công tác xã hội với người cao tuổi - Pdf 40

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
đang có xu hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia.
Ở Việt Nam, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi không chỉ mang ý nghĩa nhân
đạo sâu sắc thể hiện truyền thống “ uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.
Người cao tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống hiến lớn lao trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta vì vậy cần phải có những chính sách phù
hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Người cao tuổi cần được tôn
trọng, chăm sóc để tạo mọi điều kiện cho họ có điều kiện để họ tiếp tục phát huy
những kinh nghiệm sống mà họ tích lũy được góp phần xây dựng xã hội mới.
Một trong những khó khăn mà người cao tuổi đang gặp phải đó là giảm sút sức
khỏe vì vậy trong chuyên đề này em xin lựa chọn đề tài “ Mô hình dịch vụ và
một số giải pháp chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại Ninh Bình”


I.

Cơ sở lý luận công tác xã hội với người cao tuổi

1. Khái quát chung về người cao tuổi
1.1.

Vấn đề già hóa dân số

Theo các chuyên gia dân số và kinh tế, già hóa dân số là một trong những xu
hướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ 21, có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của
đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia. Dân số già, điều đó có nghĩa là
tuổi thọ dân cư tăng lên và đó là hệ quả tích cực của phát triển kinh tế, chăm sóc
y tế và phúc lợi xã hội. Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người
và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050 dân
số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ

năm… Tương tự như vậy, để tỷ lệ người già tăng từ 14%- 20% Hàn Quốc chỉ
mất có 8 năm, Nhật Bản là 12 năm, thì ở Thụy Điển mất 39 năm và Hoa Kỳ mất
21 năm.
Bên cạnh việc được coi là thành tựu của quá trình phát triển, già hóa dân số
cũng tạo ra thách thức về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa ở các cấp độ cá nhân,
gia đình, cộng đồng và xã hội trên toàn thế giới. Thách thức lớn nhất là thay đổi
cơ cấu lao động, tỷ lệ người ở độ tuổi cao (từ 45-60 tuổi) sẽ tăng lên và tỷ lệ gia
nhập thị trường lao động sẽ có xu hướng giảm đi và như vậy, để đáp ứng nhu
cầu nhân lực cho nền kinh tế, các nước phải sử dụng lao động già hơn (đồng
nghĩa với việc tăng tuổi nghỉ hưu để có thêm nhân lực cho nền kinh tế). Về mặt
kinh tế, già hóa dân số và dân số già có ảnh hưởng kép đến nền kinh tế. Một
mặt, năng suất lao động của nhóm tuổi cao sẽ kém hơn so với các nhóm tuổi trẻ
khác trong lực lượng lao động, dẫn đến thu nhập của nền kinh tế nói chung và
của từng gia đình nói riêng bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến hệ lụy là những
người trẻ tuổi phải làm việc nhiều hơn để bù đắp thiếu hụt thu nhập của gia
đình. Mặt khác, chi phí chăm sóc y tế và các phúc lợi khác cho người cao tuổi
tăng lên, ảnh hưởng đến đầu tư cho phát triển. Về mặt xã hội, trong một xã hội
dân số già, các vấn đề xã hội sẽ phát sinh như quan hệ giữa các thế hệ, sự chăm
sóc cho người già của từng gia đình và xã hội… sẽ là những vấn đề các quốc gia
phải quan tâm. Như cảnh báo của Tổng thư ký Liên hợp quốc “Ảnh hưởng về
kinh tế và xã hội của hiện tượng già hóa dân số có ý nghĩa vô cùng sâu rộng,
không chỉ tác động tới cá nhân người cao tuổi và gia đình họ mà còn tác động
lan tỏa tới toàn xã hội và cộng đồng toàn cầu theo những cách thức chưa từng
được biết đến” (UNFPA, 2012).
1.2.

