Tiểu luận vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở việt nam hiện nay - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
C. Mác và Ph. Ăngghen đã có những cống hiến hết sức vĩ đại
cho nhân loại ngày nay và một trong những cống hiến đó là đã mở
rộng thế giới quan duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội. Đem lại
sự nhận thức xã hội trong chỉnh thể và phát hiện ra những quy luật
vận động, phát triển phổ biến của lịch sử xã hội bởi học thuyết hình
thái kinh tế xã hội.
Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, tức quá trình
phát triển có quy luật của xã hội loài người nói chung khi được
phản ánh dưới hình thức hệ thống các khái niệm, quy luật và các
quan niệm thì đem lại cho chúng ta lý luận về quá trình đó. Đây là
hình ảnh lý luận là cái cụ thể trong tư duy và quá trình phát triển tất
yếu của xã hội loài người nói chung. Các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác đã cho thấy mặt lý luận của học thuyết hình thái kinh tế xã hội
có nội dung rất rộng, bao gồm rất nhiều yếu tố hợp thành, nhưng có
thể quy về ba quan niệm hay ba yếu tố lớn là khái niệm hình thái
kinh tế xã hội, quan niệm về quá trình lịch sử tự nhiên, tức là sự
phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, quan niệm về mối liên hệ
giữa quá trình lịch sử - tự nhiên và sự đa dạng của lịch sử. Trong
những quan niệm này, quan niệm về quá trình lịch sử - tự nhiên với
yếu tố đặc trưng nổi bật của nó là quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là quan niệm cơ
bản nhất.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất tác động đến mọi mặt của đời
sống xã hội của một quốc gia, một đất nước đặc biệt là trong vấn đề
1


kinh tế. Nếu trong một nước mà quan hệ sản xuất không phù hợp với

2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói chung và quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội đặc biệt là đối với vấn đề phát triển kinh tế.
Góp phần làm nền tảng lý luận, định hướng phát triển kinh tế, đưa
ra những con đường, những giải pháp phù hợp cho việc hoàn thiện
nền kinh tế theo hướng công nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nước.
Vì vậy mà đã có rất nhiều nhà nghiên cứu Mác xít quan tâm,
tìm hiểu, đưa ra những lý luận duy vật về hình thái kinh tế xã hội
đặc biệt là về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Họ đã có những công trình nghiên cứu
được đông đảo mọi người quan tâm, chúng ta không thể kể hết
những công trình đó mà chỉ có thể nêu một số nghiên cứu gần đây
mà chúng ta thường nhắc đến:
Với tác phẩm: “ Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội
và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta” Nxb
Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005. Chủ biên: Tiến sĩ Phạm Văn
Chung đã tập trung xem xét nội dung khoa học của học thuyết Mác
về hình thái kinh tế xã hội và mối liên hệ hữu cơ của nó đối với lý
luận về con đường phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ việc
nghiên cứu học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội, cuốn sách
xác định hai phương diện là lý luận và phương pháp luận của học
thuyết và chỉ ra một cách cụ thể vai trò phương pháp luận của học
3


thuyết này đối với việc xác định nội dung khoa học của lý luận về
con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thông qua luận giải một số
vấn đề lý luận cấp bách.

chính trị cần được chúng đặc biệt quan tâm. Với đề tài khóa luận
của tôi mặc dù không phải là đề tài mới mẻ nhưng đang là vấn đề
rất được quan tâm nên tôi xin được góp một phần nhỏ vào việc
nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đặc biệt là đối với
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về học thuyết
hình thái kinh tế xã hội đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nêu ra được
những đặc điểm cũng như thực trạng và giải pháp của tỉnh Quảng
Bình trong sự vận dụng quy luật đó.
3.2. Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục đích trên sinh viên thực hiện đề tài này có
nhiệm vụ:
* Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất, làm rõ tác động qua lại giữa chúng.
* Nêu ra những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế
xã hội và những quy luật trong đó. Qua đây thấy được ý nghĩa của
việc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói chung, quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nói
riêng vào phát triển kinh tế Quảng Bình.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5


