Tài liệu LUẬN VĂN: Vấn đề thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại của nước ta trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Vấn đề thực trạng và giải pháp để mở rộng
và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại
của nước ta trong quá trình hội nhập với
khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay
Lời mở đầu Trong bối cảnh thế giới với xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá để
phát triển đi lên, Việt Nam không thể đứng ngoài, tách khỏi xu thế chung của
nhân loại. Việc hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng đạt được
những mục tiêu về dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề kinh tế đối ngoại là việc làm hết sức quan trọng và
cấp thiết. Với một phạm vi có hạn của một đề án kinh tế chính trị, bài viết này

1. Phân công lao động quốc tế
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cấp
một hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia nhất định dựa trên
cơ sở những lợi thế của quốc gia đó về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học,
công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của quốc gia khác thông qua trao đổi
quốc tế .
2. Lí thuyết về lợi thế tương đối của David Ricardo
Một dân tộc có hiệu quả thấp hơn so với các dân tộc khác trong việc sản
xuất hầu hết các loại sản phẩm, vẫn có cơ sở cho phép tham gia vào sự phân
công lao động và thương mại quốc tế, tạo lợi ích cho dân tộc mình.Theo ông,
một hàng hoá hoặc dịch vụ có lợi thế tương đối là những hàng hoá, dịch vụ mà
việc tạo ra nó có những bất lợi ít nhất. Và hàng hoá hoặc dịch vụ không có lợi
thế tương đối là những hàng hoá, dịch vụ mà việc sản xuất ra chúng có nhiều bất
lợi nhất.Và cũng theo lí thuyết này, một quốc gia cho dù bất lợi trong sản xuất
các loại hàng hoá dịch vụ so với các quốc gia khác vẫn có thể tham gia thương
mại quốc tế nếu biết lợi dụng sự chênh lệch về tiền lương và theo đó là tỷ giá
giữa hai đồng tiền nội tệ và ngoại tệ khi thực hiện trao đổi quốc tế .
3. Xu thế thị trường thế giới
Từ những thập kỷ 70 của thế kỷ XX lại đây, toàn cầu hoá và khu vực hoá
trở thành xu thế tất yếu của thời đại dẫn đến “mở cửa” và “hội nhập” của mỗi
quốc gia vào cộng đồng quốc tế, trong đó có “xu thế phát triển của thị trường thế
giới”. Xu thế này có liên quan đến sự phân công lao động quốc tế và việc vận
dụng lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong thương mại giữa các nước với nhau.
3.1. Thương mại trong các ngành tăng lên rõ rệt:
Sau chiến tranh thế giới 2, cùng với khoa học và công nghệ phát triển sự phân
công quốc tế đã có thay đổi rất lớn về hình thức, chủ yếu thể hiện ở sự phân
công giữa các ngành từng bước chuyển sang phân công nội bộ ngành, do đó

+ Cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, cục diện thế giới thay đổi từ hai
cực sang đa cực, so sánh sức mạnh kinh tế thế giới cũng thay đổi rõ rệt. Để duy
trì lợi ích của mình và củng cố vị trí trong đàm phán, nhiều nước đang phát triển
cũng tổ chức các loại hình liên minh kinh tế khu vực. Và để đảm bảo sự ổn định
và phát triển hài hoà, các nước phát triển cũng không thể xây dựng thị trường
chungcó tính chất khu vực nhằm điều hoà ngành sản xuất và thương mại của các
nước.
+ Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu ngành
trên quy mô thế giới. Những tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực mới như dịch vụ,
quyền sở hữu tài sản, trợ thuế ngày càng gia tăng. Vì vậy, các nước có tiềm lực
kinh tế lớn muốn lợi dụng hiệp nghị thương mại song phương để gây sức ép
trong đàm phán thương mại đa phương và ra sức lấy đó làm mẫu mực ký kết
hiệp định thương mại tự do với các nước có liên quan.
Xu thế tập đoàn hoá kinh tế khu vực ngày càng có ảnh hưởng quan trọng
đến tình hình kinh tế thương mại thế giới, làm cho hướng chuyển dịch tiền vốn
và kỹ thuật trên phạm vi thế giới có thay đổi lớn. Điều này vừa đem lại cơ hội
cho sự phát triển thương mại và kinh tế thế giới vừa có ảnh hưởng bất lợi đối với
nhiều nước, nhất là các nước nằm ngoài khu vực và các nước đang phát triển .
Tóm lại, sự hình thành và phát triển kinh tế đối ngoại mà cơ sở khoa học
của nó chủ yếu được quyết định bởi sự phân công và hợp tác lao động trên phạm
vi quốc tế được các quốc gia vận dụng thông qua lợi thế so sánh để ra quyết định
lựa chọn các hình thức kinh tế đối ngoại diễn ra trong điều kiện toàn cầu, khu
vực hoá và được biểu hiện rõ nhất ở xu thế phát triển của thị trường thế giới
trong mấy thập niên gần đây.
Đứng trên góc độ kinh tế chính trị, liên hệ với Việt Nam hiện nay, vấn đề
kinh tế đối ngoại sẽ được xem xét trên hai phương diện: thực trạng và giải pháp.
để từ đó thấy được những thành tựu chúng ta đã đạt được cũng như những sai

