PHIẾU MÔ TẢ DỰ ÁN DỰ THI
1. Tên tình huống: Vận dụng kiến thức các môn sinh học, toán học, địa lí, DGCD và
kiến thức đời sống vào việc: “Sử dụng hợp lí thuốc bảo vệ thực vật ở cây trồng ở địa
phương em”
2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
Trong lĩnh vực trồng trọt, thuốc bảo vệ thực vật có vai trò rất quan trọng trong
việc giữ vững năng suất, chất lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực. Tuy
nhiên rất nhiều người dân có kiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong thuốc bảo
vệ thực vật, dẫn tới tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu hiệu quả và an
toàn, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đem đến nhiều hệ
lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền
vững của nông nghiệp. Nhất là bà con nông dân ở các vùng nông thôn mà cụ thể là ở
địa phương em. Với kiến thức hiểu biết của bản thân, em thử làm một tuyên truyền
viên về việc tuyên truyền cho người dân ở địa phương em sử dụng hợp lí thuốc bảo vệ
thực vật trong nông nghiệp
II. Bài viết nội dung gồm:
- Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật, các dạng thuốc bảo vệ thực vật
- Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật
- Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ở Việt Nam
- Những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
- Biện pháp hạn chế các tác hại của thuốc bảo vệ thực vật
- Ý nghĩa của việc tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề thực tế
III. Giải pháp giải quyết vấn đề thực tiễn:
Vận dụng các kiến thức liên môn:
- Công nghệ: Biết được mặt lợi, mặt hại của thuốc bảo vệ thực vật, biết sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật hợp lí
- Toán học: thống kê số liệu tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
- Địa lí : Biết được sự ô nhiễm môi trường do thuốc bảo vệ thực vật gây ra, biết được
hiện tượng nóng lên của trái đất
trừ chuột,…
Mỗi nhóm thuốc bảo vệ thực vật chỉ có thể trừ được một loài dịch hại nhất
định.
Thuốc BVTV đang được sử dụng trên thị trường rất đa dạng về chủng loại,
phong phú về sản phẩm. Tính đến năm 2010, riêng các loại thuốc sử dụng trong nông
nghiệp, theo thống kê:
- Thuốc trừ sâu: 437 hoạt chất với 1.196 tên thương phẩm.
- Thuốc trừ bệnh: 304 hoạt chất với 828 tên thương phẩm.
- Thuốc trừ cỏ: 160 hoạt chất với 474 tên thương phẩm.
- Thuốc trừ chuột: 11 hoạt chất với 17 tên thương phẩm.
- Thuốc điều hòa sinh trưởng: 49 hoạt chất với 118 tên thương phẩm.
- Chất dẫn dụ côn trùng: 6 hoạt chất với 8 tên thương phẩm.
- Thuốc trừ ốc: 19 hoạt chất với 91 tên thương phẩm.
- Chất hỗ trợ (chất trải): 5 hoạt chất với 6 tên thương phẩm.
2. Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật
Đối với người, khi được sử dụng không đúng cách, thuốc bảo vệ thực vật sẽ
gây nhiễm độc cấp tính: Bỏng mắt cấp tính, hủy hoại da, ảnh hưởng thần kinh, gan.
Khi bị nhiễm độc mãn tính sẽ ảnh hưởng đến tủy xương (thiếu máu bất sản và loạn
tạo máu); ảnh hưởng đến sinh sản (vô sinh ở nam, sảy thai, thai dị dạng...); gây độc
thần kinh; ảnh hưởng đến cơ chế miễn dịch... Cơ thể con người bị nhiễm độc thuốc
bảo vệ thực vật biểu hiện ở nhiều mức độ: giảm sút sức khỏe, gây rối loạn các hoạt
động ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hóa hô hấp, bài tiết, gây các tổn thương bệnh lý ở
các cơ quan, hệ thống nói trên từ mức độ nhẹ tới nặng, thậm chí tàn phế hoặc tử vong.
Do đó theo dõi sức khỏe có hệ thống khi tiếp xúc thường xuyên với thuốc bảo vệ thực
vật là rất cần thiết. Đối với môi trường xung quanh, thuốc bảo vệ thực vật diệt cả
những côn trùng và động vật hữu ích cho con người, có thể làm biến đổi thế cân bằng
tự nhiên của hệ sinh thái gây ô nhiễm đất, nước, không khí. Các thuốc trừ sâu tồn dư
lâu, không bị phân hủy ở trong đất và trong nước có thể làm cho động vật, cây trồng
lan trên thị trường cũng là một vấn đề “nhức nhối” trong vấn đề quản lý và sử dụng
thuốc BVTV.
Theo kết quả điều tra, thống kê về các điểm tồn lưu hóa chất BVTV từ năm
2007 đến năm 2009 đã phát hiện 1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn
35 tỉnh, thành phố. Trong số này, có khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm
do hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất bảo vệ
thực vật tồn lưu trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố. Trong đó, 189 khu vực bị ô nhiễm
đặc biệt nghiêm trọng và ô nhiễm nghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu
vực đất có ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ
ô nhiễm.
