp học nền tảng cho
hệ thống giáo dục quốc dân, là tiền đề cho quá trình đào tạo và phát triển năng
lực của những công dân tương lai. Điều 27, Luật Giáo dục quy định: “Giáo
chính thức học từ lớp 2. Lâu nay, đối với việc Tập làm văn các GV thường
hướng dẫn HS làm bài theo một mô típ quen thuộc làm giảm khả năng sáng
tạo, trí tưởng tượng của mỗi HS. Sau này, mặc dù tinh thần cốt lõi trong chủ
trương đổi mới giáo dục là phát huy tính tích cực của người học nhưng trong
hoạt động dạy tiếng Việt cũng như hoạt động hướng dẫn tạo lập văn bản vẫn
chưa được quan tâm đầy đủ, vẫn chỉ đi vào tái hiện kiến thức mà chưa đi vào
phát huy tính sáng tạo của người học. Cách dạy như vậy cùng với sự lúng
túng của người GV khi định hướng về cách tạo lập sáng tạo chính là nguyên
nhân dẫn đến tình trạng HS có thể viết một văn bản đủ nội dung, đúng trình tự
nhưng đó đơn thuần chỉ là những bài tạo lập khô cứng, máy móc.
Đối với học sinh lớp 2, phân môn Tập làm văn là môn học mới, khả
năng tìm hiểu đề bài của các em còn yếu, câu văn các em viết còn sai ngữ
pháp, dùng từ chưa chính xác, ý văn rời rạc, thiếu chặt chẽ, không thể hiện
được cảm xúc của mình trong bài.
Xuất phát những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Phát
triển khả năng sáng tạo của học sinh trong tạo lập văn bản ở môn Tiếng
Việt lớp 2”. Chúng tôi hi vọng đề tài có thể góp phần vào việc nâng cao hiệu
3
quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung và dạy tạo lập văn bản cho HS Tiểu
học, đặc biệt là HS lớp 2 nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất biện pháp phát triển khả năng sáng tạo của HS trong lập văn bản
nhằm giúp người học phát triển năng lực tư duy và khả năng làm việc độc lập.
- Góp phần vào đổi mới phương pháp dạy tạo lập văn bản cho HS nói
riêng và dạy môn Tiếng Việt nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến vấn đề tạo lập văn bản để xây
Nếu biên soạn được nội dung dạy học Tập làm văn và tổ chức, hướng
dẫn HS tạo lập văn bản theo hướng phát huy tính sáng tạo thì sẽ giúp các em
phát triển năng lực tư duy sáng tạo – một năng lực quan trọng của người công
dân trong nền kinh tế tri thức. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
7. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạo lập văn bản theo hướng phát huy
sáng tạo của người học.
- Đề xuất biện pháp phát triển khả năng sáng tạo của HS trong tạo lập
văn bản ở môn Tiếng Việt lớp 2.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận nội dung luận văn gồm 3 chương sau
đây:
Chương1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo trong
tạo lập văn bản ở môn Tiếng Việt lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm văn bản và các thể loại văn bản
1.1.1.1. Khái niệm văn bản
Văn bản là một trong những đơn vị giao tiếp của con người. Có ý kiến
cho rằng câu là đơn vị hoàn chỉnh nhất, đơn vị cuối cùng của ngôn ngữ dùng
để giao tiếp. Thực tế không phải như vậy, bởi vì đơn vị dùng để giao tiếp là
- “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung,
thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp. Dạng tồn tại điển hình của văn
bản là dạng viết” (Nguyễn Quang Ninh, 1994).
Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi quan niệm rằng văn bản là
một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập
hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội
dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp
nhất định.
1.1.1.2. Các thể loại văn bản
Dựa vào hình thức tồn tại, có 2 loại văn bản: văn bản dạng nói và văn
bản dạng viết.
- Văn bản dạng nói (văn bản hội thoại) bao gồm các cuộc trò chuyện
hàng ngày, đàm phán, thảo luận, giảng bài, phát biểu ý kiến, v.v... Ngôn ngữ
dạng nói ngắn gọn, tỉnh lược, nói lửng, không liên tục, sử dụng ngữ điệu tự
nhiên, sinh động, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ bổ trợ (cử chỉ điệu bộ, nét
mặt, ánh mắt, tư thế cơ thể, v.v.).
