A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của khóa luận.
Dù ở thời đại nào vấn đề con người cũng được xem là vấn đề
trung tâm của khoa học. Nếu như ngành khoa học xã hội tập trung
vào nghiên cứu đời sống tinh thần của con người thì khoa học tự
nhiên lại đi sâu nghiên cứu con người ở bản thể, cấu trúc sinh học.
Với Triết học lại có nhiệm vụ tổng hợp khái quát các thành tựu của
khoa học và rút ra một số vấn đề chung nhất về con người và là cơ sở
lý luận và phương pháp luận để chúng ta tìm hiểu thế giới con người
sâu hơn giúp chúng ta hiểu được chính mình .
Bất kỳ một trào lưu triết học nào khi nghiên cứu, tìm hiểu về
con người cũng đặt ra câu hỏi: Con người là gì, cái gì làm cho con
người khác với các loài sinh vật khác? Tại sao giữa các cá nhân lại
có sự phân biệt với nhau.
Ban đầu các trường phái triết học thường dùng: “cái tôi”, “tính
người” dùng để chỉ sự khác nhau nhưng về sau họ đã dùng “nhân
cách”. Nhân cách chính là xác định “bản chất” con người bởi vì hiểu
đúng bản chất con người thì mới xác định đúng con đường và
phương pháp rèn luyện nhân cách của con người.
Ở Việt Nam hiện nay, đang trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa. Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực xây dựng
và phát triển kinh tế mà còn làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực, đạo
đức đời sống văn hóa xã hội. Lấy con người làm trung tâm của sự
phát triển đất nước. Phát triển con người vừa là sự phát triển của kinh
tế xã hội, trong đó phạm trù “nhân cách” là một nội dung cơ bản của
quá trình phát triển nguồn nhân lực để con người thật sự là chủ thể
của mọi hoàn cảnh. Bởi vì, muốn công nghiệp hóa hiện đại hóa thành
công thì phải có con người: Có cả tài lẫn đức, có đủ năng lực và bản
Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải giáo dục nhân cách con
người để phát huy được tính tích cực đem lại lợi ích cho xã hội, đồng
thời làm cho nền kinh tế phát triển cũng như nâng cao trình độ nhận
thức cho mọi người. Đó là, tất cả mọi cá nhân trong xã hội có trình
độ tư tưởng văn hóa đạo đức cao nhằm chống lại thái độ bảo thủ xem
nhẹ vai trò đạo đức và trách nhiệm xây dựng xã hội phồn vinh.
Chính vì, những lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề
bản tính con người – từ lý luận đến thực tiễn giáo dục nhân cách
con người ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu khóa luận.
Trong lịch sử triết học vấn đề bản tính con người và sự hình
thành nhân cách con người là đề tài gây nhiều tranh luận gay gắt, mỗi
trường phái triết học đều có một quan điểm riêng, nhưng nhìn chung
tác giả đã có một đóng góp nhất định cho nhân loại, trong những thập
kỷ gần đây. Vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu bàn luận. Ở Việt
Nam cũng có nhiều công trình viết về con người giáo dục đạo đức
nhân cách như:
-“Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách” – Phạm Minh Hạc, Lê
Đức Phúc
-“Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”- Đoàn Đức Hiếu
- “Mấy vấn đề đặc điểm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay”, Phạm Minh Hạc, Giáo dục nhân cách đào tạo nhân lực.
Ngoài ra các văn kiện, Nghị quyết, Cương lĩnh của Đảng cũng
đề cập đến nhiều vấn đề về giáo dục đào tạo, vấn đề nguồn nhân lực
con người. Trên các tạp chí Triết học, cũng có nhiều bài viết về giáo
dục đạo đức, nhân cách con người:
Về phương pháp nghiên cứu: khóa luận kết hợp các biện pháp:
Phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, đối chiếu và so sánh
6. Đóng góp của khóa luận
Thông qua khóa luận tác giả muốn làm rõ việc giáo dục nhân
cách con người mới ở Việt Nam hiện nay.
Đây là một vấn đề đang được Đảng và Nhà nước quan tâm
trong việc giáo dục con người mới ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,
từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm giáo dục
nhân cách trong việc phát triển con người hiện nay.
Ngoài ra, khóa luận còn là đề tài tham khảo cho sinh viên quan
tâm đến những vấn đề này.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
Khóa luận gồm 2 chương và 4 tiết.
