Tiểu luận THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM - Pdf 40

Tiểu luận:

THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY Ở VIỆT NAM

Đăk Lăk, ngày 10 tháng 12 năm 2013


Mở đầu
Đảng và Nhà nước ta xác định khoa học công nghệ là động lực của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định
lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nói riêng ở các quốc gia. Suy đến cùng, tiềm lực khoa học và công nghệ
là tiềm lực trí tuệ và sang tạo của cả dân tộc.
Là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát
triển nên tiềm lực khoa học và công nghệ ở nước ta còn yếu. Muốn tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công với tốc độ nhanh thì phải xây dựng
một tiềm lực khoa học công nghệ thích ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ. Đây là
một công việc vô cùng khó khăn và lâu dài.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chúng ta đã tranh thủ thời cơ,
thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực
của cuộc hủng hoảng tài chính, kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát
triển, bước vào nhóm nước phát triển có thu nhập trung bình. Để đạt được
thành tựu đó có vai trò to lớn của khoa học và công nghệ.
Do đó việc nghiên cứu để áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ
vào việc định hướng giải phóng sức lao động của con người, tạo đà để phát
triển kinh tế ở nước ta hiện nay là vấn đề rất quan trọng, không thể thiếu vì đó
là động lực để phát triển đất nước. Nó cũng là lý do tôi chọn chủ đề “Thực
trạng và định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay

xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của
khoa học.
Ngoài ra khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để
có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng là cho con người nắm được
nững quy luật của hiện thực khác quan, ngày càng làm chủ được những biến
đổi của điều kiện tự nhiên và xã hội.
Ngày nay do những biến đổi căn bản về vai trò của khoa học đối với sản
xuất mà khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Sứ mệnh xã hội của khoa học là làm cho cuộc sống và lao động của con
người trở lên đỡ vất và hơn và tăng them quyền lực trí tuệ của con người đối
với thiên nhiên, góp phần hoàn thiện các quan hệ xã hội, đem lại hạnh phúc cho
con người. Khoa học tự nó là thành quả bất hủ của thiên tài con người. Song
khoa học tự nó không được coi là giá trị cao nhất của văn minh loài người,
khoa học là phương tiên chú không phải mục đích.
Công nghệ là việc phát triển, ứng dụng các công cụ, máy móc, nguyên
liệu và quy trình để giúp giải quyết và làm ra sản phẩm.
Kỹ thuật trước hết là tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập
hợp kỹ thuật (như máy móc, thiết bị, phương tiện…) bao gồm các tri thức về
phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm… được sử dụng theo một quy
4


trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động
để tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Kỹ thuật từ chỗ chỉ
dùng trong các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất theo sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì khái niệm kỹ thuật được sử dụng với
nghĩa rộng hơn và trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người.
Trong nửa thế kỷ qua, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ta
công ăn việc làm luôn đứng vị trí cao trong danh mục những vấn đề ưu tiên của
các nước trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Kết quả nghiên

đều có biểu hiện nhảy vọt và sự phát triển trong nhiều lĩnh vực như sau:
Trong ngành năng lượng, sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, giá. Than,
điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử…
Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công
trường thủ công rồi tiến đến phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình
sản xuất và kỹ thuật được cơ giới hóa tổng hợp, xuất hiện các hệ thống máy
móc, tạo ra các máy móc tự động, tự động hóa đồng bộ, hệ thống sản xuất linh
hoạt.
Trong sản xuất vật liệu, chuyển từ ngành nguyên liệu nông nghiệp, các
loại vật liệu xây dựng truyền thống, sử dụng kim loại, bê tông, các vật liệu kết
cấu, vật liệu thông minh, vật liệu siêu dẫn…
Trong kỹ thuật sản xuất, chế tạo từ sản xuấ thủ công, tiến đến bán tự
động, tới tự động hóa. Kỹ thuật thông tin học, kỹ thuật sinh học, …
Như vậy cuộc khoa học kyc thuật hiện đại dựa trên cơ sở cốt lõi là cuộc
cách mạng vi điện tử diến ra đầu thập niên 60 và các thành tựu khoa học kỹ
thuật lớn nhất của thế kỷ XX. Đó là bước quá độ dưới sự chỉ đạo với vai trò dẫn
đường của khoa học sang quá trình tổ chức lại về căn bản kỹ thuật sản xuất,
điều tiết các quy trình kỹ thuật với quy mô ngày càng tăng