4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin về học thuyết hình thái kinh tế xã hội, đồng thời dựa

nin, nó là lý luận duy vật về những quy luật vận động, phát triển
chung nhất của xã hội , đồng thời là phương pháp luận khoa học để
nghiên cứu mọi hiện tượng xã hội và quá trình lịch sử. Không
những thế chủ nghĩa duy vật lịch sử còn là kim chỉ nam cho các
khoa học xã hội cụ thể và cho việc định ra chiến lược, sách lược
của Đảng Cộng Sản.
Với khái niệm lực lượng sản xuất thì Mác là người đầu tiên
đưa ra khái niệm lực lượng sản xuất nhưng ông không gọi như vậy
mà ông gọi là “ sức sản xuất”, vì ông cho rằng “ sức sản xuất”
không phải là cái bản chất tinh thần nào đó mà đó là sức mạnh vật
chất.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với
giới tự nhiên. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của loài người. Đó là kết quả của năng lực thực
tiễn của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra của
cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người.
Vậy lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự
nhiên của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình.
Lênin cho rằng: Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động
và tư liệu sản xuất trong đó “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân, là người lao động”. Chính người lao
động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và
kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là
công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra
của cải vật chất. Nên chúng ta có thể tóm gọn lại một ý trong vấn
đề này: Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng
sản xuất hiện đại, lực lượng sản xuất chính là cơ sở vật chất của
hình thái kinh tế xã hội.
7


Khi nhân loại đã đi được một chặng đường nhất định trên con
đường tiến hóa của mình thì một câu hỏi đặt ra buộc các nhà triết
8


học phải suy nghĩ: Cái gì quyết định sự phát triển của lịch sử? Từ
đây đã có nhiều nhà tư tưởng triết học đã đi tìm câu trả lời cho cả
nhân loại nhưng họ đã không nhận thức được con đường đúng đắn
vì họ đã lấy tư tưởng, ý thức ra giải thích mọi hiện tượng cho nên
họ vẫn chưa tìm được lối thoát cho nhân loại. Đến khi C. Mác vén
bức màn thần bí đã được các bậc thầy tư tưởng của mình là Hêghen
và các nhà triết học tiền bối khác che phủ lên lịch sử thì nhân loại
bắt đầu chuyển sang một trình độ nhận thức mới.
Ở đây ta sẽ nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất để thấy được mặt thứ nhất của quy
luật này là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Cùng
với sự biến đổi và phát triển nhiều hơn của công cụ lao động thì
kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến
thức khoa học của con người cũng tiến bộ. Lúc này lực lượng sản
xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất. Vấn đề lực lượng
sản xuất quyết định quan hệ sản xuất được thể hiện rõ trong các
giai đoạn phát triển của xã hội. Sự phát triển của lực lượng sản xuất
từ thấp đến cao qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đã quyết định sự
thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng các quan hệ sản xuất mới cao
hơn, đưa xã hội chuyển từ phương thức sản xuất này lên phương
thức sản xuất khác, hình thành kinh tế xã hội với những kiểu quan
hệ sản xuất khác nhau.
1.2.2: Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất chính là quan hệ vật chất tồn tại khách quan

kinh tế xã hội.
Đồng thời là nhờ việc phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tình độ phát triển của lực lượng sản xuất, Mác đã xây dựng
được lý luận về hình thái kinh tế xã hội, một phạm trù cơ bản của chủ
nghĩa duy vật lịch sử, chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với
một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một
trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng
tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Lênin cho rằng: “
Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và
10


đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản
xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự
phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự
nhiên” [4, 163].
Việc vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất và xây dựng kinh tế - xã hội của một đất nước hay một
xã hội đang tồn tại là điều hết sức quan trọng. Bởi vì nó chi phối, tác
động đến rất nhiều lĩnh vực đặc biệt là việc vận dụng quy luật đó vào
việc phát triển nền kinh tế. Chỉ có như vậy mới làm cho quan hệ sản
xuất không bị lĩnh vực nào kìm hãm nó phát triển.
Từ đây, chúng ta có thể rút ra những nội dung cơ bản của mối quan
hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:
- Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi phát
triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển
của lực lượng sản xuất mà trước hết là công cụ lao động. Lực lượng sản
xuất phát triển đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất và xuất hiện
đòi hỏi khách quan phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản
xuất mới. Như vậy, từ chỗ quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển

sản xuất vào việc phát triển kinh tế Quảng Bình giai đoạn hiện
nay.
2.1: Sơ lược điều kiện kinh tế xã hội ở tỉnh Quảng Bình
2.1.1: Điều kiện xã hội ở tỉnh Quảng Bình hiện nay
Nhìn chung tình hình xã hội ở Quảng Bình những năm gần đây
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ tạo cơ sở vững chắc cho
việc phát triển kinh tế. Đó chính là những kết quả về giáo dục đào tạo
với chất lượng giáo dục được nâng lên tầng bước rõ rệt, số lượng học
sinh bỏ học giảm, chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục có nhiều chuyển biến tiến bộ. Về y tế và các hoạt động văn hóa
xã hội cũng phát triển rất mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú, đa
dạng. Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh nhìn
chung phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
2.1.2: Điều kiện kinh tế ở Quảng Bình hiện nay
12