Kết quả điều tra mới đây nhất của các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương đã
phát hiện thêm 409 khu vực bị ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu. Hầu
hết nằm ở địa bàn các tỉnh miền Bắc và miền Trung.
Một nghiên cứu của Viện Môi trường nông nghiệp Việt Nam cho thấy lượng
thuốc BVTV còn bám lại trên vỏ bao bì bình quân chiếm 1,85% tỷ trọng bao bì.
Trong khi đó, người dân hoàn toàn không có ý thức xử lý lượng thuốc BVTV còn tồn
lại trên vỏ bao bì. Có tới hơn 65% những người dân được hỏi khẳng định họ vứt vỏ
bao bì ngay tại nơi pha thuốc.
Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, có tới 80% thuốc bảo vệ thực vật tại
Việt Nam đang được sử dụng không đúng cách, không cần thiết và rất lãng phí.
Cục Bảo vệ thực vật- Bộ NN&PTNT cho biết, kết quả thanh, kiểm tra tình hình
sử dụng thuốc BVTV trong thời gian gần đây đối với 13.912 hộ nông dân sử dụng
thuốc BVTV, thì có đến 4.167 hộ (chiếm 29,9%) sử dụng thuốc BVTV không đúng
quy định như không đảm bảo lượng nước, không có bảo hộ lao động, sử dụng thuốc
BVTV không đúng nồng độ, liều lượng, bao bì sau khi sử dụng vứt bừa bãi không
đúng nơi quy định… Các vi phạm chủ yếu là người nông dân không có phương tiện
bảo hộ lao động, sử dụng thuốc BVTV không đúng nồng độ, liều lượng, bao bì vứt
bừa bãi không đúng nơi quy định…
- Sử dụng thuốc quá liều lượng khuyến cáo, tùy tiện hỗn hợp khi sử dụng.
Kết quả điều tra năm 2002 (Đào Trọng Ánh) chỉ có 22,1 - 48% nông dân sử dụng
đúng nồng độ liều lượng thuốc trên lúa, 0 - 26,7% trên rau và 23,5-34,1% trên chè,
trong khi đó có nhiều nông dân tăng liều lượng lên gấp 3 - 5 lần. Ở các tỉnh phía Nam,
có tới 38,6% dùng liều lượng cao hơn khuyến cáo, 29,7% tự ý hỗn hợp nhiều loại
thuốc khi phun. Năm 2010, 19,59% nông dân cả nước vi phạm sử dụng thuốc, trong
đó không đúng nồng độ là 73,2% (Cục BVTV)
- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không tuân thủ thời gian cách ly
Đây là một tồn tại nguy hiểm, tác động trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm song
đáng tiếc là rất phổ biến, đặc biệt là ở các vùng rau quả, chè… có tới 35 - 60% nông
dân chỉ thực hiện thời gian cách ly từ 1 - 3 ngày, 25 - 43,3% thực hiện cách ly 4 - 6
ngày trong khi phần lớn các loại thuốc có yêu cầu cách ly từ 7 - 14 ngày hoặc hơn.
(Đinh Ngọc Ánh - 2002), năm 2010 trên diện rộng còn tới 10,22% nông dân không
đảm bảo thời gian cách ly. (Cục BVTV)
- Coi trọng lợi ích lợi nhuận hơn tác động xấu đến môi trường, sức khỏe cộng
đồng.
Có một thực tế rất đáng lên án là một bộ phận nông dân cố tình sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật sai quy định pháp lý và kỹ thuật vì mục đích lợi nhuận của bản thân, xem nhẹ
luật pháp và lợi ích cộng đồng. Đặc biệt ở các vùng rau, quả, chè, hoa, nông sản có
giá trị cao… Điều tra năm 2003 - 2005 tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, có tới 20 - 88,8% số
nông dân vẫn dùng thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục. Năm 2010, Cục BVTV cho
biết còn 5,19% số hộ dùng thuốc cấm, ngoài danh mục, 10,22% không đúng thời gian
cách ly, 51% không thực hiện theo khuyến cáo của nhãn.
Như vậy có thể thấy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở nước ta trong vòng
10 năm lại đây, bên cạnh những thành tựu và ưu điểm cũng còn nhiều tồn tại, thiếu
sót, tác hại có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó có nguyên nhân chủ
quan từ phía xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách quản lý và kỹ thuật và chủ
quan từ phía thực hiện của người sản xuất nông nghiệp trong sử dụng thuốc bảo vệ
vào tình hình dịch hại. Điều này gây nên sự lãng phí và cũng là một trong những
nguyên nhân gây hiện tượng “kháng thuốc” của dịch hại. Việc sử dụng thuốc chỉ thực
sự đạt hiệu quả về mặt kinh tế và kỹ thuật khi sinh vật hại đã phát triển đến ngưỡng
gây hại hoặc ngưỡng kinh tế.
