1
THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIÊN NAY.
MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, lao động, vật tư, công nghệ, khoa học, và quản
lý là một trong năm nhân tố cơ bản chứa đựng những sức mạnh tiềm tàng to
lớn cần phải tìm mọi cách để phát huy đầy đủ trong quá trình thực hiện bất cứ
nhiệm vụ quan trọng nào của cách mạng. Các thành tựu nghiên cứu giáo dục
đã thừa nhận quản lý giáo dục (QLGD) là nhân tố then chốt bảo đảm sự thành
công của phát triển giáo dục. Vì thông qua QLGD mà việc thực hiện mục tiêu
đào tạo, các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu
tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục...mới được triển khai và thực
hiện có hiệu quả. Chính vì thế, để xây dựng một hệ thống giáo dục quốc dân
mới, đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) ở nước ta trong vòng 15 - 20 năm tới, Nghị quyết (NQ) của Bộ chính
trị (BCT) về cải tạo giáo dục đã nêu lên các biện pháp lớn cần phải tiến hành
là: Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên XHCN; tăng cường cơ sở vật
chất - kỹ thật của các trường học; cải tiến chương trình học, sách giáo khoa;
đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học giáo dục; kiện toàn tổ chức quản lý
và cải tiến công tác quản lý của ngành giáo dục, xây dựng và phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) XHCN. Báo cáo của Chính phủ về
tình hình giáo dục (10/2004) đặt ra nhiệm vụ “Cải tiến công tác quản lý,điều hành,
tập trung vào chức năng quản lý nhà nước, lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm
vụ trọng tâm”.
Những tầm nhìn mới, hiện đại về giáo dục và QLGD đang phát triển mạnh
mẽ và tạo nên những thay đổi đáng kể cho diện mạo giáo dục thế giới, tạo thời cơ
cho giáo dục nói chung và QLGD nói riêng ở nước ta tiếp thu thành tựu và kinh
3
vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. C.Mác coi quản lý là một đặc điểm
vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “bất cứ lao động xã
hội trực tiếp hay lao động xã hội chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn
đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. sự chỉ
đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự
khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân
của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sỹ độc tấu thì
tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”1.
* Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát tuy nhiên, từ
những ý nghĩa chung nhất và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể
định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Định nghĩa này chỉ rõ:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng
quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược
lại.
* Mục tiêu của quản lý: là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi
người có thể hoàn thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian,
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
* Đối tượng của quản lý: là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa
người và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý.
một nghề, một nghề quan trọng trong xã hội.
Nếu chúng ta xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi
hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục (QLGD)cùng là một thuộc tính tất yếu
của mọi hoạt động giáo dục có mục đích.
5
Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD, song thường người ta đưa ra
quan niệm QLGD theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô. Quản lý vĩ mô sẽ
tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản
lý vi mô sẽ tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường.
Ở cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà
trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Ở cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, chúng ta có thể
thấy QLGD gồm 4 yếu tố, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể
quản lý và mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này có mối quan hệ tương tác gắn bó
chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân
tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động lên đối tượng quản lý,
nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt
động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức. Khách thể
quản lý nằm ngoài hệ thống hệ QLGD. Nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc
phù hợp với thực tiễn. Nói cách khác, hoạt động quản lý là một khoa học, cần
được đối xử một cách khoa học, nhà quản lý không thể mang tác phong tuỳ tiện,
đơn giản, chủ quan. QLGD đồng thời còn là một nghệ thuật, vì QLGD là quản lý
quá trình đào tạo, hình thành và hoàn thiện nhân cách, nó đòi hỏi nhà quản lý
muốn đạt được chất lượng và hiệu quả quản lý cao luôn luôn phải trau dồi tài
7
nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ và phong cách công tác chuẩn mực cùng với
phong cách ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với con người.