Điều kiện kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc
phát trển kinh tế. Đó là sự phong phú của các loại tài nguyên thiên
nhiên, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch tạo động lực cho
đầu tư phát triển kinh tế. Chính những điều kiện thuận lợi cả về
kinh tế và xã hội nói trên mà năm 2006 Quảng Bình đã đóng góp
vào ngân sách nhà nước 450 tỷ đồng, chi ngân sách địa phương
823,73 tỷ đồng. GDP đầu người năm 2006 đạt 450 USD. Hiện nay
tỉnh Quảng Bình có 1.045 doanh nghiệp, tổng số vốn kinh doanh là
1.865 tỷ đồng. Lần đầu tiên có hai doanh nghiệp đoạt giải Sao
Vàng Đất Việt.
2.2: Chính sách phát triển kinh tế ở tỉnh Quảng Bình giai
đoạn hiện nay.

nước. Ngày nay, một số tỉnh đã áp dụng khoa học công nghệ vào
trong sản xuất nông nghiệp, vừa ít tốn thời gian, vừa tiết kiệm được
nguồn lao động mà lại đưa đến năng suất cao nhưng Quảng Bình
lại chưa làm được điều này, nó mới chỉ diễn ra ở một số địa phương
có điều kiện phát triển mà thôi. Những khó khăn nói trên chính là
do trình độ người lao động chưa cao, tư liệu lao động đang còn thô
sơ, sản xuất thì mang tính chất manh mún, nhỏ lẻ.
Các ngành công nghiệp cũng có tác động không nhỏ đến sự
phát triển của nền kinh tế Quảng Bình nói chung. Giá trị sản xuất
công nghiệp tăng dần và tăng 14,2% trong những năm gần đây. Chính
sự phát triển của các ngành công nghiệp mà đã làm cho nền kinh tế
tăng hiệu quả đáng kể, hơn nữa trong năm 2011 phấn đấu đưa tốc độ
tăng trưởng ngành công nghiệp tăng 20 - 21%, tiếp tục phát huy công
suất của các nhà máy, cơ sở sản xuất hiện có. Chính quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm, quy luật phổ biến đã thúc đẩy cho
quá trình phát triển công nghiệp. Mặc dù vậy các ngành công nghiệp
vẫn đang còn phát triển chậm, không đồng đều và mức độ tăng
trưởng còn thấp. Chưa thu hút được nguồn lao động có trình độ cao
về làm việc tại các cơ sở hoặc khu công nghiệp. Dù ngành công
nghiệp của tỉnh Quảng Bình chưa phát triển như một số vùng khác
nhưng đang có những bước tiến triển khá rõ rệt tạo đà cho sự phát
triển sau này.
14


Bên cạnh những ngành kinh tế nói trên thì vẫn còn một số
ngành khác có tác động đến nền kinh tế như xây dựng cơ bản, hoạt
động tài chính ngân hàng, xúc tiến đầu tư...Nên Đảng, Nhà nước
cũng như những cán bộ lãnh đạo các cấp của tỉnh Quảng Bình đã

Nhìn chung những năm vừa qua nhờ sự vận dụng quy luật
đúng đắn nên Quảng Bình đã đạt được những thành tựu đáng khích
lệ song cũng gặp phả những khó khăn nên tốc độ phát triển kinh tế
chưa đồng đều giữa các vùng kinh tế và các ngành kinh tế.
Trước hết thì Quảng Bình có tốc độ tăng trưởng kinh tế phát
triển khá, từng bước tạo lập được các yếu tố bảo đảm cho phát triển
nhanh và bền vững. GDP bình quân năm đạt 11%, là giai đoạn có
mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, cao hơn 2,44% so vớ
thời kỳ trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghệp
hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng nông nghiệp từ 29,7% năm 2005 giảm
còn 20% năm 2010, công nghiệp - xây dựng từ 32,1% tăng lên
40%, dịch vụ từ 38,2% tăng lên 40% đạt chỉ tiêu đại hội XIV đề ra.
Cơ cấu nội bộ từng ngành kinh tế có bước chuyển dịch tích cực.
Bên cạnh đó Quảng Bình cũng đã vấp phải những khuyết điểm
dẫn đến giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn tỉnh, chưa
tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa,
ngành nghề nông thôn, thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản
chậm phát triển. Quy mô sản xuất công nghiệp còn nhỏ, chất lượng
hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm còn yếu, một số dự án
công nghiệp chậm được đưa vào sản xuất, việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Tiềm năng phát triển du lịch,
dịch vụ chưa được khai thác, phát huy có hiệu quả. Kim ngạch xuất
khẩu tăng khá nhưng chưa vững chắc, nguồn hàng không ổn định,
hàng hóa xuất khẩu sản xuất từ nguyên lệu tại chỗ còn thấp, xuất
khẩu nguyên liệu thô sơ, sơ chế vẫn còn nhiều. Việc tổ chức thực
hiện một số chương trình, dự án ở vùng nông thôn, miền núi còn
chậm và chưa tốt, làm lãng phí nguồn lực đầu tư, môi trường đầu tư
kinh doanh mặc dù có được cải thiện nhưng chưa thực sự hấp dẫn,
số lượng dự án thu hút đầu tư còn hạn chế. Hiệu quả sản xuất kinh
doanh của một số doanh nghiệp sau sắp xếp, đổi mới còn thấp, số