6


Chng 2
Nhng thnh tu v khoa hc v cụng ngh nc ta t sau
i mi.
Lịch sử loài ngời trải qua 5 -6 ngàn năm (Trớc thế kỷ XVIII) thời kỳ
công trờng thủ công, gần 300 năm thời kỳ đại công nghiệp cơ khí nhng chỉ
mất gần 120 năm để hoàn thành thời kỳ công nghiệp hoá đầu tiên, sau đó ở
các nớc Mỹ, Tây Âu chỉ tiến hành công nghiệp hoá trong vòng 80 năm, Nhật
Bản 60 năm và ngày nay Việt Nam cũng nh nhiều quốc gia khác trên thế giới


phải trả giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó khi áp đặt
mô hình công nghiệp hoá XHCN ở Liên xô vào nớc ta mà không xuất phát từ
thực trạng đất nớc là một nớc nông nghiệp lạc hậu. Tuy nhiên, dù không đạt
đợc mục tiêu đề ra trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá nh ng
cũng nhờ đó mà chúng ta đã xây dựng đợc một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất
định, tạo ra tiềm lực mới về nhiều mặt đặc biệt là kinh tế, quốc phòng, văn
hoá, chính trị góp phần cho cuộc kháng chiến trờng kỳ của dân tộc, bảo đảm
đợc phần nào đời sống vật chất của nhân dân.
Đến năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc đã
đa ra định nghĩa về Công nghiệp hoá là: "Công nghiệp hoá một quá trình phát
triển kinh tế". Trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn
của cải quốc dân đợc động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở
trong nớc với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là "có một
bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra t liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả
năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội ".Theo quan điểm này, quá
trình công nghiệp hoá đợc hiểu là quá trình rộng lớn và sâu sắc với nhiều
mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm thực hiện một mục tiêu duy nhất là kinh tế
kỹ thuật nh trớc kia. Dựa trên cơ sở kỹ thuật đó, chúng ta nhận thức rõ đ ợc
sai lầm của mình trên con đờng công nghiệp hoá XHCN theo kiểu cũ, cứng
nhắc và kém hiệu quả. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: Quá trình phát
triển đầy khó khăn, thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái
kinh tế phát triển hiện đại không thể không tiến hành công nghiệp hoá và
cùng với công nghiệp hoá là hiện đại hoá. Công nghiệp hoá phải gắn liền với
hiện đại hoá và là hai quá trình nối tiếp và đan xen lẫn nhau. Tr ớc đó, ở các
nớc Mỹ và Tây Âu, họ đã tiến hành công nghiệp hoá khá lâu rồi mới đi vào
hiện đại hoá và cho tới nay, quá trình này vẫn còn đang tiếp tục. Ta có thể
hiểu: Hiện đại hoá là quá trình chống lại sự tụt hậu củạ sự bùng nổ của cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới. Nh vậy, xét về mặt
lịch sử quá trình công nghiệp hoá diễn ra trớc quá trình hiện đại hoá. Kinh