Đặc điểm của người cao tuổi

1.2.1. Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta

những thay đổi theo chiều hướng đi xuống
+ Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da đồi mồi, có thêm nhiều nếp nhăn. Da trở
nên khô và thô hơn. Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn. Ở
tuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở duối da mất đi cũng như do da không
còn tính chất đàn hồi. Các mạch máu mỏng vỡ ra tạo thanhg các chất xanh đen
nhỏ dưới da


+ Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô,
dai dù thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng. Người cao tuổi thường
chọn các thức ăn mềm
+ Các cơ quan cảm giác: Cảm giác- nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng
với tuổi tác ngày càng cao thường hoạt động kém hiệu quả
+ Các cơ quan nội tạng
Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hóa cao cùng với tuổi tác cũng
phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể. Tim phụ thuôc
vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể nguyên nhân phát sinh
nhiều vấn đề liên quan đến lão hóa
Phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng oxi
giảm. Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cũng giảm sút.
Người già thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn. Họ cũng phải chịu đựng
những khó khăn tương tự khi trong trường hợp cần thiết phải tiếp cận với nhiệt
độ cao.
+ Khả năng tình dục giảm: Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình
dục ở người cao tuổi cũng giảm rõ rệt. Ở người già xương và khớp không còn
linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp,
vụng về. Người già hay bị mệt mỏi, mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó
khăn.
- Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi
Người cao tuổi thường mắc các bệnh về:

Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn: Con cháu thường
bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng
quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được
người khác coi mình không là người vô dụng.Họ rất muốn được nhiều người
quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở một mình.
Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe
vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình,
hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng. Nhưng cũng có một
số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn
phụ thuộc vào con cháu. Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chán nản, buồn phiền,
hay tự dằn vặt mình. Người cao tuổi thì tuổi càng cao sức khỏe lại càng giảm
sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với
thế hệ sau, nên chỉ một thái độ,một cau nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái,
tủi thân, cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường


Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con
cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt
lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu. Với một bộ phận
người cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút
của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước
mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng... có thể xuất
hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm. Họ trở thành những người trái tính, hay
ghen tỵ, can thiệp sâu vào việc riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có
quyền đó
Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy
người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các
cụ bàn về hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu... có những cụ không chấp
nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết
Với những thay đổi chung về tâm lý của người cao tuổi đã trình bày ở trên

- Nâng cao nhận thức của xã hội và lãnh đạo của một số cơ quan liên
quan về Công tác xã hội và sự cần thiết phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam...
Mặc dù vậy, không ít khó khăn đặt ra trong quá trình phát triển này:
- Những điều kiện cho phát triển Công tác xã hội chuyên nghiệp còn
thiếu: Khuân khổ pháp lý; lực lượng chuyên môn nòng cốt; nguồn nhân lực;
nhận thức về sự cần thiết và tính ưu việt của nghề; hệ thống dịch vụ thiết yếu và
cơ sở thực tập, hành nghề.
- Quan niệm truyền thống về trợ giúp, cách nhìn nhận vấn đề của cá nhân,
cộng đồng.
- Hạn chế về sự quan tâm của các cấp lãnh đạo do chưa được tiếp cận và
có thời gian để tìm hiểu về lĩnh vực này.
Vì vậy, mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, quá trình phát triển
Công tác xã hội ở Việt Nam sẽ cần thời gian và những bước đi phù hợp.
Công tác xã hội với người cao tuổi
Mặc dù là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vi toàn
thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên 60. Sau
năm 2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có người cao tuổi
chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050
chiếm gần 30% dân số cả nước.
Dân số Việt Nam theo độ tuổi
2008
2025
2050
0-14 tuổi
24.7
22.3
19.8
15-59 tuổi
65.6
60.9

xã hội, về kinh nghiệm sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát
triển. Tuy nhiên, người cao tuổi cũng có nhiều vấn đề cần được quan tâm như:
vấn đề sức khỏe, đời sống vật chất, tham gia giao thông, nuôi cháu thay cha mẹ