* Đối tượng của Khoa học quản lý giáo dục và Quản lý giáo dục
Cần phân biệt sự khác nhau giữa đối tượng của Khoa học quản lý giáo dục
(KHQLGD) và đối tượng của QLGD với tư cách là một hoạt động của chủ thể
quản lý (mặc dù có điểm trùng khớp nhau). Trong giáo dục, đối tượng quản lý
bao gồm: Hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống QLGD, các quan hệ quản lý,
các chủ thể quản lý cấp dưới, tập thể và cá nhân giáo viên và học sinh,...
Nhưng đối tượng của KHQLGD thì lại khác. Đó là các quan hệ quản lý
giáo dục. Tại sao nói quan hệ QLGD là đối tượng của KHQLGD.
Giáo dục là một hệ thống hoạt động phức tạp với những hành vi có mục
đích. Sự phát triển của hệ thống giáo dục là kết quả của sự tác động qua lại giữa
những con người (người giáo dục và người được giáo dục, người quản lý và
người bị quản lý) được kết hợp thành những nhóm, những tổ chức riêng biệt.
Song những cá nhân và những nhóm xã hội riêng lẻ không có vai trò như nhau
và đồng đều trong hệ thống giáo dục. Đó là lý do xuất hiện cơ chế điều khiển và
các cơ quan đặc thù để tổ chức, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra các hoạt động
giáo dục. Những mối quan hệ giữa các cơ quan đó là tất yếu khách quan và
thuộc phạm vi những quan hệ quản lý.
* Phương pháp luận nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục. Với tư cách là
một ngành khoa học, KHQLGD có phương pháp luận nghiên cứu của nó đó là Chủ
Quản lý giáo dục là một quá trình vì quản lý là một hoạt động mang tính
hướng đích, là sự vận động, sự nối tiếp các trạng thái, có độ dài về thời gian, chịu
tác động của nhân tố bên trong và bên ngoài, tuân theo những quy luật khách
quan, biểu hiện thông qua hoạt động của con người. Quá trình QLGD là hoạt
động của các chủ thể và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu
9
nhất định nhằm đạt mục đích đề ra của quản lý bằng cách thực hiện các chức năng
nhất định và vận dụng các biện pháp, nguyên tắc, công cụ quản lý thích hợp.
Quá trình quản lý được bắt đầu từ việc phân tích thông tin về trạng thái
của hệ thống bị quản lý. Thông tin này có thể biểu hiện dưới hình thức là
những chỉ tiêu chất lượng và số lượng đặc trưng cho trạng thái của hệ thống bị
quản lý tại thời điểm trước khi ra quyết định. Thông tin phải được nêu lên dự
trên cơ sở những mục tiêu cụ thể đặt ra cho hệ thống bị quản lý. Giai đoạn tiếp
theo là chủ thể quản lý xây dựng quyết định quản lý dựa trên những thông tin
thu nhận được. Quyết định quản lý là phương tiện chủ yếu để chủ thể quản lý
tác động vào hệ thống bị quản lý, hướng các tổ chức vào việc phấn đấu đạt mục
tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Quyết định quản lý phải bảo đảm
tính tối ưu. Những yếu tố cấu thành quyết định quản lý là: Vạch ra kế hoạch
chiến lược; xác định mục tiêu, chỉ tiêu và kết quả của quyết định; giải pháp và
biện pháp cụ thể; thu thập thông tin cần thiết về diễn tiến của đội tượng quản
lý;...