- Văn bản dạng viết (văn bản diễn thoại) bao gồm các loại văn bản
được viết, in ấn trên các chất liệu có mặt phẳng, trên vi tính, v.v… Đặc điểm
7
ngôn ngữ: từ ngữ sách vở, trau chuốt văn vẻ, câu văn thường mở rộng, thường
xuyên sử dụng các phương tiện liên kết, v.v..
Dựa vào phong cách chức năng, có các loại: văn bản hành chính, văn
bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật. Cụ
thể là:
- Văn bản hành chính là loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức,
quản lí, điều hành xã hội, phục vụ giao tiếp trong lĩnh vực hành chính - công
vụ (giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa các cơ quan nhà nước với
những phán đoán, suy lí chính xác, logíc. Về đặc điểm ngôn từ, các từ ngữ có
nghĩa chính xác, đơn nghĩa, trung hòa về biểu cảm, sử dụng nhiều thuật ngữ
chuyên ngành, những từ công cụ, từ có nghĩa trừu tượng. Từ loại được dùng
phổ biến là danh từ (xu hướng định danh hóa các sự kiện, hoạt động, tính
chất, v.v.) và đại từ (thường mang ý nghĩa khái quát, dùng chủ yếu ngôi ba và
ngôi nhất số nhiều). Về cú pháp, câu văn trong văn bản khoa học có kết cấu
chặt chẽ, rõ ràng (có thể dùng cả câu khuyết chủ ngữ hoặc chủ ngữ không xác
định), sử dụng chủ yếu câu tường thuật. Loại câu phức hợp, đặc biệt loại câu
ghép chính phụ có các cặp quan hệ từ hô ứng (chỉ quan hệ nguyên nhân,
nhượng bộ, tăng tiến, v.v.) cũng được sử dụng rộng rãi. Về kết cấu và diễn
đạt, văn bản khoa học thường được xây dựng theo một thể thức nghiêm ngặt
(chẳng hạn, một bài báo có các phần: 1/ tính thời sự của vấn đề, 2/ trình bày
hệ thống nội dung vấn đề kèm theo phân tích, lí giải, nhận xét, 3/ đưa ra
những kết luận (hệ quả của phần thứ hai). Diễn đạt trong văn bản khoa học
phải mạch lạc, khúc chiết, logíc.
- Văn bản chính luận là loại văn bản trình bày, giải thích, đánh giá, bày
tỏ thái độ đối với những vấn đề nảy sinh trong đời sống chính trị - xã hội
(chiến tranh, hòa bình, lẽ sống, hạnh phúc, lao động, môi trường, v.v.). Văn
bản chính luận có chức năng thông tin, tuyên truyền, thuyết phục, đem lại cho
người tiếp nhận một cách nhìn, một thái độ. Văn bản chính luận gồm có: các
9
văn bản hiệu triệu (báo cáo chính trị, cương lĩnh của một tổ chức, tuyên ngôn
độc lập, lời kêu gọi, v.v.); các văn bản bình giá (bình luận, xã luận trên các
phương tiện truyền thông, các ý kiến tham luận đại hội, hội nghị, mít tinh,
v.v.). Văn bản chính luận có các đặc điểm là tính bình giá công khai (tính
khuynh hướng), tính lập luận chặt chẽ (thuyết phục người đọc/người nghe
bằng những lí lẽ sắc bén, những dẫn chứng xác thực, sắp xếp bằng một trình
loại văn bản (VD: câu khuyết chủ ngữ cho văn bản tin). Sử dụng cỡ chữ, kiểu
chữ, màu sắc, hình nền khác nhau, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như
tranh, ảnh, bảng biểu, đồ thị để thể hiện thông tin.
- Văn bản nghệ thuật (văn bản văn chương) là loại văn bản thực hiện
chức năng thẩm mĩ thông qua hình tượng văn học nhằm phục vụ cho như cầu
nâng cao đời sống tinh thần, bồi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn của con người. Các
loại văn bản nghệ thuật gồm trữ tình (thơ, trường ca), tự sự (truyện ngắn, tiểu
thuyết, v.v.), kịch, kí. Đặc điểm cơ bản của văn bản nghệ thuật: tính hình
tượng, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể, tính biểu cảm và thẩm mĩ. Do vậy,
ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật cũng có tính hình tượng, cụ thể, sinh động
và mang phong cách cá nhân. Về đặc điểm ngôn từ, văn bản nghệ thuật sử
dụng rộng rãi các lớp từ và các biến thể của từ (từ địa phương, từ thông tục, từ
nghề nghiệp, biệt ngữ…), triệt để khai thác tính đa nghĩa của từ, các biện
pháp tu từ. Về cú pháp, văn bản nghệ thuật sử dụng hết sức linh hoạt các loại,
kiểu câu, sử dụng rộng rãi câu đặc biệt, câu bất quy tắc (chệch chuẩn), khai
thác tối đa phép biến đổi câu (tách câu, chuyển đổi thành phần câu, v.v.). Cấu
trúc câu (cả đoạn văn, văn bản) đều có tính linh hoạt, tất cả hướng đến ý đồ
sáng tạo của nhà văn.