xuất và qua hệ sản xuất đã được vận dụng phù hợp vào sự phát
triển kinh tế xã hội ở tỉnh Quảng Bình. So vớ các tỉnh thành khác
trên cả nước thì kinh tế - xã hội Quảng Bình có mức thu nhập bình
quân GDP/ người ở mức trung bình. So với sự phát triển kinh tế
Quảng Bình từ năm 2000 đến nay, cho phép ta khẳng định kinh tế ở
17


tỉnh Quảng Bình đang có bước phát triển khá. Từng bước hoàn
thiện cơ sở hạ tầng xã hội, đẩy mạnh phát triển sản xuất, ở những
khu công nghiệp lớn như: Khu công nghiệp Hòn La, Khu công
nghiệp Tây Bắc Đồng Hới…
Sử dụng vốn ODA hợp lý, biết sử dụng và phát huy lợi thế từ
nguồn tài nguyên thiên nhiên, tà nguyên biển, tài nguyên rừng, tài
nguyên khoáng sản, tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội của
Tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện và phát triển kinh tế xã
hội của Tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn. Vì Quảng Bình là một
tỉnh năm ở dải đất miền trung thường xuyên chịu những đợt thiên
tai, bão lụt đã cướp đi bao nhiêu tài sản và tính mạng của con
người. Thiên tai ở các tỉnh miền Trung trong đó có tỉnh Quảng
Bình là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế của các
tỉnh miền Trung nói chung - Quảng Bình nói riêng được xếp vào
các tỉnh nghèo trong cả nước. Xong cơn mưa trời lại sáng, nhân dân
và các cấp lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đã cố gắng vượt qua, khắc
phục khó khăn để hướng tới một ngày mai tươi sáng.
Tỉnh Quảng bình đã có những dự án, chính sách kinh tế phù
hợp, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, khai thác nguồn lợi du lịch
có hiệu quả, liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế nhằm đưa tỉnh
Quảng Bình thoát khỏi tỉnh nghèo, sánh vai với các tỉnh, thành phố
khác trong cả nước như Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí

phát triển của lực lượng sản xuất mà Quảng Bình đang vận dụng
thực sự là một điều kiện, một nhân tố quan trọng trong việc thúc
đẩy sự phát triển các ngành kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ du lịch. Những kết quả mà Đảng bộ và nhân dân
tỉnh Quảng Bình đã xây dựng được là rất lớn, tạo ra thế và lực mới
đưa toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa trên con đường công
19


nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh”.
Tuy nhiên, muốn kinh tế phát triển phải có được những chính
sách phù hợp để giải phóng người lao động nhằm giải phóng sức
sản xuất thì phải đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, kỹ năng, kinh nghiệm lao động cho họ. Không những thế mà
còn phải có được những chính sách “lên men” được sự hăng say,
tính tích cực, lòng nhiệt tình, sự cần cù, chịu khó, sự sáng tạo và
biết phát huy có hiệu quả công cụ lao động hiện có của người lao
động. Đồng thời phải có chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo,
khoa học - công nghệ hợp lý, để những điều này hậu thuẫn tốt cho
sự phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó còn biết tổ chức, quản lý sản
xuất một cách hợp lý, giải quyết tốt mối quan hệ sở hữu đối với tư
liệu sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm được sản xuất ra. Qua
đây ta mới thấy rõ được vai trò của của triết học đối với kinh tế là
hết sức quan trọng và có ý nghĩa chiến lược thật sự.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status