Giai đoạn thứ ba là dựa trên cơ sở quyết định đã chọn, chủ thể quản lý
dùng những biện pháp tác động đến đối tượng bị quản lý, làm cho nó chuyển từ
trạng thái này sang trạng thái khác bảo đảm việc thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Giai đoạn cuối cùng, Chủ thể quản lý thu thập thông tin về trạng thái của
đối tượng bị quản lý sau tác động. Từ đó có quyết định điều chỉnh hoặc
chuyển sang quá trình kế tiếp. Các giai đoạn của quá trình QLGD là một chu
quyền các cấp và quyết tâm của ngành giáo dục trong những năm qua công tác đổi
mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GD - ĐT, công tác QLGD đã thu được
những thành tựu đáng khích lệ như:
- Về pháp lý, để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà
nước, ngày 17/9/2001 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ra quyết định
phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 – 2010
11
với mục tiêu chung sau : “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,
vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo
nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu
của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”. Đồng thời đề ra các mục tiêu
cụ thể như: hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách, phù
hợp với thời kỳ CNH,HĐH đất nước, cơ cấu gọn nhẹ, thủ tục hành chính
công khai, đơn giản, nền hành chính hiện đại hoá từng bước rõ rệt...Chính phủ
cũng đề ra 5 giải pháp; chương trình hành động gồm 7 nội dung. Chính phủ
nhấn mạnh trong lĩnh vực giáo dục, các mục tiêu, yêu cầu, nội dung cải cách
hành chính có mối quan hệ gắn bó với nhiệm vụ, nội dung đổi mới quản lý
nhà nước về giáo dục, đặc biệt là trong các lĩnh vực hoàn thiện thể chế, chính
sách, tổ chức bộ máy giáo dục các cấp, các quy trình, thủ tục hành chính trong
giáo dục, kết quả của cải cách hành chính là một trong những yếu tố quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đổi mới quản lý giáo dục từ QLGD ở
tầm vĩ mô đến QLGD ở cấp vi mô. Bổ sung, hoàn thiện Luật giáo dục; khẩn
trương triển khai thực hiện nghị định 166/2004/NĐ - CP ngày 16/9/2004 về
quy định trách nhiệm QLNN về giáo dục, từ trung ương đến địa phương và cơ
sở, nâng cao chất lượng công tác pháp chế và thanh tra trong ngành giáo dục
và đào tạo, tập trung chỉ đạo xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế
tự kỷ cương, đẩy lùi tiêu cực, chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan;
Các cơ quan thanh tra giáo dục đã có một số biện pháp tích cực trong việc đấu
tranh nhằm chấn chỉnh tệ nạn sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp và
cấp phát văn bằng, chứng chỉ sai quy định (9/1999 đã phát hiện 5.742 trường
hợp sử dụng văn bằng không hợp pháp; xử lý buộc thôi việc 275 cán bộ, công
chức). Thực hiện tương đối có hiệu quả cuộc vận động “hai không” trong giáo
dục.
13
Tuy nhiên, công tác GD - ĐT, QLGD ở nước ta trong những năm qua vẫn
còn một số hạn chế, bất cập nhất là trong công tác QLGD.
Đánh giá về vấn đề này các NQ của Đảng, Nhà nước cũng nhắc tới
những yếu kém của giáo dục nói chung, nhất là QLGD. Có thể tóm tắt:
QLGD kém hiệu quả, một số hiện tượng tiêu cực chưa được ngăn chặn kịp
thời, chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan quản lý chưa rõ, còn hiện
tượng chồng chéo, trình độ quản lý chưa theo kịp với thực tiễn với sự nghiệp
đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, chậm đổi mới cả tư duy và phương
thức quản lý, chậm đề ra các định hướng chiến lược và các chính sách vĩ mô
đúng đắn để xử lý quan hệ giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục, tổ
chức giáo dục còn “khép kín” không tạo sự liên thông giữa các cấp, các ngành
học, chưa quan tâm đến những vấn đề lý luận phát triển giáo dục trong giai
đoạn mới, năng lực cán bộ quản lý còn thấp...Những yếu kém bất cập này
biểu hiện cụ thể trên các mặt như:
- Về quản lý vĩ mô, tính kế hoạch chiến lược chưa hoàn thiện, chưa đồng
bộ còn mang tính chất “ăn đong”, “thời vụ”, dẫn đến mỗi nơi làm một kiểu,
chưa đề ra qui chế về quản lý phù hợp với điều kiện nước ta, mà tiếp thu các
kinh nghiệm, mô hình quản lý khi thì của phương Đông, lúc lại của phương
Tây một cách máy móc; có những chính sách về giáo dục chưa được xã hội
- Việc tăng quy mô đào tạo trong những năm gần đây chủ yếu là diễn ra
ở bậc đại học; tỷ lệ học sinh, sinh viên cao đẳng kỹ thuật,công nghệ, trung
học chuyên nghiệp và học nghề còn thấp và tăng chậm. Công tác dự báo, quy
hoạch định hướng ngành nghề đào tạo chưa tốt. Học sinh, sinh viên chưa
được nhà trường hướng dẫn đầy đủ về nghề nghiệp và tạo khả năng tự lập
nghiệp.
- Đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD (CBQLGD) thiếu về số lượng và nhìn
chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được với yêu cầu vừa phải tăng nhanh
quy mô vừa phải bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, QLGD.
15
Đặc biệt đội ngũ CBQLGD còn nhiều người chưa được đào tạo bài bản về
chuyên ngành. Nhà nước chưa có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp
cán bộ hợp lý, quy chế chưa rõ ràng nên nên còn lẫn lộn giữa cán bộ quản lý với
cán bộ chuyên môn, chưa phân biệt được cấp nào cần cán bộ chuyên môn, cấp
nào cần cán bộ quản lý để sắp xếp cho phù hợp tránh chéo giò không phát huy
hết khả năng trí tuệ của cán bộ dẫn đến kém hiệu quả trong công tác quản lý. Đội
ngũ CBQLGD và giảng viên các trường đại học ít có điều kiện thường xuyên
tiếp cận, cập nhật tri thức và những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế
giới.
- Có đầu tư các cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho các nhà trường
nhưng chưa đồng bộ và hiện đại, chưa mạnh dạn áp dụng những thành tựu
công nghệ thông tin trong tổ chức quản lý điều hành GD - ĐT và nhất là chưa
xây dựng được một hệ thống lý luận quản lý về GD - ĐT.
- Công tác QLGD còn kém hiệu quả. Một số hiện tượng tiêu cực, thiếu
kỷ cương trong giáo dục chưa được ngăn chặn kịp thời. Các hiện tượng
“thương mại hoá giáo dục” như mua bằng, bán điểm, tuyển sinh vượt chỉ tiêu,
thu chi sai nguyên tắc làm ảnh hưởng tới uy tín của nhà trường, của nhà giáo.
Đãi, phó trưởng ban đào tạo (ĐHQG Hà Nội), nhận xét.
Ông Đãi dẫn chứng cụ thể: các trường ĐH trong cả nước đang ở tình
trạng bị động trong công tác tuyển sinh, ở hầu hết các khâu: ngày tổ chức kỳ
thi, việc phát hành hồ sơ đăng ký dự thi, nhận hồ sơ, hình thức ra đề, xây
dựng điểm chuẩn, xét tuyển... đều do bộ qui định, điều hành.
Các trường không được tự thiết kế và ấn hành văn bằng và nhiều loại giấy
tờ, hồ sơ khác cho SV. Trong khi đó các nước phát triển và nhiều nước đang
phát triển đều coi đây là những việc riêng của các trường ĐH vì mỗi trường có
cách tuyển chọn thí sinh, điều kiện tuyển chọn và mẫu đơn tuyển sinh riêng.
Vì các trường ĐH ở các nước được chủ động tuyển sinh theo cách của
mình nên việc tuyển sinh nhẹ nhàng mà chính xác, không làm cả xã hội căng
17
thẳng như kỳ thi tuyển sinh ĐH của ta. Ôm đồm như vậy nhưng Bộ GD-ĐT
quản lý như thế nào?
“Bộ GD-ĐT đang là một cơ quan độc chiến, thiên về giải quyết những
tình huống cụ thể nảy sinh... GDĐH thì chỉ tập trung lo thi tuyển đầu vào từng
năm một...” - đó là nhận xét của TS Nguyễn Mậu Dững (phân viện Đà Nẵng
thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
GS.TSKH Vũ Ngọc Hải - người đã từng nhiều năm làm công tác quản lý
GDĐH - cũng phải thừa nhận: một trong những giải pháp chủ yếu để cải cách
GDĐH hiện nay là phải cải cách thể chế quản lý theo hướng xác định tư cách
tự chủ của trường ĐH trong việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tài chính,
nhân sự..., xác định cơ chế điều tiết thị trường của GDĐH để trường ĐH liên
hệ trực tiếp với xã hội và thị trường lao động và chịu sự giám sát của xã hội
về giá trị văn bằng, chất lượng đào tạo.