B. NỘI DUNG
Chương 1
QUAN NIỆM VỀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI
TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
1.1 Quan niệm về bản tính con người trong lịch sử triết học
trước Mác
1.1.1 Quan niệm về bản tính con người trong triết học Phương
Đông
Triết học Phương Đông từ thời Cổ Đại đến Trung Đại, không có một
ranh giới rõ ràng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa
duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan.
Để đi đến hoàn thiện bản tính trong con người, phật giáo
khuyến khích con người phải học các điều răn của phật.
Phật giáo phân chia bản tính con người theo cấp bậc đạo đức và
sự tu luyện. Phật là có bản tính tốt nhất, vì trong quá trình tu luyện đã
tiêu diệt hết mọi ham muốn, dục vọng, thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử
theo quy luật nhân quả và luân hồi nên đã đạt đến niết bàn. Còn “bồ
Tát” là có bản tính của con người tốt, tuy đã tu luyện đến trình độ
siêu thoát nhưng chưa muốn nhập niết bàn nên còn mang nặng trách
nhiệm cứu giúp giác ngộ chúng sinh.
Với trường phái Yoga thì cho rằng để linh hồn siêu thoát thì
cần phải có phương pháp tu luyện theo phương pháp “Bát đảo tu
pháp”. Một là, cấm chế; hai là, khuyến chế; ba là, Tạo pháp; bốn là,
điều tức; năm là, chế cảm; sáu là, chấp trì; bảy là, thiền định; tám là,
tuệ.
Theo triết học Yoga, nếu thực hiện đúng tám phương pháp này
thì linh hồn bất tử sẽ được giải thoát khỏi đời sống vật chất tầm
thường và trở thành linh hồn có sức mạnh toàn năng.
Nhìn chung, triết học Ấn Độ đều có mục đích chung là đi tìm ý
nghĩa đích thực trong đời sống con người. Họ đều nhất trí ngững nét
cơ bản về đạo đức. Tư tưởng triết học Ấn Độ không chỉ là tri thức
học vấn mà còn tìm ra chân lý, lý tưởng sống hay sống tốt cho nhân
loại.
Triết học Trung Quốc khi bàn đến bản tính con người lại có
triết lý sâu sắc hơn. Các Nho Gia thời này đã đưa ra đường lối trị
nước theo con đường “đức trị” và “nhân tri”.
Khổng Tử cho rằng: Bản tính con người là ngay thẳng, là trung
dung, trung thứ, là thành thật với chính mình và đem lòng ứng xử với
người rất tốt, ông cho rằng bản tính con người khi mới sinh ra là
Tây
Ở triết học Phương Tây, các nhà triết học duy tâm khách quan
thường hay thần thánh hóa về mặt tinh thần trong đời sống của con
người. Vì vậy, họ quan niệm bản tính con người có từ “ý niệm”
(Platon) hay là “ý niệm tuyệt đối” (Heghen). Các đại biểu duy tâm
chủ quan thì lại tuyệt đối hóa “cái tôi” của con người tức là yếu tố
chủ quan trong bản tính con người.
Ở vào thời cổ đại Hy Lạp, Xôcrat là một nhà duy tâm chủ quan
đã lấy con người làm trung tâm của nghiên cứu triết học đặc biệt là
trong lĩnh vực đạo đức ông quan niệm rằng: Triết học không phải là
cái gì khác hơn sự nhận thức của con người, về chính bản thân mình.
Triết học là học thuyết dạy con người sống. Con người chỉ có thể
nhận biết được những gì nằm trong quyền hạn của mình.
Platon là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm khách quan
thời cổ đại. Ông cho rằng “tinh thần”, “ý niệm” mới là “cái tồn tại
chân chính” còn sự vật cảm tính chỉ là “cái bóng của ý niệm”. Ông
đã đồng nhất bản tính của con người với linh hồn bất tử.
Ông khẳng định tri thức của con người bắt nguồn từ ý niệm
sinh ra, và do con người có sự kết hợp của ba yếu tố: lý tính - là cơ
sở của sự thông thái, ý chí - là cơ sở của lòng dũng cảm, nhục dục là cơ sở của sự hiểu biết. Vì vậy bản tính con người hoàn thiện được
và vượt lên ý niệm tối cao của cái thiện.
Arixtôt là một nhà triết học có nhiều cống hiến về đạo đức,
theo ông đạo đức là một phẩm chất linh hồn trong cuộc sống của con
người, nó không bằng con đường tự nhiên bẩm sinh mà bằng sự tự
rèn luyện và hoạt động của con người. Ông cho rằng, chỉ có việc phát
triển quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo được con người có đạo
đức.