chiếm 80%, châu Âu:15%, châu Phi; 3% và châu Mỹ là: 2%. Mười quốc gia và
lãnh thổ nhập khẩu lớn nhất hàng Việt Nam là: Nhật Bản (28.5%), Xingapo
(14.6%), Trung Quốc (7.4%), Đài Loan (5.4%), Hồng Kông (4.9%), CHLB Đức
(4.6%), Pháp (3.2%), Thái Lan (2.3%), Liên bang Nga (2.2%), Hàn Quốc
(2.2%).
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao. Từ năm 1986 đến nay, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam đều tăng, trong thời kỳ 1991-1995 trung bình mỗi
năm kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng 20%. Đây là một tốc độ tăng trưởng
cao so với nền ngoại thương thế giới và cao hơn nhiều so với tốc độ phát triển
của sản xuất trong nước. Năm 1996, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 7…2558 tỷ
USD tăng 31.1% so với năm 1995; riêng hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tuy chỉ chiếm tỷ lệ 11.1% tổng kim ngạch xuất khẩu
nhưng đã tăng gấp hai lần so với năm 1995. Năm 1997, tổng kim ngạch xuất
khẩu đạt gần 9 tỷ USD.
2. Đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế (mà trước đây Lênin gọi là nhập khẩu tư bản) là một hình
thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai hay
nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một
dự án đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi ở Việt Nam.
Việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và Luật sửa
đổi bổ sung Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng 6-1990, tháng 12-1992
và tháng 11-1996 đã được dư luận quốc tế , đặc biệt là các chủ đầu tư trực tiếp
đánh giá là thông thoáng và hấp dẫn, tương đối phù hợp với luật pháp và thông
lệ quốc tế. Đến cuối năm 1997, đã thu hút được 2300 dự án đầu tư với số vốn
đăng ký hơn 32 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện là12.3 tỷ USD.Tốc độ tăng
trung bình hàng năm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 50%. Các dự án
FDI đã tạo khoảng 200 000 việc làm trực tiếp và gián tiếp, cùng hàng vạn việc

khách với các hãng du lịch nước ngoài. Lượng khách du lịch quốc tế vào Việt
Nam thời kỳ 1990-1995 tăng trung bình 40%/năm. Riêng năm 1996 số lượng du
khách quốc tế đạt mức 1.6 triệu lượt người. Số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn
quốc tế ngày càng tăng. Đã có 120 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 5 sao.Toàn
ngành du lịch- khách sạn đã thu hút 149 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn
đăng ký đạt 3.97 tỷ USD ( chỉ đứng sau ngành công nghiệp). Tất cả những điều
đó cho thấy ngành du lịch Việt Nam đã và đang vươn lên mạnh mẽ để trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển đất nước.
Tài chính- tiền tệ cũng có những biến đổi phù hợp với quá trình công
nghiẹp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện nay ở Việt Nam có 4 ngân hàng thương
mại quốc doanh, có ngân hàng phục vụ người nghèo, tổng công ty vàng bạc đá
quý, 53 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 23 chi nhánh
ngân hàng nước ngoài của 12 nước, 70 văn phòng đại diện của các ngân hàng
nước ngoài, 2 công ty tài chính cổ phần, hệ thống tín dụng và hợp tác xã tín
dụng. Sự có mặt của các tổ chức kinh doanh tiền tệ nước ngoài tại Việt Nam có ý
nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện sự quan tâm của cộng đồng tài chính- tiền tệ
quốc tế đối với Việt Nam, góp phần đa dạng hoá hệ thống tài chính trong nước,
tạo ra môi trường cạnh tranh mới, thúc đẩy quá trình cải cách hệ thống ngân
hàng Việt Nam để hội nhập có hiệu quả với hệ thống ngân hàng khu vực và thế
giới
Một số dịch vụ quốc tế khác cũng đã bước đầu hoạt động có hiệu quả như
vận tải quốc tế, xuất nhập khẩu.
4. Chính sách tỷ giá hối đoái
Từ năm 1987, Việt Nam bắt đầu thực hiện cải cách trong cơ chế điều hành
tỷ giá đồng Việt Nam (VNĐ) với đô la Mỹ (đồng tiền đóng vai trò quan trọng
trong quan hệ thanh toán cuả Việt Nam với nước ngoài). Vào tháng 8 và tháng
11-1991, hai trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