trẻ do các nguyên nhân khác nhau...Vì vậy, để trợ giúp người cao tuổi cần có
cán bộ xã hội được đào tạo một cách chuyên nghiệp qua trường, lớp.
Hướng phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi ở Việt Nam
Để Nghề Công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam được phát
triển và phổ biến rộng rãi về lâu dài cần nằm trong tiến trình chung phát triển
công tác xã hội và được coi như một nghề ở Việt Nam, theo các bước đi của đề
án đã được Chính phủ phê duyệt
Bước đi đầu tiên có thể là các hoạt động nâng cao năng lực cho những
người đang làm việc với người cao tuổi, cung cấp cho họ một số kiến thức, kỹ
năng cơ bản trong làm việc với người cao tuổi
Bên cạnh đó, có thể xem xét, kết hợp đào tạo cán bộ xã hội trong lĩnh vực
y tế với công tác xã hội với người cao tuổi. Chú trọng công tác quản lý ca và
tham vấn trong làm việc với người cao tuổi. Đa dạng hóa các loại dịch vụ trợ
giúp người cao tuổi. Đồng thời thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu về
công tác xã hội với người cao tuổi.
Trong điều kiện già hóa dân số, nhiều vấn đề đặt ra đối với người cao tuổi
trong điều kiện kinh tế- xã hội đặc thù ở Việt Nam, cần sớm nhận thức về sự cần
thiết phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi và tạo các điều kiện cần thiết
cho sự phát triển này
II.
Cơ sở thực tiễn
1. Những chủ trương của Đảng
Sau khi Hội Người cao tuổi Việt Nam được thành lập. Ban bí thư TW đã ban
hàng Chỉ thị 59/CT-TW “ Về chăm sóc người cao tuổi” quy định “Việc chăm
sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng.

cấp kinh phí kịp thời cho Hội”
Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT (01/10/2002)
do TW Hội Người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nông
Đức Mạnh đã nói: “ Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước ta lại đông đảo
như hiện nay. Đảng Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp người cao tuổi nước
ta. . Với uy tín cao, sự mẫu mực về phảm chất chính trị, đạo đức và lối sống
cùng vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động nghiệp vụ phong phú, đa dạng
của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh
quý giá của cả dân tộc. Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực
ấy”...
Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “ Vvaangj động toàn dân
tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão
thành cách mạng những người có công với nước, người hưởng chính sách xã
hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người
già cô đơn, không nơi nương tựa…”.
Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số
12-TB/TW của Ban Bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền
tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã
hội. Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất
tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.


2. Luật pháp chính sách của Nhà nước
2.1.

Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm

khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và
Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của


người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng,
toàn dân. Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm
đó.
Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của
Đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội Người cao tuổi, Thủ tướng đã chỉ thị:
- Về chăm sóc người cao tuổi
Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyền
thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi. Công tác này
cần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài
hạn của địa phương. Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc
sống mới ở khu dân cư: Chỉ đạo các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục và đào
tạo đẩy mạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý
thức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi.
Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các
kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi
dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi. Hàng năm cần dành một tỷ lệ
thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát
huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi.
- Đối với Hội Người cao tuổi
Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và
pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí và
điều kiện hoạt động.
- Đối với các Bộ, ngành
+ Nghị định số 120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định
số 30/CP năm 2002.
+ Nghị định số 121/CP của Chính phủ năm 2003 “Về chế độ, chính sách đối

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 “Về việc thành
lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”.
- Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Về việc ban
hành quy chế quản lí và sử dụng Quỹ chăm sóc người cao tuổi”.
- Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp các
đối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở
lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng
120.000 đồng/tháng.
Bằng thực tiễn hoạt động của người cao tuổi và Hội Người cao tuổi, Hội
Người cao tuổi Việt Nam đã có những đóng góp cụ thể vào các nội dung trong
các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước nêu trên. Các tổ chức Hội vừa
triển khai, vừa đúc rút kinh nghiệm, vừa tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, chính
quyền, từng bước bổ sung những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách
đối với người cao tuổi. Ban Chấp hành TW Hội Người cao tuổi Việt Nam cùng
với tổ chức Hội các cấp đã trực tiếp tham gia bằng nhiều hình thức. Góp ý kiến