Tuy nhiên chất lợng các công trình còn thấp cần tiếp tục đợc tu bổ, nâng cấp,
xây dựng mới. Hiện nay chúng ta đã hình thành một hệ thống các công trình
phân bố trên phạm vi rộng với 743 hồ chứa nớc lớn và vừa, 1017 đập dâng,
4716 cống tới tiêu, 1796 trạm bơm đIện và hơn 2000 trạm biến thế chuyên dùng
cho thuỷ lợi. Đã xây dựng đợc mạng lới giao thông nông thôn phát triển theo
chiều sâu và rộng. Năm 1994 tỷ lệ xã có đờng ô tô về đến trung tâm xã là
86,5%, năm 1999 tăng lên 95%, khoảng 9777 xã. Tuy nhiên đờng giao thông
lạc hậu đã gây ách tắc về giao lu hàng hoá trên thị trờng. Điện đã xuống đợc
thôn xóm nhng chất lợng còn thấp và giá cả cao so với thu nhập của ngời dân
nông thôn. Năm 1999 có 8 894 143 hộ ở nông thôn có điện dùng, đạt 69,3% số
hộ nông thôn đợc dùng đIện lới quốc gia (Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số
12 năm 2000 trang 7).
Việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiệp nớc ta ngày một tăng. Mặc
dù các loại hoá chất đã góp một phần quan trọng trong việc gia tăng sản lợng
nông sản, nhng cũng đặt ra những vấn đề về môi trờng, về sức khoẻ ngời tiêu
dùng, do vậy cần phải hớng dẫn và quản lý chặt chẽ việc sử dụng các loại hoá
chất trong nông nghiệp.
Nhờ việc ứng dụng thành tựu cách mạng sinh học trong những năm gần
đây, chúng ta đã tạo ra nhiều giống cây trồng, cây lơng thực, cây lâm nghiệp,
đặc biệt là các loại giống lai có khả năng thích nghi với thời tiết tốt và cho năng
suất cao. Trong lĩnh vực chăn nuôi và thuỷ sản, chúng ta đã có những giống lợn
có tỷ lệ nạc cao, gà công nghiệp có tốc độ sing trởng nhanh, tốn ít thức ăn. Tuy
nhiên trình độ áp dụng thành tựu cách mạng sinh học của nớc ta còn thấp nên
cha tạo đợc các bớc đột phá.

10


+ Trong y hc cỏc loi mỏy múc hin i c trang b, cỏc loi thuc
mi c nghiờn cu, sn xut giỳp quỏ trỡnh chm súc sc khe c tt hn.

hạ tầng cho giáo dục đợc phát triển. Trong lớp đợc mở rộng về số lợng lẫn loại
mô hình đào tạo. Mạng lới các trờng đại học ,cao đẳng đợc mở rộng và sắp xếp
lại .
11


Các hoạt động văn hoá nghệ thuật báo chí xuất bản phát triển
Nhu cầu cần thiết của nhân dân về ăn mặc ở ,chăm sóc sức khoẻ, nớc
sạch ,điện sinh hoạt, học tập ,giải trí đợc đáp ứng .
Tạo ra nhiều việc làm mới cho ngời lao động .Công tác xoá đói giảm
nghèo đã đạt đợc kết quả nổi bật .Tỷ lệ hộ nghèo giảm .Các hoạt động đền ơn
đáp nghĩa,lá lành dùm lá rách ... đợc mở rộng
+ Quốc phòng và an ninh đợc tăng cờng .Vì kinh tế phát triển làm cho ta
có cơ hội ổn định xã hội .Quốc phòng đợc tăng cờng về trang thiết bị vũ khí
hiện đại .
+ Quan hệ đối ngoại đợc mở rộng:
Chúng ta đã chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, ra nhập khối các nớc
Đông Nam á ASEAN, ra nhập khối diễn dàn hợp tác kinh tế Thái Bình Dơng
APEC, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thơng mại thế giới WTO .Tăng
cờng quan hệ với các nớc đang phát triển, các tổ chức quốc tế và khu vực .Có
quan hệ thơng mại với hơn 140 quốc gia trên thế giới, có quan hệ đầu t với 70
quốc gia và vùng lãnh thổ.Thu hút đợc nhiều vốn nớc ngoài đầu t vào nớc ta.
Hiện nay ở nông thôn nớc ta có nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng,
chế tạo, sửa chữa cơ khí, rèn, đúc, xây dựng, dệt, may, thêu ren, làm gốm sứ
Trong cả nớc có khoảng 1450 làng nghề với 450 000 hộ, thu hút khoảng 1,2
triệu lao động tham gia. Tuy nhiên, do sức ép của d luận cũ hình thành từ thời
ngự trị của chế độ quản lý bao cấp, rất nhiều hộ gia đình giàu đã không dám
thuê mớn công nhân, họ sử dụng chủ yếu lao động gia đình. Vấn đề đặt ra là
công tác t tởng, công tác thông tin tuyên truyền bằng một phức hợp các phơng
tiện cần phải xếp ở một vị trí thích đáng. Làm đợc việc đó d luận xã hội mới có