ngành công nghiệp như may mặc, da giày, giấy… của Việt Nam phát triển được
một phần đáng kể là nhờ có vốn đầu tư và thị trường của châu Âu. Ví dụ, năm
1995, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU là 350 triệu USD, năm
1996 đã lên tới 560 triệu USD.
5.3 Thành công bước đầu trong liên kết kinh tế khu vực
Từ 28-7-1995, Việt Nam đã nhanh chóng tận dụng ưu thế của liên kết khu
vực nhằm phát triển kinh tế . Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam cũng
gia tăng và có hiệu quả hơn. Vị thế Việt Nam trong các mối liên kết kinh tế khu
vực ASEAN tạo nhiều thuận lợi cho sự phát triển. Việt Nam cũng đã đệ đơn gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) (tháng 12-1994) và Diễn đàn kinh tế
châu á- Thái Bình Dương (APEC) (năm 1996). Quá trình đàm phán để gia nhập
đang diễn biến thuận lợi và tạo ra các cơ hội đẩy nhanh quá trình hội nhập với
nền kinh tế thế giới .
6. Những thiếu sót trong kinh tế đối ngoại .
-Hiệu quả kinh tế đối ngoại chưa cao .Việc phát triển kinh tế chưa hướg
hạnh vào xuất khẩ, kim ngạch xuất khẩu còn thấp , chủ yếu là xuất khẩu nguyên
liệu thô , chưa qua chế biến .Cơ chế hàng nhập khẩu chưa hợp lí . Nhập siêu quá
lớn .Dịch vụ thu ngoại tệ chưa phát triển .
-Chưa tạo được những thị trường xuất nhập khẩu trực tiếp có quy mô lớn
và ổn định , chưa vào đươc một số thị tường lớn , quan trọng .Chưa mạnh dạn đi
vào những thị trường mới .Mở rộng thị trường nước ngoài nhưng chưa chú ý
đúng mức thị trường trong nước .
-Tình trạng tự phát , thiếu tổ chức quản lí , tranh mua , tranh bán ,sơ hở ,
bị động tronghoạt động kinh tế đối ngoại còn khá phổ biến .
-Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài hiếu quy hoạch cụ thể và hiệu quả
chưa cao .Việc tranh thủ vốn FDI còn nhiều yếu kém ở các khâu quy hoachị ,
góp vốn của phía Việt Nam , thủ tục hành chíh cấp giấy phép và triển khai , quản
lí dự án , thực thi pháp luật , nhất là về thuế, lao động , tiền lương, giá …Mức
giả ngân đối với các dự án thực hiệ bằng vốn ODA còn thấp , chưa chủ động và
chưa hợp lí , làm kéo dài tiến đội xây dựng công trình .

Độ phụ thuộc mậu dịch đối ngoại của nước ta năm 1995 khoảng 65% ,
năm 2000 tăng lên 100%. Độ phụ thuôc xuất khẩu tương ứng từ 26% lên 48%
và chỉ số này trong nhập khẩu từ 39% lên 52% .Mặc dù tốc độ tăng xuất khẩu
bình quân của nước ta giảm từ 32.6% thời kì 1991 –1995 xuống còn 19,3 %/năm
trong thời kì 1996-2000 do chịu ảnh hửơng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ trong khu vực và tiếp đó là sự suy thoái kinh tế toàn cấu , nhưng vẫn cao hơn
tốc dộ tăng GDP nhiều , nên độphụ thuộc mậu dich đối ngoại nói chungvà độ
phụ thuộc xuất khẩu nối riêng vẫn tăng lên .