bằng văn bản vào các báo cáo chính trị tại Đại hội IX, Đại hội X, tham mưu
giúp Nhà nước những vấn đề cụ thể về người cao tuổi như: Thành lập Uỷ ban
Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, xây dựng chương trình hành động Quốc
gia về người cao tuổi giai đoạn 2006 – 2010; Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp
lệnh Người cao tuổi, chế độ trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không
có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, chế độ khám chữa bệnh cho người
cao tuổi, chế độ cho cán bộ Hội các cấp theo công văn 372 của Bộ Nội vụ đầu
năm 2008…
Từ ngày 1/7/2010, Luật Người cao tuổi có hiệu lực, Luật Người cao tuổi thể
hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của
xã hội ta. Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ
theo quy định, người cao tuổi sẽ được chăm sóc sức khỏe thông qua việc định kì
khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên.

56% không có phương tiện dùng cho sinh hoạt, văn hóa tinh thần
Về tình trạng hoạt động thu nhập, kinh tế: Phần lớn người cao tuổi nước ta
vẫn tham gia vào các hoạt động nhằm tìm kiếm nguồn thu nhập. Tổng thu nhập
từ các nguồn trong năm bình quân của người cao tuổi nhìn chung còn thấp chỉ
khoảng 200.000 đồng/ người/ tháng. Trong đó thu nhập của người cao tuổi ở
thành thị bằng 1,9 lần thu nhập của người cao tuổi ở nông thôn. Với mức thu
nhập trên người cao tuổi chỉ đủ để đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu của bản
thân, không có điều kiện tham gia vào các hoạt động văn hóa tinh thần
Về tình trạng sức khỏe: Người cao tuổi là những người thường bị các bệnh
phổ biến như huyết áp, các bệnh về thần kinh, hô hấp và các bệnh về tim mạch.
Có tới 42,75% người cao tuổi bị bệnh nghề nghiệp hoặc bệnh mãn tính. Trong
đó khu vực thành thị là 56,06%, khu vực nông thôn là 35.31%. Điều này đòi hỏi
phải có công tác chăm sóc sức khỏe thường xuyên cho người cao tuổi nói chung
và người cao tuổi ở thành thị nói riêng. Cần phải có chế độ chăm sóc, điều trị
kịp thời bệnh tật cho người cao tuổi nhất là các bệnh nghề nghiệp và mãn tính
Về sinh hoạt văn hóa của người cao tuổi: Trong số người cao tuổi có tỷ lệ
khá lớn người cao tuổi , đặc biệt là người cao tuổi ở nông thôn không thường
xuyên đọc báo, nghe đài hoặc xem ti vi ( trên 50%). Trong đó nguyên nhân chủ
yếu là do nghèo ( trên 65%) do không có điện ( trên 24%) do không mua được
báo ( trên 11%). Người cao tuổi không thường xuyên tham gia các hoạt động
văn hóa do địa phương, đoàn thể hoặc các tổ chức xã hội, tổ chức chiêm tỷ lệ
khá cao trong tổng số người cao tuổi ở cả thành thị và nông thôn. Do vậy để tạo
điều kiện cho nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người cao tuổi,
ngoài các chính sách, giải pháp hỗ trợ về kinh tế các cấp, các ngành, các tổ chức
cần quan tâm hỗ trợ nhiều hơn đến các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng
đối với người cao tuổi, đặc biệt là những người cao tuổi ở những vùng nông
thôn nghèo
Về đời sống tâm lý của người cao tuổi: Có 8,91% người cao tuổi đang sống
cùng với gia đình cảm thấy không được thoải mái về mặt tinh thần trong đó ở
nông thôn là 9,49% và ở thành thị là 4,11%. Tỷ lệ người cao tuổi không nhận