Trong trường học, HS được tiếp nhận (đọc hiểu) và tạo lập (nói /viết)
nhiều kiểu loại văn bản trong số những văn bản nói trên.
1.1.2. Tạo lập văn bản
1.1.2.1. Khái niệm tạo lập văn bản
Trong đời sống, mỗi khi cần trình bày ý kiến, nguyện vọng, trao
đổi…thì người ta có nhu cầu tạo lập văn bản.
11
VD: khi viết thư cho ai đó, điều thôi thúc người ta phải viết thư là do
một trong hai người ( hoặc cả hai) có nhu cầu trao đổi tình cảm, công việc
- Viết như thế nào? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác
định được cách thức tạo lập, các phương tiện biểu đạt gắn với nội dung cụ thể
đã được định hình, hình thức ngôn ngữ để biểu đạt nội dung ấy một cách hiệu
quả nhất.
b) Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý
Từ những nội dung đã xác định được trong bước định hướng, đến đây,
người tạo lập văn bản tiến hành thiết lập hệ thống các ý, sắp xếp chúng theo
bố cục hợp lí, đảm bảo liên kết nội dung, mạch lạc văn bản.
c) Viết thành văn bản hoàn chỉnh
Đây là khâu trực tiếp cho ra "sản phẩm". Người tạo lập văn bản dùng lời
văn của mình diễn đạt các ý thành câu, đoạn, phần hoàn chỉnh. Ở bước này, các
phương tiện liên kết hình thức được huy động để triển khai chủ đề, thể hiện liên
kết nội dung, đảm bảo mạch lạc cho văn bản. Việc viết thành văn cần đạt được
tất cả các yêu cầu: đúng chính tả, đúng ngữ pháp, dùng từ chính xác, sát bố cục,
có tính liên kết, mạch lạc, kể chuyện hấp dẫn, lời văn trong sáng.
d) Kiểm tra lại văn bản.
Đây là khâu cuối cùng của quá trình tạo lập văn bản. "Sản phẩm" phải
được kiểm tra lại, điều chỉnh những nội dung, cách diễn đạt chưa hợp lí, sửa
các lỗi về dùng từ, đặt câu, viết đoạn, chuyển ý, ...
Như vậy, một bài làm văn nói chung gắn liền với bao nhiêu yếu tố: xa
gần, trực tiếp, gián tiếp về văn hóa, về tính cách, về cá tính của mỗi con
người, là một thử thách toàn diện con người về vốn sống, vốn văn hóa, năng
lực tư duy, nhân cách. Và muốn tạo lập một văn bản cũng phải trải qua những
giai đoạn cụ thể. Nắm được điều này người GV cần có những biện pháp dạy
học tạo điều kiện cho HS thực sự được sáng tạo, được bộc lộ con người cá
13
nhân và biết tự nhìn thấy những yếu kém, hạn chế cũng như khả năng, năng
năng lực chung là năng lực sáng tạo, một năng lực cốt lõi rất cần cho HS
trong giai đoạn phát triển của cuộc sống hiện đại. Từ trước đến nay chúng ta
thường chú ý đến bài văn hay. Nhưng thế nào là hay thì phụ thuộc khá nhiều
vào cách nghĩ, cách cảm nhận hay “cái gu” thưởng thức của từng cá nhân mỗi
người nên nhiều khi chúng ta đánh giá bài văn vẫn nặng về cảm tính, chủ
quan. Vì vậy mà yêu cầu sáng tạo khi tạo lập văn bản được thể hiện rõ hơn.
Đó là phải có cái mới, phải có yếu tố mới cho dù nhỏ: mới về ý tưởng (nội
dung), mới về cách biểu đạt (hình thức). Tuy nhiên để có sáng tạo là rất khó,
cần phải tập dần, yêu cầu sáng tạo dần, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp...