Bảng1: Tốc độ tăng GDP giai đoạn 1991 - 2001 theo giá so sánh năm
1994 (%)
Năm 119
1
199
2
199
3
199
4
199
5
199
6
199
7
199
8

7.2 Tốc độ tăng trưởng GDP cao , thời kì 1996-2000 bị ảnh hưởng bởi bối
cảnh kinh tế khu vực và quốc tế nên tốc độ này giảm xuống nhưng vẫn được đánh
giá là khả quan so với nhiều nước .
Tính bình quân giai đoạn 1991-1995 là 8.18% tình bình quân giai đoạn
1996-2000 là 6.95%. Bản trên cho thấy từ năm 1997 tốc độ tăng GDP giảm so
với những năm trứơc do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực và sau đó là suy thoái kinh tế toần cầu .
So sánh với kim ngach xuất khẩu và nhập khẩu thấy xu hướng biến động
của GDP chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngoại thương .Rõ nhất là hai năm 1998-
1999 xuất khẩu tăng thấp 1.9% và 23.3% và nhập khẩu tương ứng là -0.8% và
2.1% thì tốc đọ tăng GDP cũng giảm xuống 5.76% vầ 4.77% .

Bảng 2: Tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu 1991 - 2001 (%)

Năm 119
1
199
2
199
3
199
4
199
5
199
6
199
7
199
8

1.9
-0.8
23.3
2.1
25.5
33.2

3.
3.48

7.3 Thị trường nước ngoài không ngừng được mở rộng .
Cho tới năm 2001 nước ta đã có quan hệ buôn bán với 165 nước , trong đó
có 76 nước đã kí hiệp định thương mại, thoả thuận tối hụê quốc với 68 nước .
Nước ta đã đẩy lùi được chính saccchs bao vây cô lập, cấm vận cuẩ các thế lực
thù địch , tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, năng câo vị thế nước ta trên chính trường và thương
trường thế giới .
7.4 Thu hút một nguồn lớn FDI .
FDI đăng kí cao nhất vào năm 1996, rồi giảm mạnh , dến năm 2001 lại
tăng đôi chút n, nhưng vẫn chưa đạt 1993; Còn FDI thực hiện lại đạt đỉnh cao
vào năm 1997 và giảm ít hựn FDI đăng ký, năm 2001 đật cao hơn mức 1994
.Đáng chú ý là tỷ lệ giữa FDI thực hiện so với FDI đăng lí co xu hướng tăng lên ,
nhất là năm 1999 và năm 2000, chứng tỏ một soó dự án cũ có hiệu quả nên được
tăng thêm vốn .
Về số dự án FDI: Tăng từ 37 ( năm 1988 ) lên 410 (năm 1995 ) rồi giảm
xuống vào các năm 1996-1998 sau đó lại tăng dần và đạt 463 dự án vào năm
2001. Vốn pháp định giảm dần tỷ trọng từ 74.3% (năm 1998), 86.3% (năm 1990) -
1990

Đăng ký 1582

1275

2027

2589

3746

6607

8640

4649

3897

1567 1987 2736

Thực
hiện
- 478 542 1097

nhà tài trợ dành số ODA lớn cho Việt Nam. Năm 1999 trong tổng giá trị ODA
theo các hiệp định dã được ký kết với nước ta Nhật Bản chiếm 38.77%, WB
20.8% và ADB 10.34%, các đối tác khác 30%. Phần lớn ODA đã Sử dụng vào
phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội, trong đó năng lượng điện chiếm
26%, giao thông vận tải 27,8%, tín dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế 10%, nông
nghiệp 14,3%, cấp thoát nước 7%, lĩnh vực xã hội (y tế, dân số, giáo dục và đào
tạo…) 6,8% các ngành khác 7,2%.
Bảng 4: Lượng ODA cam kết và giải ngân

Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Cam kết 1810 1940 2260 2430 2400 2700 2800 2400 2356
Giải ngân 413 725 737 900 1000 1242 1350 1650 1711
Tỷ lệ giải
ngân/cam kết
22,2 37,3 32,6 37 41,6 46 48,2 68,7 72,6
(%)

7.6. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, đói nghèo giảm
Bảng 5: GDP thực tế bình quân đầu người và tính theo tỷ giá sức mua tương
đương (PPP năm 1999) và chỉ số HDI của Việt Nam

Năm 1995 1997 1999 2001
GDP/ người theo
PPP năm 1999
(USD)
1010 1208 1630 1860
Chỉ số K 0,38 0,42 0,47 0,49

kinh tế thị trường nước ta.
Một là, tác động nói trên chủ yếu hướng vào những ngành và lĩnh vực
định hướng xuất khẩu, đối với phần còn lại của nền kinh tế quốc dân chưa rõ nét,
thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế rất chậm.
Qua bảng 6 trên có thể thấy tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp trong
GDP của nước ta giảm rất chậm( từ 27,18% năm 1995 xuống 23,62% năm 2001,
tức là chỉ giảm 3,5% sau 6 năm); chỉ tiêu này trong dịch vụ không những không
tăng mà lại giảm từ 44,16% năm 1995 xuống 38,55% năm 2001, còn trong công
nghiệp và xây dựng chỉ tăng trên 9% trong cùng kỳ.
Xét cơ cấu lao động xã hội trong các ngành kinh tế càng kém sáng sủa
hơn.Lao động trong ngành nông, lâm, thuỷ sản từ 71,2% năm 1995 giảm xuống
còn 68,2% năm 2000, lao động trong nhóm ngành công nghiệp khai thác mỏ;
công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước và xây dựng
tương ứng tăng từ 11,4% lên 12,1% và lao động trong các ngành dịch vụ từ
17,4% lên 19,7% (tính theo Niên giám Thống kê 2001, tr41). Như vậy là chuyển
biến quá chậm.
Hai là, thị trường nước nước ngoài chủ yếu là Châu á mà cơ hội hỗ trợ cho
nhau giữa Việt Nam với các nước Châu á là tương đối thấp. Theo số liệu thống
kê, giá trị xuất khẩu của nước ta với 46 nước và giá trị nhập khẩu với 41 nước
năm 2000 ( chiếm khoảng 95% tổng kim ngạch ) thì châu á chiếm 60% xuất
khẩu và 83.3% nhập khẩu của Việt Nam, trong đó Nhật Bản chiếm 18.7% xuất
khẩu và 15.3% nhập khẩu; tiếp đến là Châu âu chiếm gần 24% xuất khẩu, 11.3%
nhập khẩu, riêng EU là 20.7% và 8.7%; tương ứng châu Đại Dương trên 9% xuất
khẩu và 3% nhập khẩu, trong đó Mỹ chiếm 5.3% xuất khẩu và 2.4% nhập khẩu.
Còn châu Phi hầu như không đáng kể. Theo nhậu định của một số chuyên gia
của WB thì cơ hội hỗ trợ cho nhau giữa Việt Nam và các nước châu á tương đối
thấp nên triển vọng tăng kim ngạch xuất khẩu với các nước này không lớn.
Nhưng Việt Nam lại có mức độ tương thích cao trong buôn bán với Mỹ và EU,
đặc biệt là xuất khẩu quy mô vừa và nhỏ.