Về vấn đề Trường ĐH “khép kín” với các “thợ dạy”.
Mời các giảng viên nước ngoài giảng dạy cũng là một trong những
này có đưa ra được lời giải đáp trọn vẹn?
Trên đây chỉ là một số vấn đề hạn chế, bất cập trong GD - ĐT và nhất là
trong công tác QLGD mà tác giả đã tổng hợp được từ các văn kiện của Đảng,
nhà nước và một số tài liệu của một số các nhà khoa học, nhà chuyên môn,
cán bộ QLGD...và trong thực tiễn của mình cùng với ý kiến của các nhà khoa
học, CBQLGD tại cuộc hội thảo gần đây nhất, chủ đề “Đổi mới giáo dục đại
học Việt Nam: Cơ hội và thách thức” (ĐHVN), do Bộ GD-ĐT tổ chức tại Hà
Nội ngày 30/32009.
Những hạn chế bất cập này ảnh hưởng không nhỏ đến GD - ĐT, QLGD
của nước ta cho nên trong những năm qua chất lượng, hiệu quả nâng cao dân
trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cồn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu của
đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
* Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập.
19
- Trước hết là do yếu tố chủ quan, quan điểm “giáo dục là quốc sách
hàng đầu” của Đảng và nhà nước chưa được nhận thức đầy đủ và thực sự chỉ
đạo hành động trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản ,lý các cấp. Giáo dục
vẫn được xem là công việc riêng của ngành giáo dục, chưa tạo ra được sự liên
kết, phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội và ngành
giáo dục để phát triển sự nghiệp giáo dục; việc kết hợp giáo dục nhà trường
với giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội chưa được quan tâm đúng
mức. Trình độ năng lực cụ thể hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng, nhà
nước về GD - ĐT còn hạn chế; trình độ QLGD chưa theo kịp thực tiễn và nhu
cầu phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước; chưa phối hợp tốt và sử dụng
có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và của xã hội; chậm đổi mới về cả tư
duy và phương thức quản lý; chậm đề ra các định hướng chiến lược và chính
sách vĩ mô đúng đắn để xử lý mối tương quan giữa quy mô, chất lượng và
QLGD ở nước ta hiện nay tác giả đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm đổi
mới, nâng cao hiệu quả công tác QLGD như sau.
3. Những biện pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở
nước ta hiện nay.
3.1. Quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo
dục; tiếp tục đổi mới tư duy giáo dục.
Cần quán triệt sâu, rộng các quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục
như Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992); Luật giáo
dục (2005), Nghị quyết (NQ) của Đảng (NQ 4 TƯ khoá VII, NQ 2 TƯ khoá
VIII, NQ đại hội X,...); của Quốc hội (NQ 40 của Quốc hội tại kỳ họp thứ tám
khoá X), của Chính phủ (Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, ban
hành ngày 28/12/2001) cho toàn dân nhất là cho đội ngũ cán bộ chủ chốt từ
trung ương đến cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực GD
- ĐT. Mọi người phải nhận thức sâu sắc quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục
ở nước ta là: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục là nền tảng,
21
nguồn nhân lực chất lượng cao một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp CNH,HĐH, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững; Phải xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc,
khoa học, hiện đại theo định hướng XHCN; Phát triển giáo dục phải gắn với
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, củng cố
quốc phòng, an ninh và giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và
của toàn dân. Từ quán triệt quan điểm giáo dục của Đảng, nhà nước đến nhận
thức được thực tiễn nền giáo dục nước ta hiện nay đối với giáo dục và QLGD
trong hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hoá, trong bối cảnh đó giáo dục phải
được đổi mới mạnh mẽ, trước hết là đổi mới tư duy một cách triệt để, toàn
diện. Cần nhận thức sâu sắc hơn mục tiêu giáo dục trong thời kỳ mới là phát
một bước rõ rệt.