Bước sang thời kỳ Trung cổ, các nhà thần học Kitô giáo đứng
người nhận thức và ý thức được chính bản thân mình. Những điều
kiện môi trường, hoàn cảnh sống giúp con người khám phá ra giới tự
nhiên và sau đó tác động lớn đến tư duy và ý thức của con người.
Quan điểm duy tâm về con người và bản tính con người một
lần nữa lại được các đại biểu của triết học Cổ điển Đức đề cập đến
như:
Cantơ đã coi vai trò hoạt động thưc tiễn của đạo đức là quá
trình hình thành bản tính của con người. . Bởi vì theo ông các khát
vọng của giác tính chỉ đưa con người tới chổ hưởng thụ cá nhân, ích
kỷ phi đạo đức và đạo đức con người chỉ cần “lý tính” là đủ, “lý
tính” ở đây Cantơ gọi là “mệnh lệnh tuyệt đối”. Nên người có “lý
tính” thì được coi là người có đạo đức. Người có đạo đức là người
sống theo lẽ phải và tôn trọng sự thật.
Heghen đứng trên lập trường duy tâm khách quan khi cho rằng
bản tính con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Bởi vậy, theo
ông mọi bất công tệ nạn xã hội là những tất yếu của sự phát triển của
xã hội đều bắt nguồn từ bản tính con người
1.2 Quan điểm về bản chất con người trong triết học Mác –
Lênin
1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật
với mặt xã hội
Yếu tố sinh vật của con người, tức là người phụ thuộc bởi quy
luật của tự nhiên, bởi vì giới tự nhiên là tiền đề vật chất đầu tiên quy
định sự tồn tại của con người do đó bản tính tự nhiên của con người
bao hàm cả tính sinh học và tính loài của nó, yếu tố sinh học là điều
kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Ph.Ănghen cho rằng:
phục sự cố “tha hóa” của con người là mục tiêu cao nhất của triết học
Mác - Lênin.
Chương 2
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀO VIỆC
GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Vai trò của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội đối
với việc hình thành và phát triển nhân cách con người.
2.1.1 Vai trò của giáo dục gia đình đối với việc hình thành và
phát triển nhân cách con người
Trong sự tác động biện chứng thì gia đình là cơ sở, là nền tảng
nhân tố quan trọng có tác động sâu sắc đến sự hình thành và phát
triển nhân cách. Bởi lẽ gia đình là nơi con người bắt đầu sinh ra, lớn
lên và hình thành phát triển nhân cách, phát huy truyền thống của gia
đình với những giá trị văn hóa của dân tộc và thời đại đã được giáo
dục của gia đình truyền lại cho mỗi cá nhân và từ đó chuyển những
giá trị đó vào bản thân mình tạo nên bản sắc của mình.
Chính vì vậy, sự giáo dục của gia đình đối với sự hình thành
nhân cách con người là không xem nhẹ đây là trường học đầu tiên
cho sự hình thành nhân cách con người.
Ngày nay, chúng ta đang đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa
nhưng chúng ta bắt gặp nhiều thách thức to lớn phải vượt qua. Trong
đó thách thức về xây dựng gia đình Việt Nam đáp ứng những cuộc
đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước
2.1.2 Vai trò của giáo dục nhà trường đối với việc phát triển và
hoàn thiện nhân cách con người
Nhà trường là nơi các em bắt đầu tiếp xúc với sự đa dạng của
xã hội, nhà trường thu nhận con người từ bậc mầm non lên đại học
Đây thực sự là môi trường thuận lợi cho con người tự hoàn
thiện chính bản thân mình. Một điều khác với môi trường giáo dục
gia đình và nhà trường là: Môi trường xã hội thì bản thân mỗi cá
nhân phải tự tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm sống, ở đây nhân cách
không phát triển theo sự giáo dục cha mẹ, thầy cô nữa mà bằng
nguyên tắc pháp luật và đạo đức của xã hội.
Môi trường xã hội, hoạt động trực tiếp của con người và những
mối quan hệ của nó là nhân tố trực tiếp tham gia vào việc phát triển
và hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân. Tính hiện thực này của
nhân cách được biểu hiện của lẽ sống và nếp sống. Nó định hướng
cho giá trị sống của bản thân, chứa đựng bao gồm cả mục đích, nhu
cầu và lý tưởng xã hội mà mỗi cá nhân hướng tới. Nó như là sự đo
lường bậc thang giá trị về mặt nhận thức, lý trí, tình cảm… như một
triết lý về nhân cách con người.