Tính đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 112.841 người cao tuổi
trong 900.000 dân. Trong đó, nhóm NCT sống ở thành thị đang có xu hướng
sống độc thân do con cháu lo tập trung vào các hoạt động kinh tế, hojctaapj. Vì
thế, người cao tuổi và gia đình trong nhóm này đều có nhu cầu chăm sóc, nuôi
dưỡng ở tại các cơ sở dịch vụ công tác xã hội.Dodos mà thành lập Trung tâm
công tác xã hội chăm sóc người cao tuổi theo mô hình xã hội hóa là cần thiết và
phù hợp với cơ sở chính sách hiện có
Chi cục DS- KHHGĐ tỉnh đã phối hợp với ban đại diện Hội Người cao tuổi
tỉnh tập huấn thể dục dưỡng sinh: kỹ năng tư vấn và phương pháp chăm sóc
người cao tuổi tại cộng đồng cho tình nguyện viên của cacsc câu lạc bộ người
cao tuổi. Mỗi CLB được trang bị một số thiết bị y tế như máy massage cầm tay,
đèn hồng ngoại, trang thiết bị thể dục, thể thao để phục vụ việc chăm sóc sức
khỏe tại chỗ cho các cụ


Để kịp thời đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ NCT, Ninh bình chú trọng vấn
đề đưa nhân viên CTXH địa phương đến gia đình NCT để trực tiếp thực hiện
các dịch vụ như xác định vấn đề, giúp xây dựng kế hoạch thiết lập mối quan hệ
giữa những người cao tuổi với các thành viên gia đình, giúp họ gắn bó và tự
giác tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, tham vấn, điều chỉnh các mối quan
hệ giữa người già và các thành viên trong gia đình, giúp họ sống hòa thuận, biết
yêu thương và kính trọng lẫn nhau
2. Những giải pháp chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở nước ta không chỉ bó hẹp trong
phạm vi y tế, mà còn bao trùm cả các vấn dề xã hội khác. Vấn đề chăm sóc sức
khỏe của người cao tuổi được thực hiện bao gồm cả các vấn đề về kinh tế xã
hội, từ phòng bệnh đến chữa bệnh
a. Nhóm giải pháp bảo vệ sức khỏe người cao tuổi trên lĩnh vực sản xuất
Phần lớn người cao tuổi ở nước ta vẫn đang tham gia vào các hoạt động kinh
tế để tìm kiếm thu nhập vì vậy mà tình trạng sức khỏe của họ bị giảm sút rất

của người cao tuổi nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa những người cao tuổi
- Tạo mối quan hệ tương hỗ giữa các thế hệ, xóa bỏ mọi sự ngăn cách, hạn
chế sự lệ thuộc của người cao tuổi vào thế hệ trẻ
- Xây dựng các hình thức tổ chức nhằm khuyến khích người cao tuổi dành
dụm, tiết kiệm cho tuổi già
c. Nhóm giải pháp và bảo về và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
- Phát triển những hệ thống dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và chữa trị một
cách hiệu quả các bệnh lý của người cao tuổi
- Khuyến khích các biện pháp chữa bệnh sớm và các biện pháp phòng ngừa
để tránh bệnh tật khi về già và tránh già trước tuổi
- Khuyến khích sự kết hợp giữa các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội
- Xúc tiến các hoạt động hướng dẫn người cao tuổi tự chăm sóc bản thân ở
những nơi cần thiết
- Phát triển tiềm năng và công nghệ câng thiết cho những người cần giáo
dục, chăm sóc về sức khỏe
- Nghiên cứu các bệnh lý liên quan đến tuổi già và có các biện pháp phòng
chống thích hợp


- Phát triển và mở rộng các dịch vụ y tế thuận lợi để người cao tuổi có điều
kiện được chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật
d. Nhóm giải pháp chăm sóc sức khỏe trên lĩnh vực văn hóa, thể dục,
thể thao
- Phát triển và tăng cường việc học tập của người cao tuổi, có những hình
thức đào tạo cho người cao tuổi, xóa bỏ mọi ình thức phân biệt, tạo diều kiện để
người cao tuổi tiếp cận với hệ thống giáo dục
- Xúc tiến việc giáo dục những vấn đề liên quan đến tuổi già đặc biệt là quá
trình lão hóa công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
- Tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi tham gia vào các hoạt động văn
hóa thể dục, thể thao, tham gia vào các tổ chức xã hội và tham gia để đưa ra

đường
2. Chính sách với người cao tuổi
3. Báo người cao tuổi
4. Giáo trình công tác xã hội với người cao tuổi
5. Khảo sát thực trạng người cao tuổi




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status