Đổi mới, cải cách hành chính nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLGD. Trong lĩnh vực
này cần tiếp tục hoàn thiện và triển khai trong thực tế hệ thống pháp luật và
các văn bản pháp quy về giáo dục nói chung và quản lý nhà nước (QLNN) về
giáo dục (GD) nói riêng. Một trong những giải pháp quan trọng và cấp bách
hiện nay để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN về GD là thực hiện
việc phân cấp và phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và các điều kiện thực
thi quyền hạn ở các cấp QLGD từ trung ương đến địa phương; Phân cấp
QLNN về GD phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách
nhiệm, nguồn lực tài chính, nhân sự, đào tạo, tuyển sinh và các điều kiện cần
thiết để thực hiện các công việc được phân cấp, để các cơ sở GD chịu trách
nhiệm chính và trực tiếp với sản phẩm đào tạo của mình. Nâng cao trách
nhiệm của các cơ quan QLGD các cấp trong công tác quản lý, giám sát triển
khai và tổ chức thực hiện Điều lệ nhà trường các cấp đã được Chính phủ và
Bộ GD & ĐT ban hành.
23
3.3.Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực quản lý và phẩm
chất của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
Hiện nay, đội ngũ QLGD ở nước ta vừa thiếu lại vừa hạn chế về trình độ,
năng lực và chưa đồng bộ, do hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như giáo
viên, giảng viên, cán bộ từ các nguồn khác chuyển sang...phần đông lại chưa
được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ về kiến thức về quản lý nói chung, kiến thức
QLGD nói riêng. Vì vậy, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ,
năng lực quản lý và phẩm chất đội ngũ CBQLGD là hết sức quan trọng góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác QLGD.
Trước hết phải xây dựng và triển khai thực hiện tốt Đề án kiện toàn và
kiến thức hoàn chỉnh để thực hiện tốt vị trí xã hội nghề nghiệp mà mình đảm
nhiệm; Quản lý chất lượng giáo dục là phải quản lý toàn diện các hoạt động
giáo dục, trong đó trọng tâm là quản lý quá trình dạy và học, gắn quá trình
dạy học của nhà trường và cơ sở giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế - xã
hội, làm cho người học có thể thích ứng được với thị trường sức lao động
luôn biến đổi và có tính năng động cao. Đổi mới quản lý chất lượng giáo dục
phải tăng cường kiểm định, kiểm tra và thanh tra chất lượng thông qua xây
dựng các bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục cho từng cấp học, bậc học,
cho từng ngành nghề và tạo điều kiện để từng trường học, từng cơ sở giáo dục
xây dựng thương hiệu của chính mình thông qua sự khẳng định chất lượng
giáo dục đối với xã hội, được xã hội và thị trường chấp nhận.
3.5. Tích cực đẩy mạnh đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra.
Để đẩy mạnh đổi mới công tác quản lý, tăng cường trật tự, kỷ cương,
xây dựng củng cố nền nếp dạy và học trong các cơ sở giáo dục cần phải tăng
cường, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra toàn diện trong toàn ngành giáo
dục. Đây là một trong những khâu quan trọng, không thể thiếu của quy trình
quản lý, không kiểm tra, thanh tra là không quản lý. Trước hết phải kiện toàn
bộ máy thanh tra giáo dục các cấp. Lựa chọn từ những người có kinh nghiệm,
25
đã kinh qua công tác quản lý, có phẩm chất tốt, có năng lực xem xét kết luận,
kiến nghị biện pháp giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn quản lý
biên chế đủ cho các cơ quan (Sở, Phòng) theo biên chế. Bên cạnh đội ngũ
thanh tra chuyên trách các Sở lựa chọn bổ nhiệm cộng tác viên thường xuyên
(thanh tra viên kiêm nhiệm) để đủ lược lượng tiến hành các hoạt động đánh
giá giáo viên và phân loại trường học và các cơ sở giáo dục khác theo trách
nhiệm quản lý được quy định tại Luật Giáo dục.
Kiện toàn hoặc thành lập mới bộ phận thanh tra trong các cơ sở giáo dục