Ngãi)).
Cũng do hiệu qủa đầu tư thấp nên năng lực cạnh tranh của hàng hoá nước
ta trên thị trường trong và ngoài nước rất hạn chế. Theo Montague Lord thì năm
2001, diễn đàn kinh tế thế giới đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 60 trong 75
nước, mặc dù Việt Nam có tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu vào loại cao nhất thế giới
trong những năm 90, chủ yếu là do xuất khẩu những mặt hàng thô, đòi hỏi lao
động ít kỹ năng.
Để tận dụng ngoại lực, hát huy cao độ nội lực, tranh thủ tác động tích cực,
hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế nhằm
phát triển nhanh, bền vững, trong thời gian tới cần phải ban hành những chính
sách khuyến khích hướng dẫn đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực mà chiến
lược phát triển kinh tế –xã hội 5 năm và 10 năm ưu tiên; điều chỉnh phương
hướng thị trường và khắc phục những nhược điểm để nâng cao hiệu quả đầu tư
và năng lực cạnh tranh của hàng hoá nước ta trên thị trường trong và ngoài nước.
9. Cơ hội và thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế
9.1. Năm thách thức cơ bản Việt Nam phải đối mặt:
Thứ nhất, tiềm lực vật chất của Việt Nam còn yếu, nguồn nhân lực nói
chung có trình độ thấp và có kỹ năng không cao, điều này khiến cho việc tham
gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế nhiều bất cập.Khó khăn này thể
hiện ở chỗ năng lực tiép nhận công nghệ yếu, khó phát huy lợi thế của nước đi
sau trong việc tiếp nhận các nguồn lực có sẵn từ bên ngoài để nâng cao cơ sở hạ
tầng kỹ thuật dẫn đến nguy cơ Việt Nam trở thành “bãi rác” của công nghệ lạc
hậu.
Thứ hai, sức cạnh tranh đặc biệt là của các sản phẩm công nghiệp Việt
Nam quá thấp, do đó Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc củng cố và phát
triển các thị trường mới trong điều kiện nhiêù nước đang phát triển cùng chọn
chiến lược tăng cường hướng về xuất khẩu nên Việt Nam sẽ bị áp lực cạnh tranh

lớn đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhập của Việt Nam. Từ nhận thức này, trong
những năm qua Việt Nam đã cóbước chuyển đổi lớn trong chính sách phát triển
kinh tế đối ngoại. Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các
tầng lớp khác nhau phụ thuộc vào thực lực cụ thể của mỗi lĩnh vực.
Thứ hai, tham gia toàn cầu hoá chính là nhằm tranh thủ những điều kiện
quốc tế để khai thác các tiềm năng nước nhà, phục vụ cho việc nâng cao đời
sống nhân dân. Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên thien nhiên phong phú
nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Với nguồn tài nguyên phong phú không chỉ
tạo điều kiện cho việc phát triển các ngành công nghiệp khai thác chế biến mà
còn là sức thu hút đối với các công ty nước ngoài.Trên cơ sở các nguồn tài
nguyên thiên nhiên sẵn có, Việt Nam có thể xác lập cơ cấu ngành kinh tế với
những sản phẩm có tính cạnh tranh đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế
giới.
Thứ ba, trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang quá độ sang nền kinh tế
trí tuệ, khoa học- công nghệ phát triển mạnh trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội nhưng cũng không thể thay thế vai trò
của nguồn lực lao động. Hơn nữa, bản thân nguồn lực lao động còn là nhân tố
sáng tạo ra công nghệ thiết bị và sử dụng chúng trong quá trình phát triển kinh
tế. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nguồn lực của nước ta khai thông,
giao lưu với thế giới ben ngoài. Việt Nam đã xuất khẩu lao động qua các hợp
đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu và nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, công
nghệ mới rất cần thiết. Như vậy với lợi thế nhất định về nguồn lao động cho
phép lựa chọn dạng hình phù hợp tham gia vào hội nhập và quá trình hội nhập đã
tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam.
Thứ tư, Việt Nam đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều
kiện đất nước hoà bình, chính trị- xã hội ổn định. Đây là cơ hội rất quan trọng để
tập trung phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại. Chính trị- xã hội ổn định

Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã tích luỹ được một số kinh nghiệm
cũng như những thành tựu hữu ích cho công cuộc phát triển kinh tế ở những giai
đoạn tiếp theo. Có thể nói, bước vào kế hoạch 5 năm 1996- 2000, Việt Nam thực
sự có thể đẩy nhanh sự nghiệp phát triển đất nước.Với chính sách ngoại giao
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” hoạt động đối ngoại của nước ta
ngày càng đa dạng và đang đi vào chiều sâu ( quan hệ ngoại giao với hơn 160
nước ở mọi châu lục, ký gần 600 hiệp nghị các loại). Vững tin vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhận thức được quá trình liên kết khu
vực và quốc tế hoá là một tất yếu của thời đại, Việt Nam đang tiếp tục cải thiện
vị thế của mình trên trường quốc tế tạo mọi thuận lợi cho việc phát triển các
quan hệ kinh tế đối ngoại.
Với việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ, mặc dù chưa có quy chế tối
huệ quốc và hiệp định thương mại chính thức, năm 1996 Việt Nam đã xuất khẩu
sang thị trường Mỹ trị giá 300 triệu USD. Những năm tới số lượng sẽ còn lớn
hơn nhiều vì Mỹ là thị trường có sức mua khổng lồ, nhu cầu đa dạng. Ngược lại,
chính Việt Nam cũng trở thành một thị trường xuất khẩu tiềm năng của Mỹ (
theo sự xếp loại của Phòng Thương mại Mỹ). Một hiệp định thương mại toàn
diện Việt- Mỹ bao gồm cả quy chế tối huệ quốc đang được hoàn tất để ký kết mở
ra một bước nhảy vọt mới trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Với hiệp định
khung đã ký với EU, chắc chắn các công ty châu Âu sẽ đầu tư mạnh hơn vào
Việt Nam, viện trợ ODA của châu Âu cho Việt Nam sẽ tăng và giải ngân nhanh
hơn. Châu Âu cũng sẽ dành thêm những ưu đãi cho hàng xuất khẩu của Việt
Nam để thông qua Việt Nam có được vị trí của họ tại ASEAN và châu á. Việt
Nam cũng được các nước ASEAN nhất trí giao cho làm nước điều phối quan hệ
ASEAN- Liên bang Nga, Niu Dilân, Papua, Niu Ghinê. Điều dó tạo cho Việt
Nam những thuận lợi để điều chỉnh quan hệ với Liên bang Nga( nước chủ nợ
chính của Việt Nam ) trong các quan hệ kinh tế cũng như sự ủng hộ của các


xuất vad xây dựng quan hệ sản xuất mới; tranh thủ ngày càng nhiều vốn đầu tư,
công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nước ngoài và từng bước
đầu tư ra nướcc ngoài góp phần tích cực làm biến đổi cơ cấu kinh tế và phân
công lao động trong nước, mở rộng hợp tác quốc tế.
Đa phương hoá, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại nhưng có
trọng tâm, trọng điểm, khái thác li thế so sánh của ta và tận dụng xu thế phát
triển của thế giớo và khu vực, tạo được nhiều thị trường ổn định, chú trọng
những thị trơừng lớn.
Khai thác các tiền năng, phát huy các nguồn lực bên trong của cả nước
cũng như mỗi đại phương, nghành, đơn vị để phát triển kinh tế đối ngoại một
cách đồng bộ , hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời coi trọng đúng mức thị
trường trong nước, đáp ứng tốt yêu cầu của nhân dân đối với ngững mặt hàng
thiết yếu.
Tạo được sự tín nhiệm của các nước trong giao lưu kinh tế đối với
nước ta. Tích cực và chủ động hợp tác quốc tế, tham gia các diễn đàn quốc tếa
và các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, vừa theo thông lệ và luật pháp quốc
tế vừa bảo vệ lợi ích của nước ta.
Kimh tế đối ngoại hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng, sự quản lý và
điều hành thống nhất của nhà nước, với sự tham gia của các thành phần kinh tế,
trong đó doanh nghiệp nhà nước là chủ lực.
Xây dựng, giáo dục, đào yạo và đào tạo lại một đội ngũ cán bộ, nhân
viên làm công tác kinh tế đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức
phẩm chất tốt, có trình độ cao về cuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, năng
động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới.
2. Đường lối kinh tế đối ngoại trong vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai
đoạn hiện nay
2.1. Tranh thủ nguồn lực bên ngoài, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế:
Quan điểm này xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn và : thời đại ngày
nay đang diễn ra cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá kinh

nước ngoài ( các công ty có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu máy móc thiết bị,
sử dụng các công nghệ sản xuất và các phương pháp quản lý tiên tiến để sản xuất
kinh doanh ở nước ta); thông qua việc cho phép các công ty nước ngoài tham gia
đấu thầu, thực hiện các dự án hoặc làm tư vấn cho các dự án xây dựng trong
nước; thông qua việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, các dây truyền công nghệ
bằng các nguồn vốn vay và viên trợ của nước ngoài bằng các hợp đồng mua
công nghệ, truyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý sản
xuất kinh doanh…

Trích đoạn Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với kinh tế đối ngoại Xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status