hiu hng húa b xõm hi, nh hng n uy tớn v hiu qu kinh doanh.
- i ng cỏn b khoa hc v cụng ngh cũn ớt v s lng, hn ch v
trỡnh . Hng nm s lng cỏc cụng trỡnh nghiờn cu c cụng nhn v
ng ti trờn cỏc tp chớ khoa hc th gii cũn rt ớt.
- Hạ tầng cơ sở cho sản xuất ở nông thôn nh đờng xá, cầu, hệ thống điện,
nớc, văn hoá, giáo dục còn thiếu và yếu kém l yu t to nờn s mt cõn
bng v vic phỏt trin, nghiờn cu, tip cn v ng dng cỏc tin b khoa hc
k thut mi vo thc t sn xut.
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp, bên cạnh một số lĩnh vực,
một số cơ sở kinh tế đã đợc trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, trong nhiều
ngành kinh tế máy móc, máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu. Theo UNDP, Việt
Nam đang ở trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc
hậu 2 - 3 thế hệ (có lĩnh vực 4 - 5 thế hệ). Lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng số lao động xã hội. Do đó, năng suất, chất lợng, hiệu quả sản
xuất của nớc ta còn thấp so với khu vực và thế giới (năng suất lao động của nớc
ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới).
- Kết cấu hạ tầng nh hệ thống đờng giao thông, bến cảng, hệ thống
thông tin liên lạc còn lạc hậu, kém phát triển (mật độ đờng giao thông/km bằng
1% với mức trung bình của thế giới; tốc độ truyền thông trung bình cả nớc
chậm hơn của thế giới 30 lần). Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các
địa phơng, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm năng
của các địa phơng không thể đợc khai thác, các địa phơng không thể chuyên
môn hoá sản xuất để phát huy thế mạnh.
14


- Do cơ sỏ vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao
động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nớc ta
cha thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nông nghiệp vẫn sử dụng
70% lực lợng lao động, nhng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành kinh tế

hướng
- Khoa học tự nhiên và công nghệ :
+ Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực
VN có nhu cầu và thế mạnh
+ Đẩy mạnh có chọn lọc việc nhập công nghệ, mua sang chế kết hợp
công nghệ nội sinh
+ Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ
Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và khoa học công nghệ
Nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ
khu vực và quốc tế
+ Đẩy mạnh hội nhập quốc tế
+ Nhà nước khuyến khích các hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng
dụng công nghệ mới
+ Có chính sách hấp dẫn để các công ty xuyên quốc gia đầu tư và
chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp VN
16


+ Chú trọng nhập khẩu công nghệ hiện đại; từng bước phát triển mạnh
công nghệ trong nước
+ Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư,

+ Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi trong và ngoài
nước.
Khoa học và công nghệ đã làm thay đổi cả quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất. Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực cho sự phát triển
nhanh và bền vững.
Trọng tâm hoạt động công nghệ là phục vụ công nghiệp hòa, hiện đại hóa
đất nước, phát triển theo chiều sâu góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng,
hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện đồng bộ các

ứng dụng khoa học và công nghệ gắn với yêu cầu phát triển của từng ngành,
từng lĩnh vực, từng sản phẩm, gắn với đào tạo và sản xuất kinh doanh. Xây
dựng và thực hiện chương trình đổi mới khoa học và công nghệ quốc gia, có
chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ hiện đại, trước hết
là đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; ưu tiên phát triển công
nghệ cao; ứng dụng nhanh khoa học và công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp và
công nghiệp nông thôn; sử dụng hợp lý công nghệ dùng nhiều lao động. Nhanh
chóng hình thành một số cơ sở nghiên cứu - ứng dụng mạnh, đủ sức tiếp thu,
cải tiến công nghệ và sang tạo công nghệ mới gắn với hoạt động sản xuất kinh
doanh. Phát huy hiệu quả các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Có chính
sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi
mới công nghệ, làm chủ công nghệ then chốt, mũi nhọn và đẩy mạnh sản xuất
các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, trong đó ưu tiên các doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Quan tâm đúng mức nghiên cứu cơ bản có trọng điểm, theo các yêu cầu
phát triển đất nước. Chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học, công
nghệ làm nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức như: công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ môi trường… Tập chung
phát triển sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn trong một số ngành,
lĩnh vực.

18


Hỡnh thnh h thng ỏnh giỏ kt qu, hiu qu hot ng khoa hc v
cụng ngh. Thc hin nghiờm tỳc cỏc quy nh v s hu trớ tu, tp chung phỏt
trin v khai thỏc ti sn trớ tu. M rng v nõng cao h thng tiờu chun, quy
chun t chun mc quc t.

Kt lun


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status