Tóm lại, vai trò của giáo dục xã hội có ảnh hưởng quyết định
đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách con người. Vì vậy, việc tạo
ra môi trường xã hội thuận lợi để đảm bảo sự hài hòa cho nhân cách
hoàn thiện là rất cần thiết và cấp bách. Để có con người đảm bảo xây
dựng đất nước ta theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”.
2.2 Phương hướng và giải pháp giáo dục nhân cách con
người Việt Nam hiện nay
2.2.1 Phương hướng giáo dục nhân cách con người Việt Nam
hiện nay
Thứ nhất: phương hướng chung.
Để phát triển kinh tế xã hội, Đảng ta luôn chú trọng lấy mục
tiêu con người làm trung tâm cho sự phát triển.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, để nhân cách của mỗi cá
Ba là: Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Bốn là: Giải quyết việc làm cho người lao động.
C. KẾT LUẬN
Trong lịch sử nhân loại con người và bản chất con người, về
vai trò của chủ thể lịch sử con người vấn đề bản tính nhân cách luôn
là vấn đề nghiên cứu của các lĩnh vực khoa học. Mỗi ngành khoa học
tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng
cũng là vì con người, vì sự nghiệp con người.
Nhưng con người không thể tồn tại với cái bản thể một chiều,
quan niệm của con người trong lịch sử triết học là cuối cùng dành
cho sự hoàn thiện con người trong xã hội tương lai hoàn thiện chính
bản thân mình.
Nói đến con người - chủ thể của lịch sử trước hết nói đến cá
nhân mang những phẩm chất do chủ thể sẽ thõa mãn nhu cầu của giai
đoạn lịch sử. Đó là sự hòa hợp giữa đạo đức và trí tuệ, bởi đức - trí là
cái gốc của cuộc sống con người nó qui định động cơ phương hướng
phát triển tài năng con người. Đức -trí chính là hai yếu tố cấu thành
bản tính người.
Lịch sử triết học có nhiều quan niệm khác nhau về bản tính con
người, với triết học Phương Đông luôn đặt vấn đề đạo đức lên hàng
đầu còn tài năng cũng được coi trọng nhưng là thứ yếu. Nho giáo
xem đạo đức là mục tiêu, tiêu chuẩn cho mọi hoạt động quá trình rèn
luyện của con người còn tài năng sẽ đạt được khi đạo đức hoàn thiện.
Xét về thực tiễn quan niệm đó được ít hiệu quả và sự quan tâm, lợi
nhuận cũng chỉ là trách nhiệm và nghĩa vụ, chính vì vậy mà nó cũng
ta phát triển vững bền trong hoàn cảnh đó yếu tố khách quan sẽ tác
động lớn đến nhân cách lối sống con người. Mặt khác sự du nhập lối
sống về đạo đức với cái gọi là chuẩn giá trị từ bên ngoài xã hội là
điều không thể tránh khỏi.
Đây là một thách thức lớn đối với nước ta bởi vậy vai trò của
giáo dục nhân cách phát triển con người là một đòi hỏi rất lớn để có
con người “ vừa hồng vừa chuyên” làm giàu cho Tổ quốc, làm lợi
cho Đảng.
Sự nghiệp trồng người là một vấn đề gian khó và lâu dài, đòi
hỏi phải chung sức toàn xã hội chứ không của riêng cá nhân nào.
Thực tế cho thấy sự xuống cấp về đạo đức nhân cách của con người
Việt Nam nói chung và lớp trẻ nói riêng đã đến lúc cảnh báo, đang
đặt cho chúng ta sự cần thiết phải giáo dục và rèn luyện nhân cách
con người một cách toàn diện. Bởi vì, trong bối cảnh hiện nay, giá tri
của nhân cách con người cần được thẩm định, định hướng đúng theo
hệ chuẩn của đạo đức: Chân - Thiện - Mỹ, mang đậm tính nhân văn,
nhân đạo trên cơ sở kế thừa tư tương đạo đức nhân loại và phát huy
truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng nhân cách con người trong
điều kiện kinh tế thi trường hội nhập.
Như vậy, sự phát triển nguồn nhân lực là vai trò của việc giáo
dục, đặc biệt giáo dục nhân cách là đặt lên trên hết nhằm chuẩn bị
cho thế hệ mai sau và sức khỏe tốt cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
Đòi hỏi mỗi chúng ta phải bảo vệ và phát huy cái tốt, cái đúng, cái
đẹp trong quan hệ con người với con người, để tạo ra môt xã hội hài
hòa bình đẳng.