*
*
*
Những điều đã trình bày ở phần cơ sở lí luận cho thấy những kiến thức
về văn bản, tạo lập văn bản, kiến thức về sáng tạo, sáng tạo trong tạo lập văn
bản là những nhân tố quan trọng khi rèn luyện HS viết. Việc làm này không
chỉ bắt đầu từ bài dạy tập làm văn mà phải bắt đầu ở cả các bài luyện ở nhiều
môn học khác. Phải tập cho các con không chỉ tạo lập được những văn bản
đúng, đủ câu…mà còn phải biết viết những văn bản hay, sáng tạo, độc đáo…
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chuẩn kĩ năng môn Tiếng Việt và yêu cầu tạo lập văn bản đối
với học sinh lớp 2
Theo Chuẩn kiến thức – kĩ năng môn Tiêng Việt lớp 2 HS cần đạt được
các yêu cầu tối thiểu về kĩ năng sử dụng tiếng Việt như sau:
- Đọc đúng và trôi chảy một đoạn văn, bước đầu biết đọc thầm và hiểu
ý chính của đoạn văn.
- Viết đúng và đều nét chữ thường, chữ hoa, các tiếng, từ, cây. Viết
đúng chính tả và tự viết được một đoạn văn ngắn.
16
VD: Từ trong quả bầu, những con người bé nhỏ nhảy ra (1). Người
Khơ-mú nhanh nhảu ra trước (2). Tiếp đến, người Thái, người Tày, người
Nùng, người Mường, người Dao, người Hmông, người Ê-đê, người Ba-na,
người Kinh,…lần lượt ra theo (3). Đó là tổ tiên của các dân tộc anh em trên
đất nước ta ngày nay (4).
- Văn bản phải có mục đích giao tiếp thống nhất. Văn bản tạo ra đều
hướng vào mục đích nhất định như:
+ Nhận thức trao đổi thông tin.
+ Biểu lộ tình cảm quan hệ thái độ.
+ Thống nhất hành động, điều khiển hoạt động.
Văn bản luôn phải hướng vào mục đích nhất quán. Do vậy khi viết
người viết phải xác định thật rõ mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp để từ
đó hình thành nội dung, phong cách viết (Viết để làm gì? viết cho ai? Viết cái
gì? Viết như thế nào?).
- Văn bản phải có một kết cấu rõ ràng. Văn bản thường kết cấu gồm 3
phần:
+ Phần mở đầu: có nhiệm vụ giới thiệu đề tài để xác lập mối quan hệ
giữa tác giả với đối tượng giao tiếp. Phần này thường là một số nhận định
khái quát những vấn đề sẽ được trình bày, nêu lên chủ đề chung và chủ đề bộ
phận, nêu vắn tắt phương hướng hay nguyên tắc được chọn làm cơ sở để giải
quyết vấn đề.
+ Phần phát triển: Là phần trọng tâm của văn bản có nhiệm vụ triển
khai chi tiết cụ thể và đầy đủ những nội dung được nói tới. Phần này phong
phú về nội dung, đa dạng về hình thức. Đặc biệt đối với các văn bản khoa
học, chính luận việc xây dựng các hệ thống luận điểm đóng vai trò hết sức
quan trọng.
mình quan tâm hoặc yêu thích.
18
VD:
- Viết 2, 3 câu về một loài chim em thích.
(Tiếng Việt 2, tập hai)
Sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 được thiết kế theo hệ thống chủ
đề, chủ điểm, vì vậy, sách dễ dàng lựa chọn được những vấn đề, chủ đề, chủ
điểm gắn bó mật thiết với đời sống thực tế và tạo được những cơ hội để HS
liên hệ và đưa ra ý kiến phản hồi về cuộc sống thực tế.
Môn Tiếng Việt là môn công cụ, do đó sách giáo khoa môn Tiếng Việt
lớp 2 thể hiện khá rõ sự hỗ trợ cho môn học khác và tích hợp kiến thức của
một số môn học trong nội dung của sách. Nhiều chủ điểm học tập của sách
thể hiện rõ ý tưởng tích hợp các vấn đề giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản,
bảo vệ môi trường,...
a) Thời lượng dạy tạo lập văn bản
Theo yêu cầu của Chương trình Tiếng Việt tiểu học, nội dung dạy học
tạo lập văn bản được bắt đầu từ lớp 2 trong các tiết Tập làm văn, HS được bộc
lộ kĩ năng nói, viết ở cả nội dung ý tưởng và hình thức thể hiện.
Dưới đây là bảng thống kê:
Tuần
Tập làm văn (số tiết/tuần và nội dung dạy học)
Tuần 1
1 tiết (tự giới thiệu câu và bài)
Ôn tập