Ngưỡng gây hại là mức độ của dịch hại bắt đầu làm tổn thương đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất cây trồng. Ngưỡng kinh tế là mức độ dịch hại mà khi
đó nếu tiến hành các biện pháp phòng trừ thì chi phí bỏ ra phải ít hơn hoặc bằng với
giá trị sản phẩm thu lại được do kết quả của việc phòng trừ.
b) Áp dụng kỹ thuật sử dụng thuốc theo nguyên tắc “4 đúng”
- Một là “đúng thuốc”: nên chọn sử dụng loại
thuốc có hiệu quả cao với loại dịch hại cần trừ, ít độc hại
với người, môi trường và thiên địch. Tuyệt đối không sử
dụng những loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, thuốc
không có tên trong danh mục thuốc được phép sử dụng,
thuốc đã bị cấm sử dụng, thực hiện đúng các quy định đối
với thuốc hạn chế sử dụng.
- Hai là “đúng lúc”: nên sử dụng thuốc khi dịch
hại phát triển tới ngưỡng gây hại, khi sâu đang còn nhỏ
(tuổi 2, 3). Khi thiên địch đang tích lũy và phát triển, cần
thận trọng trong việc dùng thuốc. Không phun thuốc khi
trời đang nắng nóng, khi đang có gió lớn, sắp mưa, khi
cây đang nở hoa thụ phấn.
- Ba là “đúng liều lượng và nồng độ”: lượng thuốc cần dùng cho một đơn vị
diện tích và độ pha loãng của thuốc cần được thực hiện theo đúng chỉ dẫn trên nhãn
thuốc. Việc tăng, giảm liều lượng và nồng độ không đúng cách là một trong những
nguyên nhân gây hiện tượng “kháng thuốc” của dịch hại.
- Bốn là “đúng cách”: cần phun rải đều và chú ý những nơi sâu, bệnh tập
trung nhiều. Thuốc dùng để rải xuống đất không hòa nước để phun. Với thuốc trừ cỏ
địch duy trì trên đồng ruộng, làm tăng đa dạng sinh học, giúp khống chế sinh vật hại
trong một ngưỡng cho phép. Chương trình IPM được chứng minh là có hiệu quả trong
thực tế quản lý dịch bệnh.
5.4. Áp dụng phương pháp đấu tranh sinh học để quản lý sâu hại trên đồng
ruộng bằng cách sử dụng thiên địch (bọ xít hoa gai vai nhọn Eocanthecona
furcellata), ong ký sinh... từ đó giúp giảm lượng thuốc trừ sâu nông dân sử dụng,
giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
5.5. Công nghệ sinh thái cũng có thể áp dụng để khống chế sâu hại trên ruộng, làm
giảm sử dụng thuốc BVTV. Ven bờ ruộng trồng các loại hoa có phấn hoa (sao nhái,
đậu bắp, xuyến chi, ..) nhằm thu hút các loài thiên địch, góp phần làm tăng đa dạng
sinh học trên ruộng, giúp khống chế sâu hại.
5.6. Quy hoạch thu gom, tập kết bao bì, vỏ chai thuốc BVTV đã qua sử dụng: đây là
một trong những giải pháp có tác động lớn góp phần giảm tình trạng ô nhiễm môi
trường nông thôn hiện nay là hệ thống cống thu gom bao bì, vỏ chai thuốc. Địa
phương cần xây dựng, lắp đặt hệ thống cống thu gom bao bì, vỏ chai thuốc BVTV tại
những điểm trên hệ thống giao thông nội đồng tại những cánh đồng sản xuất lúa, rau
của các xã nông thôn. Mô hình hệ thống thu gom bao bì, vỏ chai thuốc BVTV hoạt
động đã nâng cao ý thức của người dân, góp phần thay đổi một cách sâu sắc nhận
thức của nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV, không còn vứt vỏ chai, bao bì
thuốc BVTV bừa bãi ngoài đồng ruộng gây ô nhiễm môi trường.
5.7. Kiểm tra, hướng dẫn việc sử dụng thuốc BVTV tại các vùng sản xuất nông
nghiệp trên địa nông thôn nhằm đảm bảo an toàn về dư lượng thuốc BVTV trên cây
trồng. Kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên cây trồng theo tiêu chuẩn cơ sở
TC21:2008; Thanh, kiểm tra việc chấp hành các điều 39, 40 và điều 41 của Thông tư
03/2013/TT-BNN-PTNT ngày 11/01/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về quản lý thuốc bảo vệ thực vật; Điều 21 của Điều lệ quản lý thuốc BVTV ban
hành theo Nghị định 58/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ. Bên
cạnh việc kiểm tra sử dụng thuốc ngoài đồng ruộng, Chi cục BVTV sẽ tiến hành lấy